Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, đái tháo đường đã và đang trở thành một
vấn đề sức khỏe toàn cầu với số lượng bệnh nhân ngày càng gia tăng, đặc biệt
ở những nước đang phát triển cũng như một vài dân tộc thiểu số trên toàn thế
giới [2,46]. Ở Mỹ, theo báo cáo mới nhất, đái tháo đường hiện được phát hiện
trên 21 triệu người và tùy theo tuổi, chủng tộc, nguy cơ bị đái tháo đường dao
động từ 20-50% [63]. Tại Việt Nam, theo điều tra dịch tễ học của PGS-TS Tạ
Văn Bình, bệnh viện Nội tiết năm 2001, trong 4 thành phố lớn Hà Nội, Huế,
Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, tỷ lệ bệnh đái tháo đường là 4%, riêng
quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) lên tới 7%. Phần lớn người bệnh phát hiện và điều
trị muộn trong khi hệ thống dự phòng, phát hiện bệnh sớm chưa hoàn thiện.
Vì vậy, mỗi năm có trên 70% bệnh nhân không được phát hiện và điều trị. Tỷ
lệ mang bệnh đái tháo đường trong lứa tuổi 30-64 là 2,7% ở vùng đồng bằng,
ven biển [3]. Hiện trên thế giới ước lượng có hơn 190 triệu người mắc bệnh đái
tháo đường và số này tiếp tục tăng lên. Ước tính đến năm 2010, trên thế giới có
221 triệu người mắc bệnh đái tháo đường. Năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người
(gần 6% dân số toàn cầu). Tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%,
nhưng ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) sẽ là 170% [58]
Đái tháo đường nếu không được phát hiện sớm sẽ gây ra rất nhiều biến
chứng nguy hiểm ảnh hưởng đến chất lượng sống, thậm chí tính mạng của
người bệnh. Tăng đường huyết và các biến chứng cấp tính là các lý do chính
buộc bệnh nhân đái tháo đường phải nhập viện. Các bằng chứng gần đây đều
chứng minh tình trạng tăng đường huyết là một yếu tố nguy cơ ảnh hưởng xấu
đến tiên lượng của bệnh nhân đái tháo đường khi có bệnh lý cấp tính đi kèm
[47]. Chính vì vậy, việc kiểm soát đường máu chặt chẽ trên các bệnh nhân
này đã đem lại rất nhiều lợi Ých đối với người bệnh, trong đó một số phác đồ
1
truyền insulin theo đường tĩnh mạch đã được đưa ra khuyến cáo sử dụng
trong thực tế lâm sàng [5]. Vai trò của insulin dùng đường tĩnh mạch trong
các tình huống cấp cứu ở bệnh nhân đái tháo đường là rất rõ ràng [1,5]. Tuy
nhiên khi các bệnh nhân này đã được cấp cứu, điều trị chuyển sang dùng
đường và số này tiếp tục tăng lên. Ước tính đến năm 2010, trên thế giới có
221 triệu người mắc bệnh tiểu đường. Năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người
(gần 6% dân số toàn cầu). Tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%,
nhưng ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) sẽ là 170% [58].
3. Triệu chứng lâm sàng [4,9]:
Triệu chứng lâm sàng của bệnh đái tháo đường điển hình bao gồm: đái
nhiều, khát nhiều, uống nhiều, gầy sút cân, mờ mắt, đôi khi ăn nhiều chóng
đói thường gặp ở bệnh nhân mắc đái tháo đường trẻ tuổi (týp 1).
Triệu chứng lâm sàng xuất hiện khi đường huyết tăng cao và vì vậy vấn
đề chẩn đoán không khó khăn và thường quá muộn với nhiều biến chứng.
3
- Nhiều trường hợp phát hiện đái tháo đường do tình cờ khám sức khoẻ định
kỳ hoặc vào viện vì lý do khác: Tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim,
tăng huyết áp, chấn thương, mờ đục thuỷ tinh thể
- Nhiều trường hợp đến muộn các triệu chứng lâm sàng không điển hình
trong khi đó nổi bật các triệu chứng của các biến chứng nặng nề: biến chứng
tim mạch, bệnh lý thần kinh ngoại vi, nhiễm trùng, biến chứng chuyển hoá rất
Ýt
4. Phân loại ĐTĐ [77]:
4.1. Đái tháo đường týp 1: Do tế bào bêta bị phá huỷ dẫn tới thiếu hụt Insulin
hoàn toàn, thường có 2 cơ chế được đề cập.
