Vai trò của giá cả tài sản trong khuôn khổ lạm phát mục tiêu linh hoạt - Pdf 12

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2011”
TÊN CÔNG TRÌNH: GIÁ CẢ TÀI SẢN TRONG KHUÔN KHỔ LẠM PHÁT
MỤC TIÊU LINH HOẠT
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: MỐI LIÊN HỆ GIỮA GIÁ CẢ TÀI SẢN VÀ LẠM PHÁT. NHỮNG
HI
ỂU BIẾT BAN ĐẦU VỀ CHÍNH SÁCH “DỰA THEO CHIỀU GIÓ”: 1-6
1.1 Các định nghĩa: 1
1.1.1 L
ạm phát mục tiêu: 1
1.1.2 L
ạm phát mục tiêu linh hoạt: 1
1.1.3 Chính sách ph
ản ứng dựa theo chiều gió (LATW): 1
1.1.4 Sai l
ệch trong giá tài sản (APM): 1
1.2 Mối liên hệ giữa giá tài sản và lạm phát: 1-3
1.2.1 Tỷ giá hối đoái: 1-2
1.2.2 Giá c
ả chứng khoán: 2
1.2.3 Giá c
ả bất động sản: 3
1.3 Những ý tưởng ban đầu của LATW của Poole (1970): 3-6
1.3.1 Xét một cú sốc công nghệ tích cực (positive technology shock): 4-5

3.5 Nh
ững cố gắng trong việc phát hiện ra sai lệch trong giá tài sản 26-38
3.5.1 Khó khăn trong việc đo lường giá trị nội tại cổ phiếu 26-28
3.5.2 M
ối quan hệ giữa vai trò của tín dụng và sự lệch lạc trong giá tài sản 28-38
3.5.2.1 Các dữ liệu 30-31
3.5.2.2 M
ột số bằng chứng sơ bộ về phát hiện sự vỡ nợ giá tài sản 31-34
3.5.2.3 M
ột số kết quả của một cách tiếp cận kiểu đơn vị xác suất dựa trên cách
th
ức gộp lại 34-38
3.6 Vai trò của CSTT thời kì hậu khủng hoảng 38-41
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM VỀ VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
DỰA THEO CHIỀU GIÓ VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 42-50
4.1 M
ỹ thất bại, Nhật Bản thất bại vì hành động châm thủng bong bóng gây ra
bi
ến động mạnh 42-46

4.1.1 CSTT và bong bóng tài sản ở Nhật Bản 42-45
4.1.2 CSTT c
ủa Nhật trong việc phá vỡ bong bóng và sau đó là giảm phát 45-46
4.1.3 Bài h
ọc về bong bóng và hậu quả của nó 46
4.2 LATW có thể thực hiện trong thực tế? Trường hợp Thụy Điển 46
4.3 M
ối quan hệ giữa lãi suất và giá chứng khoán trên thị trường Việt Nam 47-48
4.4 Bài h
ọc rút ra cho Việt nam thông qua bài nghiên cứu 49-50

v
ực đồng euro 5-7
Phụ lục 4: Mối tương quan lãi suất và chỉ số giá chứng khoán tại thị trường Nhật 8
PHẦN MỞ ĐẦU
Lạm phát trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề trở nên nghiêm trọng đối với nhiều
qu
ốc gia trong đó có Việt Nam. Để đạt được thành công về việc thực hiện chính sách
l
ạm phát mục tiêu, đặc biệt là lạm phát mục tiêu linh hoạt, phải kể đến vai trò chính
sách ti
ền tệ của NHTW ban hành. NHTW dùng nhiều công cụ khác nhau trong đó có
lãi suất góp phần điều chỉnh nền kinh tế đạt đến những mục tiêu nhất định. Giữa giá tài
s
ản và lạm phát có mối quan hệ rất lớn. Lãi suất là giá cả của việc sử dụng vốn (một
lo
ại tài sản) có ảnh hưởng lớn đến giá cả của các loại tài sản còn lại. Bài nghiên cứu
“Vai trò của giá cả tài sản trong khuôn khổ lạm phát mục tiêu linh hoạt” tập trung
vào m
ột số vấn đề như sau:
 Giá tài sản tác động đến lạm phát như thế nào?
 Ngân hàng trung ương có nên phản ứng với những biến động trong giá cả
tài sản? Liệu phản ứng với giá tài sản có góp phần ổn định kinh tế vĩ mô
hay không? Nếu có, thì trong những trường hợp nào nên phản ứng với
nh
ững thay đổi đó trường hợp nào không nên phản ứng hay phản ứng một
cách có h
ệ thống đối với những thay đổi trong giá tài sản?
 Phản ứng đối với giá tài sản có phải là đạt một mức mục tiêu nhất định cho
giá tài s
ản hay không? Những khó khăn trong việc đo lường chính xác giá

