MỞ ĐẦU
Sau hai mươi năm thực hiện cơ chế chính sách mở cửa của Đảng và Nhà
nước ta, kể từ đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986. Mọi mặt đời sống kinh tế -
xã hội đã được cải thiện vượt bậc, tạo cho Việt Nam một bộ mặt với những
thay đổi to lớn về diện mạo kinh tế mới trong mắt bạn bè quốc tế.
Cùng với sự thay đổi về cơ chế chính sách như vậy, nền kinh tế nước nhà
đã liên tục tăng trưởng qua các năm một cách ổn định và bền vững, tạo nguồn
lực tài chính để thúc đẩy sự phát triển lâu dài. Từ những thành tựu đã đạt được
Nhà nước ta đã không ngừng cải cách, đổi mới hệ thống Ngân sách Nhà nước
cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng
ta đã đề ra, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, giữ vững an ninh tài chính quốc gia, thúc đẩy hội nhập kinh tế, quốc
tế.
Song song với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Ngân sách Nhà nước
là một trong những công cụ quan trọng với tính chất là nội lực cho sự phát
triển của nền kinh tế quốc dân.
Sự tồn tại và phát triển của một Nhà nước luôn luôn cần thiết phải có
nguồn lực tài chính đảm bảo cho hoạt động chi tiêu thường xuyên của những
tổ chức, cơ quan đơn vị thuộc bộ máy quản lý Nhà nước. Để đáp ứng nguồn
kinh phí để đảm bảo cho các hoạt động như; Các cơ quan quản lý Nhà nước,
quân đội, cảnh sát, sự ngiệp văn hoá, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, đầu tư
phát triển kinh tế đất nước thì Nhà nước phải tạo ra các nguồn thu để bảo đảm,
đó là nguồn thu từ các loại thuế và các nguồn khác. Tất cả quá trình thu nộp
và sử dụng nguồn kinh phí đó của Nhà nước đều phải được phản ánh qua
Ngân sách Nhà nước.
1
Ngân sách huyện với tư cách là một bộ phận hữu cơ của Ngân sách Nhà
nước cùng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại phát triển của hệ
thống ngân sách Nhà nước. Nó có chức năng trung gian giữa cấp ngân sách
Trung ương, ngân sách cấp Tỉnh, thành phố và ngân sách cấp xã phường, thị
trấn. Quản lý và phân phối lại nguồn tài chính của địa phương nhận từ ngân
huyện Than Uyên đã giúp em hoàn thành chuyên đề thực tập này. Mong rằng
các bạn đọc đóng góp ý kiến tham gia những khiếm khuyết và thiếu xót trong
đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Than Uyên 01-2007
3
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN SÁCH CẤP HUYỆN.
I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
1. Khái niệm về Ngân sách Nhà nước.
- Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. (4)
2. Nội dung của Ngân sách Nhà nước. (4,5,8)
- Nội dung của Ngân sách Nhà nước gồm các khoản thu và chi. Các
khoản thu bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt
động kinh tế của Nhà nước; các khoản thu đóng góp của các tổ chức và cá
nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Các
khoản chi bao gồm chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm Quốc phòng - An
ninh; chi bảo đảm cho hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà
nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
- Ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung
dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền
hạn với trách nhiệm. Hệ thống ngân sách Nhà nước bao gồm ngân sách Trung
ương và Ngân sách địa phương, Ngân sách địa phương bao gồm Ngân sách
4
sách của các đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân.
- Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa các cấp ngân sách
được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp
về ngân sách cấp trên.
3. Nguyên tắc của Ngân sách Nhà nước. (4,5,8)
- Về thu ngân sách Nhà nước, phải được thực hiện theo quy định của luật
Ngân sách Nhà nước và các quy định khác của pháp luật.