- Tự miễn
- Không rõ nguyên nhân
4.2. Đái tháo đường týp 2: Có cơ chế kháng Insulin hoặc cả hai.
4.3. Đái tháo đường thái nghén: Đái tháo đường khởi phát trong khi mang thai.
4.4. Thể đặc biệt khác:
+ Thể MODY:
MODY 1: tổn thương NST 20. HNF4α
MODY 2: tổn thương NST 7. Glucokinase
MODY 3: tổn thương NST 12. HNF1α
trong vòng Ýt nhất 8 giê*
3. Đường máu 2 giê sau khi làm nghiệm pháp tăng đường huyết >11.1mmol/l
(200mg/dl). Nghiệm pháp được làm theo đúng quy trình của WHO, sử dụng
75g glucose hòa vào trong 250ml nước để uống*
4. Đường máu bất kỳ thời điểm nào >11.1mmol/l kèm theo triệu chứng kinh
điển của đái tháo đường nh khát nhiều, uống nhiều, đái nhiều, gầy nhiều.
*Nếu bệnh nhân không có các triệu chứng rõ ràng của đái tháo đường thì các
tiêu chuẩn 1-3 cần được xét nghiệm lại (có thể sử dụng lại 1 trong 3 tiêu
chuẩn bất kỳ) [77].
II. Tăng đường huyết cấp ở bệnh nhân đái tháo đường:
5
Đái tháo đường làm tăng nguy cơ bị một số bệnh lý: tai biến mạch não,
nhồi máu cơ tim, bệnh lý mạch máu ngoại vi, nhiễm khuẩn, suy thận và cắt
cụt chi. Hiện nay, tại đa số các cơ sở y tế không chuyên khoa việc điều trị
kiểm soát đường huyết vẫn chỉ là thứ yếu sau những bệnh lý khiến bệnh nhân
phải nhập viện nói trên. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc kiểm soát
tốt đường huyết ở các bệnh nhân nhập viện nội trú sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong
và thời gian nằm điều trị [1,81,83].
Đối với các bệnh nhân điều trị nội trú, tăng đường máu xảy ra sẽ nằm
vào 1 trong 3 nhóm sau:
- Các bệnh nhân có tiền sử đái tháo đường từ trước nay nhập viện vì lý do
khác
- Các bệnh nhân chưa có tiền sử đái tháo đường và được phát hiện đái tháo
đường trong lần nhập viện này
- Các bệnh nhân tăng đường huyết cấp (do stress) và đường máu trở về bình
thường sau khi xuất viện.
Năm 1998, Levental cùng CS trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra 13%
các bệnh nhân phải nhập viện nội trú có tăng đường máu >11.1mmol/l [50].
Tỷ lệ các bệnh nhân đái tháo đường trong số các bệnh nhân nội trú ở Mỹ vào
năm 2000 ước tính là khoảng 12.4% với thời gian nằm viện trung bình là 5.4
trung tính của người [40]. Các bằng chứng liên quan giữa tăng đường máu và
cơ chế miễn dịch không chri tập trung vào các bạch cầu hạt trung tính mà còn
cả các lympho bào. Cơ thể bình thường khi có tăng đường máu sẽ gây ra phản
ứng ức chế sản xuất các lympho bào với tất cả các dòng [46]. ở các bệnh nhân
bị đái tháo đường, tăng đường huyết sẽ dẫn tới ức chế sản xuất các lympho
bào T bào gồm cả TCD4 và TCD8. Các bất thường này sẽ trở về bình thường
khi kiểm soát tốt đường huyết [18].
Các nghiên cứu trên chứng minh rằng có mối liên quan giữa đái tháo
đường và chức năng của hệ thống miễn dịch và khi kiểm soát tốt đường máu
bằng các cách khác nhau sẽ cải thiện được chức năng chống nhiễm khuẩn của
cơ thể.