giảm thiểu các hàm tổn thất được thoả mãn một cách tương đối.
1
1.1.2 Lạm phát mục tiêu linh hoạt: là lạm phát mục tiêu nhưng nó không chì hướng
đến tối thiểu biến động trong lạm phát m
à còn chú ý đến những biến động trong hố
cách sản lượng và tỉ giá hối đoái.
1.1.3 Chính sách ph
ản ứng dựa theo chiều gió (LATW): là việc NHTW sẽ gia tăng
lãi suất khi giá tài sản vượt qua một ngưỡng ước lượng trước và sẽ hạ lãi suất khi giá
tài sản xuống thấp hơn một ngưỡng được ước lượng.
1.1.4 Sai lệch trong giá tài sản (APM): là việc giá trị thị trường tài sản phản ánh
không đúng giá trị nội tại của t
ài sản.
1.2 Mối liên hệ giữa giá tài sản và lạm phát
F.Mishkin (2000) phân ra ba loại giá cả tài sản bên cạnh giá cả công cụ nợ (lãi
su
ất) được xem như là những kênh truyền dẫn quan trọng, thông qua đó CSTT tác động
đến nền kinh tế l
à: giá cả chứng khoán; giá cả bất động sản và tỷ giá hối đoái.
1.2.1 Tỷ giá hối đoái
- Tỷ giá hối đoái tác động xuất khẩu thuần:
N
ền kinh tế càng mở cửa thì cơ chế truyền dẫn tiền tệ qua kênh này tác động đến
cán cân vãng lai và t
ổng cầu càng lớn. CSTT mở rộng dẫn đến lãi suất đồng nội tệ
giảm, kéo theo đồng tiền nội tệ giảm giá so với đồng ngoại tệ dẫn đến tỷ giá hối đoái
tăng,xuấ
t khẩu thuần tăng làm sản lượng Y tăng từ đó làm lạm phát tăng .
M↑ →E↑ →NX↑ →Y↑ → lạm phát ↑


↑ →q↑ →c↓ →I↑ →Y↑ →lạm phát ↑.
- Tác động đến bảng cân đối của công ty:
CSTT d
ẫn đến làm gia tăng giá cả chứng khoán, theo đó giá trị thuần (net worth)
c
ủa công ty tăng lên . Một sự tăng lên giá trị thuần sẽ nâng cao khả năng thế chấp trong
vay n
ợ của công ty và vì thế dẫn đến vay nợ tăng lên. Vay nợ càng tăng, chi đầu tư
càng tăng
, kéo theo sản lượng Y tăng. M↑ →P
s
↑ →NW↑ →L↑ →I↑ →Y↑ →lạm phát↑
- Tác động đến mức giàu có của các hộ gia đình:CSTT mở rộng làm gia tăng giá cả
chứng khoán, gia tăng giá trị giàu có của các hộ gia đình, qua đó làm gia tăng nguồn
l
ực suốt đời của người tiêu dùng, dẫn đến tiêu dùng tăng lên.M↑→W↑→C↑→Y↑→lạm
phát
↑.
-Trang 3-
1.2.3 Giá cả bất động sản
- Tác động đến chi tiêu nhà ở.
CSTT m
ở rộng làm giảm lãi suất, giảm chi phí tài trợ nhà ở và vì thế làm gia tăng
giá cả nhà ở. Một sự gia tăng giá cả nhà ở làm gia tăng lợi nhuận của các công ty xây
d
ựng nhà và vì thế chi tiêu nhà ở gia tăng, kéo theo tổng cầu xã hội gia tăng.
M↑→P
h
↑→H↑→Y↑→lạm phát ↑.
- Tác động đến mức giàu có của các hộ gia đình:

ch sản lượng, và có thể là gía cổ phiếu hay giá cả của các tài
s
ản khác. Kết hợp các thông tin kì vọng thể hiện sự cân bằng trên hai thị trường hàng
hóa và th
ị trường tài sản được thể hiện bằng những biểu đồ đơn giản. Đường GM thể
-Trang 4-
hiện sự cân bằng của thị trường hàng hóa, thể hiện mối liên hệ giữa giá cả tài sản và
l
ạm phát. Đường AM có độ dốc âm vì khi lạm phát tăng cao, CSTT thắt chặt giá tài sản
giảm. Đường GM có độ dốc dương vì khi có sự gia tăng giá tài sản làm gia tăng mức
giàu có tổng cầu tăng tạo sức ép lên lạm phát. Sự cân bằng trên hai thị trường xác định
giá tài sản. Xét đến hai cú sốc cơ bản trong nền kinh tế : sốc cung, và cú sốc làm thay
đổi phần bù rủi ro.
1.3.1 Xét một cú sốc công nghệ tích cực làm tăng năng suất gia tăng sản lượng sốc
cung, phân thành hai loại:
Một cú sốc tạm thời (
A temporary supply shock
)
: chỉ mới tác động đến thị
trường hàng hóa chưa tác động đế
n thị trường tài sản vì chưa kịp làm gia tăng thu nhập
kì v
ọng. Bên trái tượng trưng cho việc CSTT không phản ứng với giá tài sản. Bên phải
t
ượng trưng CSTT phản ứng với giá tài sản. Đường AM dịch chuyển sang bên trái vì
cung hàng hóa tăng giảm áp lực lạm phát, đồng thời cũng làm cho giá tài sản tăng. Một
chính sách ph
ản ứng với giá tài sản tăng là thắt chặt CSTT, lãi suất tăng làm giá tài sản
tăng chậm và đường AM thoải hơn. Điều này không phù hợp vì làm cho lạm phát biến
đổi mạnh hơn.

TRONG GIÁ TÀI SẢN
2.1 Phương
trình đơn giản xác định lãi suất ngắn hạn Taylor
Thể hiện mối liên hệ giữa lãi suất và lạm phát được hình thành dựa trên ảnh hưởng của
lãi su
ất đối với tổng cầu.
Ph
ương trình:
Trong đó: R
t
: lãi suất danh nghĩa ngắn hạn mục tiêu,
Π
t
: lạm phát thực tế, Π
t
T
: lạm phát mục tiêu của NHTW
Y
t:
logarit GDP thực tế,Y
t
T
: logarit sản lượng tiềm năng
R
t-1
:lãi suất ở thời kì trước
X
t
: các biến chỉ báo khác
Kết quả của Taylor đối với nền kinh tế Mĩ (1993) cho thấy 

m
ượn bên ngoài. Một sự bất ổn trong thị truờng tín dụng sẽ dẫn đến một phần bù rủi ro
cho vi
ệc sử dụng tài trợ từ bên ngoài của doanh nghiệp, thông qua đó ảnh hưởng đến
chi phí s
ử dụng vốn chung và các quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Do đó một sự
gia tăng vị thế của người đi vay mượn do sự tăng giá trị thế chấp từ sự gia tăng cổ phần
công ty s
ẽ làm phần bù rủi ro giảm. Một sự suy giảm trong chi phí sử dụng vốn có tác
d
ụng góp phần khuyến khích đầu tư. Một sự gia tăng trong đầu tư sẽ dẫn đến tăng cầu
trong hi
ện tại và sản lượng tiềm năng tăng dẫn đến lạm phát khi bong bong giá cổ
phiếu vỡ sẽ có tác dụng ngược lại. Mô phỏng của Bernanke-Gertler dựa trên chuẩn mô
hình Keynes mới cho phép tác động của đòn bẩy tài chính và các bong bóng ngoại sinh
trong giá tài sản.
Mô hình phản ứng với lãi suất đưa ra
R
n
t
= 
π
E
t
π
t+1
+
s
s
t-1