- Về chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Đã có trong dự toán Ngân sách được giao. Trừ trường hợp vào đầu năm
ngân sách, dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách chưa được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định theo quy định thì lập lại dự toán
ngân sách Nhà nước. Trường hợp dự toán ngân sách Nhà nước, phương án
phân bổ Ngân sách Trung ương chưa được Quốc hội quyết định, Chính phủ
lập lại dự toán ngân sách Nhà nước, phương án phân bổ ngân sách Trung
ương trình Quốc hội vào thời gian do Quốc hội quy định. Trường hợp dự toán
Ngân sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách cấp mình chưa được
Hội đồng nhân dân quyết định, Uỷ ban nhân dân lập lại dự toán ngân sách địa
phương, phương án phân bổ ngân sách cấp mình, trình Hội đồng nhân dân vào
thời gian do Hội đồng nhân dân quyết định, tuy nhiên không được chậm hơn
thời hạn do Chính phủ quy định. Trong quá trình chấp hành ngân sách Nhà
6
nước, nếu có sự thay đổi về thu, chi thì thực hiện như sau: Thứ nhất số tăng
thu và tiết kiệm chi so với dự toán được giao được sử dụng để giảm bội chi,
tăng chi trả nợ, tăng chi đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ tài chính, tăng
dự phòng ngân sách. Chính phủ dự kiến phương án sử dụng đối với từng
nhiệm vụ chi, báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi thực
hiện; Uỷ ban nhân dân dự kiến phương án đối với từng nhiệm vụ chi, thống
nhất ý kiến với thường trực Hội đồng nhân dân trước khi thực hiện; đối với
cấp xã, Uỷ ban nhân dân thống nhất ý kiến với chủ tịch và phó chủ tịch Hội
đồng nhân dân trước khi thực hiện. Thứ hai trường hợp số thu không đạt dự
toán được Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định, Chính phủ báo cáo với
Uỷ ban thường vụ quốc hội, Uỷ ban nhân dân báo cáo với thường trực Hội
trưởng và ổn định nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước, bù đắp những khiếm
khuyết của nền kinh tế thị trường, thực hiện tiến trình công bằng xã hội, bảo
vệ môi trường.
- Ngân sách Nhà nước đảm bảo chi thường xuyên cho sự hoạt động của
bộ máy hành chính, đảm bảo công bằng xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải
thiện môi trường sinh thái, giữ gìn an ninh, quốc phòng, bảo vệ chủ quyền đất
nước và trật tự xã hội.
- Ngân sách Nhà nước đầu tư cho sự phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng
ổn định và điều khiển nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Ngoài việc đảm bảo
ngân sách cho chi thường xuyên. Nhà nước cần phải tác động vào quá trình
phát triển kinh tế bằng các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn hoặc kế hoạch dài
8
hạn. Với ý nghĩa đó, tiềm lực tài chính của Nhà nước phải đủ mạnh đảm bảo
cho Nhà nước chủ động thực hiện chính sách tài khoá nới lỏng hoặc thắt chặt,
thực hiện kích cầu đầu tư, tiêu dùng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Hiện nay trong nền kinh tế năng động, thời kỳ kinh tế Việt Nam hội
nhập với các nền kinh tế trên toàn cầu, việc sử dụng Ngân sách Nhà nước để
tác động vào nền kinh tế là hết sức quan trọng. Do đó luật ngân sách cũng cần
phải được sửa đổi, bổ sung cho hoàn thiện để đáp ứng đúng yêu cầu là vài trò
thúc đẩy sự phát triển và ổn định cho một nền kinh tế năng động của nước ta
hiện nay.
Ngân sách Nhà nước với tư cách là một công cụ tài chính vĩ mô sắc
bén, nhạy cảm, hiệu quả để Nhà nước can thiệp, điều chỉnh nền kinh tế. Do
vậy, Nhà nước cần phải nắm chắc cơ chế tác động của thu, chi ngân sách đối
với kinh tế thông qua nhận thức đầy đủ và làm chủ cơ chế tác động của hiệu
ứng kích thích kinh tế của Ngân sách Nhà nước để tăng cường vai trò thúc đẩy
tăng trưởng, ổn định và điều khiển kinh tế vĩ mô của Ngân sách Nhà nước.
- Song song với việc chi đảm bảo cho hoạt động của hệ thống chính trị,
đầu tư cho phát triển đem lại những thành tựu to lớn. Nhiệm vụ quan trọng
không kém là những khiếm khuyết mà nền kinh tế thị trường đã tạo ra là môi
năm tính theo dương lịch và kết thúc vào 31/12 các năm tính theo dương lịch.
10
Niên độ Ngân sách là năm ngân sách chỉ thời gian mà trong đó dự toán
thu, chi ngân sách đã được phê chuẩn, quyết định và thực hiện.
Chu trình của một niên độ ngân sách nước ta; là xây dựng kế hoạch thu
chi ngân sách Nhà nước, chấp hành thực hiện kế hoạch ngân sách Nhà nước
và cuối cùng là kiểm tra quyết toán ngân sách Nhà nước.
8. Phân cấp ngân sách Nhà nước. (4)
8.1 Nguyên tắc phân cấp ngân sách; Nhằm đảm bảo tính chủ động trong
việc quản lý điều hành Ngân sách Nhà nước của từng cấp, phù hợp với thực
tế, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản
lý của mỗi cấp gắn liền với trách nhiệm, quyền hạn của mỗi cấp.