1.1.2 Tăng đường máu và hệ tim mạch
7
Tăng đường huyết cấp gây ra rất nhiều tác dụng phụ có hại trên hệ
thống tim mạch. Tăng đường huyết là một yếu tố nguy cơ gây thiếu máu cơ
tim và giảm các cơ chế bảo vệ khi có thiếu máu [44]. Tăng đường máu lên rất
cao đã được chứng minh làm giảm tưới máu mạch vành [45]. Tăng đường
huyết cấp có thể gây tổn thương tế bào cơ tim do cơ chế chết theo chương
trình (apoptosis) hay làm gia tăng tổn thương thiếu máu cục bộ [22,86]. Các
biến đổi khác về hệ tim mạch được nhận thấy ở các bệnh nhân đái tháo đường
là tăng huyết áp, tăng nồng độ catecholamine, rối loạn chức năng tiểu cầu và
các biến đổi điện sinh lý. Marfella cùng cộng sự đã ghi nhận có sự gia tăng
nồng độ endothelin, tăng huyết áp tâm thu và tâm trương khi có tăng đường
huyết cấp ở các bệnh nhân đái tháo đường typ 2 [55]. Một số các nghiên cứu
khác cũng ghi nhận mối liên quan giữa tăng đường huyết cấp với sự gia tăng
độ nhớt máu, tăng huyết áp và tăng nồng độ BNP [23].
1.1.3. Tăng đường máu và sự hình thành huyết khối
Rất nhiều các nghiên cứu đã ghi nhận ảnh hưởng của tăng đường huyết
cấp lên quá trình đông máu, tạo thuận lợi cho sự hình thành huyết khối [35].
Ví dụ như tăng đường máu cấp ở chuột làm giảm hoạt động tiêu sợi huyết,
dẫn tới tăng kết dính tế bào vào thành mạch, tăng tính thấm, tăng quá trình
viêm cũng như gia tăng hình thành huyết khối. Các nghiên cứu trên người đã
chỉ ra rằng tăng đường máu cấp ở mức 7.9 - 16.7mmol/l sẽ gây ra các rối loạn
nội mạc [33,79,91]. Một cơ chế được ghi nhận là tăng đường máu sẽ làm thay
đổi chức năng nội mạc thông qua sự ức chế hoạt hóa nitric oxide [20].
1.1.6 Tăng đường máu và stress oxy hóa
Stress oxy hóa xảy ra khi sự hình thành các gốc oxy phản ứng
(Reactive oxygen species - ROS) vượt quá khả năng của cơ thể để trung hòa
chúng. Tăng đường huyết cấp sẽ làm gia tăng nồng độ các ROS theo rất nhiều
cơ chế khác nhau [31]. Trong nghiên cứu invitro, các tế bào nội mạc phản ứng
với sự gia tăng đường máu bằng ức chế tổng hợp nitric oxide và gia tăng hình
thành các anion superoxide [20]. Sự tăng sinh ROS sẽ gây ra hoạt hoá các yếu
tố chuyển dạng, yếu tố tăng trưởng cũng như các mediator thứ phát gây tổn
thương mô và tế bào xung quanh. Trong hầu hết các nghiên cứu, các bất
9
thường này sẽ trở về bình thường khi kiểm soát tốt đường huyết
[31,38,73,79,91].
2. Các nghiên cứu về tác hại của tăng đường huyết:
Tăng đường huyết khi gặp bệnh lý cấp tính (tăng đường huyết cấp hay
stress đái tháo đường) là hậu quả của rất nhiều các yếu tố bao gồm sự gia tăng
nồng độ cortisol, catecholamine, glucagon, GH, tăng tân tạo đường, tăng phân
hủy glycogen [59]. Sự đề kháng insulin cũng là một yếu tố thúc đẩy được ghi
nhận ở >80% các bệnh nhân có bệnh lý cấp tính nặng [72].
Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng tăng đường huyết không kiểm soát
được sẽ dẫn tới những hậu quả nặng nề.
Bệnh nhân với bệnh lý nội khoa hay ngoại khoa nằm tại ICU: nghiên
cứu tiến hành trên 1826 bệnh nhân có bệnh lý nội khoa hay ngoại khoa phải
nằm điều trị tại ICU có kết quả cho thấy các bệnh nhân tử vong khi so sánh
với nhóm bệnh nhân sống sót có đường máu lúc nhập viện cao hơn (9.7 so với
8.4mmol/l), đường máu trung bình cao hơn (9.5 so với 7.7mmol/l) và đường
- Nghiên cứu của Pusinelli, Jorgenson, và Weir và cộng sự thấy rằng mức
đường máu > 120mg/dl (6.67mmol/l), 108mg/dl (6mmol/l) và 144mg/dl
(8mmol/l), tương ứng, làm tăng mức độ nghiêm trọng vầ tỷ lệ tử vong ở
những bệnh nhân đột quỵ cấp tính.
Chấn thương: các bệnh nhân có tăng đường huyết sau chấn thương có
tỷ lệ tử vong , tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện cao hơn, thời gian nằm viện, thời
gian điều trị tại đơn vị hồi sức tích cực (ICU) dài hơn so với nhóm đường
huyết bình thường [14]. Nghiên cứu của Sung cùng cộng sự [76] trên 1003
bệnh nhân chấn thương đã ghi nhận các bệnh nhân tăng đường huyết so với
nhóm bệnh nhân đường huyết bình thường có tỷ lệ tử vong cao hơn (26% so
với 12%) và tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện cao hơn (52% so với 32%), ngoài ra
nhóm chấn thương sọ não kèm theo tăng đường huyết còn có tỷ lệ biến chứng
thần kinh và áp lực nội sọ cao hơn [41,71]. ở các bệnh nhân chấn thương sọ
não nặng, tăng đường huyết lúc nhập viện (đường máu >9.4mmol/l) là một
yếu tố tiên lượng độc lập sự suy giảm thang điểm Glasgow sau ngày thứ 5.
Hơn nữa, sự liên quan giữa tăng đường huyết và các biến chứng trên bệnh
nhân chấn thương không lệ thuộc vào việc tăng đường huyết xuất hiện ở thời
điểm lúc nhập viện hay trong suốt thời gian nằm viện tại ICU [14,41].
III. Insulin [11]:
11
1. Đại cương:
Insulin người là một polypeptide bao gồm một chuỗi A với 21 acid
amin và một chuỗi B với 30 acid amin, có một cầu nối disulfur trong chuỗi A
và 2 cầu nối disufur nối giữa hai chuỗi A và B. Insulin ban đầu được tổng hợp
ở dạng “preproinsulin” (tiền insulin) trên ribosome trong tế bào beta trong đảo
Langerhans của tuyến tụy. Preproinsulin là một phân tử dạng thẳng bao gồm:
một peptide tín hiệu chứa 24 acid amin (SP), chuỗi B, peptide C với 31 acid
amin (C) và chuỗi A nối với nhau theo thứ tự SP-B-C-A. Khi vận chuyển qua
lưới nội chất, peptide tín hiệu bị phân cắt tạo ra proinsulin (B-C-A).
Proinsulin hình thành cầu nối disulfur trong lưới nội chất, hình thành cấu trúc
- Đái tháo đường trên bệnh nhân đang dùng corticoid
3. Các loại insulin [53]:
3.1. Theo nguồn gốc: từ bò, lợn, cừu hay insulin tổng hợp. Hiện nay insulin
tổng hợp nhờ công nghệ tái tổ hợp DNA đã thay thế hoàn toàn insulin động
vật. Eli Lilly, Pfizer và Sanofi Aventis hiện sử dụng E.Coli không gây bệnh
để tổng hợp insulin trong khi Novo Nordisk sử dụng Saccharomyces và nấm
men để tổng hợp
3.2. Theo thời gian tác dụng: dựa vào dược động học của insulin, chia insulin
thành các nhóm khác nhau [53]:
Loại insulin
Bắt đầu tác
dụng
Tác dụng tối
đa
Hết tác
dụng
Insulin rất nhanh (Lispro,
Glulisine, Aspart)
15p 45-90p 3-5h
Insulin nhanh (Regular,
Actrapid)
~ 1h 2-4h 4-8h
Insulin trung gian (NPH,
Lent, Latard)
1-3h 6-8h 12-22h
13
Insulin chậm (Ultralente) ~ 4-8h 8-20h 24-48h
Insulin hốn hợp (Mixtard) ~ 30p Tùy sự kết hợp 18-30h
Insulin nền (Glargine)
Insulin nền (Detemir)
bằng lysine và B29 lysine bằng glutamate.