8.2 Nội dung của phân cấp ngân sách; Là phân cấp nội dung thu và các
nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách.
II. NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGÂN SÁCH CẤP HUYỆN
1. Sự tồn tại khách quan của ngân sách huyện.
Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, ngân sách Nhà nước đã xuất
hiện và tồn tại từ lâu. Với chức năng là công cụ tài chính rất quan trọng của
Nhà nước, Ngân sách Nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở hai
tiền đề khách quan là Nhà nước và kinh tế hàng hoá tiền tệ. Nhà nước tất yếu
kéo theo yêu cầu tập trung nguồn lực tài chính vào tay Nhà nước để làm
phương tiện vật chất trang trải, đáp ứng cho các chi phí nuôi sống bộ máy
thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Ngân sách Nhà nước ta đã có từ lâu, song chỉ được thể chế thành Luật
năm 1996 và có hiệu lực từ năm 1997, sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, Luật
ngân sách Nhà nước đã được hoàn thiện và thông qua. Tại kỳ họp thứ 2 khoá
XI của Quốc hội nhằm quản lý ngày càng tốt hơn nền Tài chính Quốc gia,
11
nâng cao tính chất chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong việc quản lý và sử dụng ngân sách Nhà nước, củng cố kỷ luật tài chính,
trung, đó chính là Ngân sách huyện. Mặc dù không thực hiện các nhiệm vụ
quan trọng và các mục tiêu chiến lược như ngân sách Trung ương nhưng Ngân
sách huyện cũng tạo cho mình một vị trí nhất định, nhằm chủ động trong việc
thực hiện chức năng Nhà nước tại ở địa phương tuỳ theo địa giới hành chính,
tình hình kinh tế xã hội của từng huyện mà nhu cầu đảm bảo này sẽ khác
nhau.
Trong thời gian qua, cùng với sự chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế và thay
đổi của đất nước, sự năng động của Chính quyền các cấp cơ sở đã giúp cho
kinh tế nhiều địa phương phát triển mạnh mẽ, đó chính là đóng góp không nhỏ
của ngân sách huyện, nguồn thu không ngừng tăng lên, các khoản chi được
quản lý ngày một chặt chẽ, điều này khẳng định vai trò của ngân sách huyện.
Trong giai đoạn đổi mới hội nhập giao lưu kinh tế quốc tế, tăng cường
vai trò, vị trí ngân sách huyện là hết sức cấp thiết, ngoài việc tăng cường hiệu
lực, hiệu quả hoạt động Nhà nước, ngân sách huyện còn phải hướng cho các
thành phần kinh tế đầu tư phát triển đúng đắn, phát huy nội lực, khai thác có
hiệu quả những tiềm năng thế mạnh của địa phương, giải quyết các nhu cầu
cấp thiết về vấn đề phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, phát triển cơ sở hạ tầng.
Đặc biệt là vấn đề xoá đói giảm nghèo tại các huyện vùng sâu, vùng xa, hải
đảo, biên giới của tổ quốc, đảm bảo sự công bằng giữa các vùng miền, giữ
vững quốc phòng, an ninh xã hội.
13
Có thể nói công tác triển khai thực hiện Luật Ngân sách Nhà nước, ngân
sách huyện ngày càng khẳng định được vai trò, vị trí của mình nhằm thúc đẩy
nền kinh tế - xã hội địa phương tạo bước phát triển đáng kể góp phần thay đổi
diện mạo về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng - an ninh của địa phương,
tạo đà cho đất nước vững bước trong thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, tiến tới công bằng dân chủ văn minh.
3. Nhiệm vụ của ngân sách huyện.
Là một cấp Ngân sách địa phương, ngân sách huyện các nội dung thu và
nhiệm vụ chi cụ thể gắn với việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của cấp
3.1.3 Thu bổ sung cân đối ngân sách.
+ Thu bổ sung có tính chất xây dựng cơ bản.
+ Thu bổ sung cân đối ngân sách.
+ Thu bổ sung chương trình mục tiêu.
3.2 Về chi ngân sách:
15
Chi Ngân sách luôn gắn liền với các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội
mà Nhà nước đảm nhiệm trong từng thời kỳ. Đặc điểm này có thể nhìn ra từ
vai trò của Ngân sách và bản chất Ngân sách Nhà nước. Ngân sách Nhà nước
mang bản chất chính trị, duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước, ổn định phát
triển kinh tế, đảm bảo xã hội ổn định, phát triển. Do vậy nhiệm vụ chi ngân
sách huyện bao gồm:
3.2.1 Chi đầu tư phát triển:
- Đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả
năng thu hồi vốn do địa phương quản lý.
- Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia do
các địa phương thực hiện.
- Chi đầu tư để lại theo Nghị quyết Quốc hội.
- Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật.
3.2.2 Chi thường xuyên.
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã
hội, văn hoá thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công
nghệ, môi trường, các sự nghiệp khác do địa phương quản lý:
+ Sự nghiệp kinh tế bao gồm;
Sự nghiệp giao thông: Duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa cầu, đường và các
công trình giao thông khác; lập biểu báo và các biện pháp đảm bảo an toàn
giao thông trên các tuyến đường.
Sự nghiệp nông nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp: Duy tu, bảo dưỡng các
tuyến kênh mương, các công trình thuỷ lợi, các trạm nông nghiệp, lâm nghiệp,
16
- Trợ giá theo chính sách Nhà nước.
- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
3.2.3 Chi bổ sung cân đối ngân sách cho cấp dưới
- Bổ sung cân đối chi thường xuyên cho cấp xã, phường, thị trấn và các
nguồn vốn do cấp trên phân bổ qua ngân sách huyện.
4. Nội dung quản lý Ngân sách Huyện.
Qua các nội dung đã nghiên cứu về Ngân sách huyện đã nêu ở trên gồm
các khoản thu và nhiệm vụ chi. Tuy nhiên, để quản lý Ngân sách một cách
khoa học, đúng theo luật Ngân sách Nhà nước các quy định của pháp luật, các
nghị định của chính phủ, thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính và các văn bản
của địa phương thì quản lý Ngân sách huyện bao gồm các bước sau:
- Lập dự toán Ngân sách huyện.
- Chấp hành Ngân sách huyện.
- Kế toán và quyết toán Ngân sách huyện.
Quản lý Ngân sách huyện là quá trình quản lý hệ thống các quan hệ
kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân bổ và sử dụng quỹ tiền tệ của
chính quyền Nhà nước cấp huyện; quản lý các khoản thu, chi của huyện đã dự
toán bởi Uỷ ban Nhân dân huyện giao và được thực hiện trong một năm để
18
đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cấp trên giao và Hội đồng
nhân dân huyện đề ra.
4.1 Lập dự toán Ngân sách huyện.
4.1.1 Yêu cầu của việc lập dự toán.
Dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm được lập căn cứ vào nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh. Việc lập dự toán
ngân sách huyện cũng không nằm ngoài những điều kiện trên.
Các khoản thu trong dự toán phải được xác định trên cơ sở tăng trưởng
kinh tế, các chỉ tiêu có liên quan và các quy định của pháp luật về thu ngân
sách.
Các khoản chi ngân sách trong dự toán ngân sách phải được xác định trên
+ Đối với chi đầu tư phát triển, việc lập dự toán phải căn cứ vào các dự
án phù hợp với quy hoạch được duyệt, những dự án có đủ điều kiện bố trí vốn
theo quy định của quy chế quản lý vốn đầu tư xây dựng và phù hợp với khả
năng bố trí ngân sách hàng năm, kế hoạch tài chính 5 năm; đồng thời ưu tiên
bố trí đủ vốn phù hợp với tiến độ triển khai các chương trình, dự án đã được
cấp có thẩm quyền phê duyệt.
20
+ Đối với chi thường xuyên, với việc lập dự toán phải tuân theo các
chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức do các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền quy định trong đó.
Hội đồng nhân dân huyện căn cứ vào định mức phân bổ chi ngân sách địa
phương do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định, ban hành định mức phân bổ dự
toán chi ngân sách cho các cơ quan, đơn vị, các xã, phường, thị trấn trực thuộc
huyện.
Đối với các đơn vị sử dụng ngân sách, phải lập dự toán thu, chi ngân sách
thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, gửi cơ quan cấp trên trực tiếp.
Cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp (thường không phải là đơn vị dự toán cấp I)
xem xét, tổng hợp do đơn vị cấp dưới trực thuộc gửi đơn vị dự toán cấp I.
Các tổ chức được Ngân sách Nhà nước trợ cấp kinh phí phải lập dự
toán thu, chi ngân sách phạm vi nhiệm vụ được giao gửi cơ quan Tài chính
- Kế hoạch cấp huyện.