+ Insulin lispro (Humanlog-Eli Lilly and Company): thay đổi vị trí của lysine
và praline ở đầu tận C của chuỗi B do đó block sự hình thành insulin dimmer
và hexamer làm tăng nồng độ insulin monomer đi vào hệ tuần hoàn
+ Các insulin này giống nhau về tính chất dược động học: thời gian khởi phát
tác dụng chỉ sau 15 phút, đỉnh 45-90p và kéo dài 3-5h
+ Tuy nhiên, khi tiêm tĩnh mạch các insulin analogue ko có ưu điểm gì hơn so
với insulin người
3.2.2. Insulin bán chậm:
- Insulin NPH
+ Biệt dược hay dùng: Insulatard HM (Novo Nordisk) lọ 100UI/ml x 10ml
+ Là hỗn dịch insulin người sinh tổng hợp trung tính loại isophane
+ Chỉ dùng tiêm dưới da
+ Bắt đầu tác dụng trong vòng 60-90p, peak 4-12h, kéo dài 24h
- Insulin Lente và Ultralente đã được rót ra khỏi thị trường Mỹ từ 2005
3.2.3. Insulin hỗn hợp:
- Là hỗn hợp insulin regular và NPH hoặc Lente, khi tiêm dưới da sẽ có 2 pha
tác dụng là pha nhanh và pha chậm
- Tỷ lệ pha có thể là 50/50 hoặc 30/70 (hay dùng hơn)
3.2.4. Insulin nền [11,69]:
- Glargine [69]:
+ Là insulin glargine có tác dụng kéo dài, không có tác dụng đỉnh có vai trò
duy trì nồng độ insulin nền trong máu.
+ Cơ chế do sù thay đổi điểm đẳng điện, thay đổi pH tối ưu hòa tan protein từ
acid sang trung tính (5.4 lên 6.8): ở trong lọ thuốc pH acid, glargine hòa tan,
khi tiêm dưới da là môi trường trung tính insulin glargine két tủa thành các vi
tinh thể phóng thích từ từ.
15
+ Tiêm dưới da ngày 1 lần vào 1 thời điểm nhất định : vào buổi tối hay buổi
sáng trước hoặc sau bữa ăn
+ 1 mòi NPH trước khi đi ngủ. Có thể thêm 1 mòi NPH vào buổi sáng cùng
với mũi regular đầu tiên và dịch mũi NPH trước khi đi ngủ thành NPH kết
hợp regular vào trước bữa tối.
- Truyền liên tục insulin dưới da được chỉ định khi:
+ Không đạt được mục tiêu khi đã tiêm nhiều mũi insulin trong ngày
+ Tiền sử thường xuyên bị hạ đường huyết
+ Phụ nữ có thai
+ Bệnh nhân nhạy cảm nhiều với insulin
+ Bệnh nhân tiền sử có hiện tượng ”rạng đông”
- Các bệnh nhân đái tháo đường typ 1 cần kiểm soát đường huyết tích cực do
nguy cơ cao xuất hiện các biến chứng thần kinh, thận, võng mạc
- Cần theo dõi đường huyết Ýt nhất 03 lần/ngày, luôn kiểm tra đường huyết
trước các mũi tiêm hay trước khi thay đổi liều lượng truyền
- Cần kiểm tra đường huyết thường xuyên hơn khi có bệnh lý cấp, kiểm tra
cetone niệu ngay khi đường huyết >250mg/dl
4.1.2. Đái tháo đường type 2 [11,65]:
- Liều insulin dao động 0.3-2UI/kg/ngày
- Nguyên tắc chung: liều thấp, tăng dần, tùy đáp ứng của bệnh nhân qua
đường huyết lúc đói và đường huyết sau ăn
- Liều khởi đầu: 0.25-0.5 UI/kg/ngày căn cứ theo đường máu để tăng giảm
liều.
- Luôn theo dõi và điều chỉnh liều lượng các thuốc, insulin sử dụng nhằm đạt
được mục tiêu
17
- Bệnh nhân chưa đạt được mục tiêu cần theo dõi đường huyết Ýt nhất 2
lần/ngày, các bệnh nhân đã đạt mục tiêu cần theo dõi Ýt nhất 01 lần/ngày
- Cần kiểm tra đường huyết thường xuyên hơn khi có bệnh lý cấp, kiểm tra
cetone niệu ngay khi đường huyết >250mg/dl (13.75mmol/l)
4.2 Đường dùng [11,16,53,68]:
- Đường tiêm:
thuốc uống
- Thích hợp với người già
4.3.2. Phác đồ 2 mũi/ngày [11,36]:
- Tiêm sáng, tối trước khi ăn 30p
- Dùng Insulin NPH, Mixtard (30/70)
- Đa số bệnh nhân có đáp ứng tốt
- Chỉ định cho những bệnh nhân có chế độ ăn và luyện tập ổn định
- Không phải tiêm quá nhiều lần trong ngày
- Không gây tăng cân quá nhiều
- Thích hợp với người già, suy thận
- Chuyển phác đồ khác nếu điều trị thất bại, chế độ sinh hoạt thất thường, có
thai, biến chứng nặng.
4.3.3. Phác đồ điều trị insulin tích cực [11,15,68]:
- Đặc điểm:
+ Kiểm soát được đường huyết trong 24h
+ Kiểm soát đường huyết tại nhiều thời điểm (đói, sau ăn 2h)
+ Giống bài tiết Insulin sinh lý
+ Thay đổi được liều tại mỗi thời điểm để đạt mục tiêu điều trị
+ Gây tăng cân nhiều
19
+ Phải tiêm nhiều lần trong ngày
- Phác đồ 3 mũi/ngày:
+ Cách 1: 2 mòi insulin nhanh (sáng trưa trước bữa ăn 30p) + 1 mòi insulin
NPH, Mixtard (chiều trước ăn 30p)
+ Cách 2: 1 mòi insulin nhanh (sáng trước bữa ăn 30p) + 2 mòi insulin NPH,
Mixtard (trưa, chiều trước ăn 30p)
- Phác đồ 4 mũi/ngày:
+ 3 mòi insulin nhanh (sáng, trưa, chiều trước bữa ăn 30p)
+ 1 mòi insulin NPH/Lente/Glargine trước khi đi ngủ (9-10h đêm)
5. Tác dụng phụ [53]:
2. Cách thức truyền insulin tĩnh mạch [15,16,17]
Khi dùng insulin theo đường tĩnh mạch tác dụng hạ đường huyết sẽ
được khởi phát ngay lập tức, thời gian bán hủy của insulin trong máu là 9
phót do đó thời gian tác dụng chỉ kéo dài trong khoảng 45 phót.
Có rất nhiều phác đồ khác nhau được đưa ra để sử dụng insulin đường
truyền tĩnh mạch [28,36,37,54,57,80,83,89,91]. Trong đó một phác đồ hoàn
hảo phải đảm bảo các yếu tố nh: Ýt nguy cơ gây hạ đường huyết, dễ sử dụng
trong bệnh viện, dễ dàng theo dõi và điều chỉnh liều cũng nh có chi phí hiệu
quả. Với các tiêu chuẩn trên thì chỉ một số Ýt phác đồ đáp ứng được.
2.1. Nồng độ pha insulin
Insulin thường được pha truyền tĩnh mạch cùng dung dịch muối sinh lý
theo tỷ lệ 1-1 hoặc 0.5-1. Dịch truyền này sẽ được nối vào chạc ba trên dây
truyền tĩnh mạch với tốc độ truyền có thể duy trì Ýt nhất 40ml/h. Tốc độ
truyền được kiểm soát bởi một bơm truyền (hay sử dụng bơm tiêm điện để dễ
dàng điều chỉnh tốc độ truyền). Bơm tiêm điện phải đảm bảo có thể điều
chỉnh tốc độ truyền tăng hay giảm ở mức 0.1U/h.