Đối với các cơ quan hành chính thực hiện chế độ khoán biên chế và kinh
phí quản lý hành chính và các đơn vị sự nghiệp có thu, việc lập dự toán thực
hiện theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
+ Đối với chi trả nợ, đảm bảo bố trí trả đủ các khoản nợ đến hạn (kể cả
gốc và lãi) theo đúng nghĩa vụ trả.
+ Đối với vay bù đắp thiếu hụt Ngân sách Nhà nước, việc lập dự toán
phải căn cứ vào cân đối ngân sách, khả năng từng nguồn vay, khả năng trả nợ
và mức bội chi ngân sách theo quy định của cấp có thẩm quyền.
Sau khi Hội đồng Nhân dân huyện ban hành định mức phân bổ dự toán
đồng gửi Sở Tài chính - Vật giá, Sở Kế hoạch - Đầu tư .
4.1.4 Phân bổ, giao dự toán Ngân sách huyện.
Sau khi Uỷ ban nhân dân huyện nhận được quyết định về việc phân bổ
dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước của Uỷ ban nhân dân tỉnh, phòng Tài
chính - Kế hoạch huyện có nhiệm vụ tham mưu giúp cho Uỷ ban nhân dân
huyện trình Hội đồng nhân dân huyện ra Nghị quyết phê chuẩn dự toán thu,
chi Ngân sách huyện. Căn cứ vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện,
Uỷ ban nhân dân huyện ra quyết định về việc giao dự toán thu, chi Ngân sách
cho từng cơ quan, đơn vị thụ hưởng ngân sách địa phương và dự toán thu, chi
Ngân sách cho từng xã, thị trấn.
4.1.5 Điều chỉnh dự toán Ngân sách.
Hàng năm, khi có một số nhiệm vụ phát sinh đột xuất nằm ngoài dự toán
tại các cơ quan đơn vị dự toán. Các đơn vị có nhiệm vụ phát sinh này lập tờ
trình nộp phòng Tài chính - Kế hoạch huyện tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân
dân huyện xem xét trình Hội đồng Nhân dân dân huyện tại kỳ họp hội đồng
nhân dân gần nhất phê duyệt. Sau khi có nghị quyết phê chuẩn của Hội đồng
nhân dân huyện, Uỷ ban nhân dân huyện ra quyết định điều chỉnh, bổ sung dự
toán ngân sách cho các cơ quan đơn vị, các xã , thị trấn.
4.2 Chấp hành Ngân sách huyện.
Sau khi được Uỷ ban nhân dân huyện tiến hành ra quyết định giao dự
toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc. Phòng Tài chính
- Kế hoạch căn cứ vào quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện thông báo phân
bổ dự toán ngân sách gửi cho các đơn vị trực thuộc; đồng thời gửi Phòng Tài
chính - Kế hoạch, Kho bạc Nhà nước huyện để phối hợp thực hiện.
23
Khi nhận được quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện Than Uyên, thông
báo của phòng Tài chính - Kế hoạch huyện. Các cơ quan đơn vị, các xã, thị
trấn tổ chức triển khai ngay công tác thu, chi ngân sách Nhà nước thuộc nhiệm
vụ được giao.
Về thực hiện nhiệm vụ thu Ngân sách chỉ cơ quan tài chính, cơ quan
năm để chi; các khoản chi có tính chất thời vụ hoặc mua sắm, sửa chữa lớn
được bố trí trong thời điểm kinh phí ngân sách đáp ứng được thì thực hiện.
Chi đầu tư phát triển phải đảm bảo cấp đúng và đủ theo tiến độ thực hiện
trong phạm vi tổng mức dự toán được giao.
Đối với những dự án, nhiệm vụ chi quan trọng, đột xuất cấp thiết thì được
tạm ứng trước dự toán để thực hiện.
Về nhiệm vụ chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia; chi mua sắm,
sửa chữa lớn, chi sự nghiệp kinh tế, dự toán năm giao cho các đơn vị sử dụng
còn được phân theo tiến độ từng quý.
Dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản được phân bổ chi tiết theo từng
loại và các hạng mục của Mục lục Ngân sách Nhà nước phân bổ bằng thông
báo hạn mức vốn đầu theo tiến độ thực hiện.
Khi phân bổ dự toán ngân sách được giao, cơ quan, đơn vị phân bổ dự
toán chi phải đảm bảo bố trí đủ vốn, kinh phí cho các dự án, nhiệm vụ đã được
chi ứng trước dự toán nhưng đồng thời phải phân bổ hết dự toán ngân sách
được giao. Trường hợp có các nhiệm vụ chi chưa xác định được rõ đơn vị thực
25