2.2. Theo dõi đường máu
21
Đường máu nên được theo dõi thường xuyên trong khi truyền insulin
và sử dụng phương pháp xét nghiệm đường máu mao mạch nhanh tại giường.
Tần suất kiểm tra đường máu nên tuân thủ theo từng phác đồ truyền insulin cụ
thể. Hầu hết các phác đồ đều khuyến cáo kiểm tra đường máu mao mạch 1
giờ/lần, cho đến khi đường máu ổn định có thể chuyển sang theo dõi 2
giờ/lần, không khuyến cáo kiểm tra đường máu 4 giờ/lần.
2.3. Mục tiêu duy trì đường máu khi truyền insulin [16,17,29,60]
Mục tiêu đường máu được duy trì khi truyền insulin đường tĩnh mạch
tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể. Với các bệnh nhân có bệnh lý ngoại
khoa nằm ở ICU, theo nghiên cứu của Van den Berghe [83] cho thấy mức
đường máu 80-100mg/dl (4.4-5.5 mmol/l) có tiên lượng tốt hơn so với nhóm
kiềm soát đường huyết thông thường (180-200mg/dl - 9.9-11 mmol/l). Nghiên
2001. Phác đồ này sử dụng insulin truyền tĩnh mạch để duy trì đường máu nằm
trong giới hạn 80-110mg/dl (4.4-5.5 mmol/l). Hạ đường huyết gặp với tỷ lệ
5.2% các bệnh nhân. Không có bệnh nhân nào có biểu hiện co giật. Việc sử
dụng phác đồ này đòi hỏi y tá phải theo dõi và tự điều chỉnh tốc độ truyền.
Chính vì quá phức tạp nên việc sử dụng phác đồ này trong ICU hiện rất hạn
chế.
Xét nghiệm Đường máu
Kiểm tra đường
máu lúc nhập
viện ICU
>12.1 mmol/l
6.1-12.1 mmol/l
<6.1 mmol/l
Bắt đầu truyền insulin 2-4 UI/h
Bắt đầu truyền insulin 1-2 UI/h
Không truyền insulin; tiếp tục theo dõi
đường máu
Theo dõi >7.7 mmol/l Tăng tốc độ truyền insulin 1-2 UI/h
23
đường máu mỗi
1-2 giê cho đến
khi đường máu
về bình thường
6.1-7.7 mmol/l
<6.1 mmol/l
Tăng tốc độ truyền insulin 0.5-1 UI/h
Điều chỉnh tốc độ truyền từ 0.1-0.5
UI/h
Kiểm tra đường
máu mỗi 4 giê
Cột 1 Cột 2 Cột 3
Đường máu
(mmol /l)
Truyền
insulin
Đường máu
Truyền
insulin
Đường máu
Truyền
insulin
<3.9 Không <3.9 Không <3.9 Không
3.9 - 4.4 Không 3.9 - 4.4 Không 3.9 - 4.4 Không
4.5 - 5.0 Không 4.5 - 5.0 Không 4.5 - 5.0 Không
5.1 - 5.5 Không 5.1 - 5.5 Không 5.1 - 5.5 0.5
5.6 - 6.0 Không 5.6 - 6.0 0.5 5.6 - 6.0 1
6.1 - 7.1 0.5 6.1 - 7.1 1 6.1 - 7.1 1.5
7.2 - 8.3 1 7.2 - 8.3 1.5 7.2 - 8.3 2
8.4 - 9.9 1.5 8.4 - 9.3 2 8.4 - 9.9 3
10 - 11.6 2 9.4 - 10.4 2.5 10 - 11.6 4
11.7 - 14.9 3 10.5 - 11.6 3 11.7 - 13.2 5
15.0 - 18.2 4 11.7 - 13.9 4 13.3 - 14.9 6
18.3 - 21.5 5 14.0 - 16.5 5 15.0 - 16.5 7
≥ 21.6 6 16.6 - 18.9 6 16.6 - 18.2 8
19.0 - 21.5 7 18.3 - 19.8 9
≥ 21.6 8 19.9 - 21.5 10
≥ 21.6 11
Cột 4 Cột 5 Cột 6
Đường máu
(mmol /l)