Với mc
:
chi phí biên.(marginal cost)
3
Việc xác định tỉ lệ lạm phát kì vọng trong năm t phụ thuộc vào cả lạm phát kì vọng
tương lai và lạm phát trong quá khứ. Việc lựa chọn yếu tố n
ào có ảnh hưởng hơn phụ thuộc

3
0.02
-Trang 8-
vào cấu trúc kinh tế của từng quốc gia. Và trong nghiên cứu của hai ông giả định rằng

f
=0.6 và

b =0.4
4
Hàm mục tiêu của CSTT là tối thiểu hóa biến động của lạm phát và sản lượng (L tiến
đến min)
:
L

 var() 
(1


) var(
y)
Trong đó: α là tỉ trọng tương đối của biến động lạm phát.

với lạm phát mang lại kết quả tồi tệ, việc phản ứng với giá cổ phiếu hay không tuỳ
thuộc vào mục tiêu mà người làm chính sách muốn hướng đến. Vì có sự đánh đổi giữa

4
CGLW có quan sát thay thế các giá trị

f,


b khác nhau
-Trang 9-
biến động lạm phát và biến động sản lượng (lựa chọn 2, hay 4). Kết quả kết luận chưa
rõ ràng giá tr
ị hàm thua lỗ phụ thuộc vào giá trị α. Ông cho rằng chính sách nên phản
ứng với sự thay đổi giá tài sản khi nào nó ảnh hưởng và có dấu hiệu thay đổi lạm phát
kì v
ọng.
5
2.3 Quan điểm về vai trò của chính sáh tiền tệ sau khủng hoảng
Bernanke (2010) khẳng định rằng chúng ta chủ yếu cần xem xét việc tăng cường
hệ thống điều tiết (regulatory system) để ngăn ngừa một sự tái diễn của cuộc khủng
hoảng, mặc dù ông thừa nhận rằng CSTT có thể được sử dụng như một công cụ bổ
sung nếu chính sách điều tiết (regulatory policy) không thành công.
Bernanke (2010) l
ập luận rằng tỷ lệ lãi suất không có vẻ quá thấp trong thời kì
2002-
2006. Ông đã làm như vậy bằng cách sửa đổi một phiên bản của cái gọi là quy
t
ắc Taylor. Sử dụng các đầu vào ưu tiên của Bernanke, quy tắc Taylor chỉ định một con
đường cho chính sách gần với những gì thực sự xảy ra.

hay
không. Giá tài s
ản và lạm phát có mối quan hệ với nhau và dường như thông tin giá tài
sản thể hiện qua lạm phát. Và khi không phân biệt được nguồn gốc các cú sốc thì nên
b
ỏ qua chúng.
Thứ hai, Bernanke và Gertler cho rằng phản ứng với giá cổ phiếu thay vì phản ứng
với hố cách sản lượng dẫn đến sự vận hành của nền kinh tế kém chất lượng. Một phản
đối cho rằng sự ổn định giá tài sản sẽ yêu cầu những sự điều chỉnh lớn như thế trong lãi
suất chính sách mà nó sẽ gây bất ổn cho lạm phát, sản lượng, và việc làm.
Th
ứ ba, không có lí do rõ ràng cho thấy NHTW có nhiều thông tin về giá trị tài sản
hơn các thàn
h phần tham gia thị trường khác. Tức là NHTW không có được giá trị nội
tại của tài sản vì chính sách LATW dựa trên những giá trị ước lượng về giá tài sản khi
mà giá thị trường tài sản vượt qua ngưỡng này thì có những điều chỉnh lãi suất thích
hợp. Như với quan điểm trước đó, lập luận này được dựa trên ý tưởng rằng NHTW nên
c
ố gắng để đạt được giá trị cụ thể nào đó của giá tài sản, nghĩa là nó nên nhắm mục tiêu
giá tài s
ản. Những khó khăn trong việc đo lường chính xác giá trị cơ bản của tài sản là
nòng c
ốt của vấn đề này.
Thứ tư, CSTT không nên lo lắng về sự hình thành của các bong bóng giá tài sản,
nhưng phải phản ứng nhanh chóng và mạnh mẽ đến sự vỡ tung của bong bóng. Lập luận
này cho một phản ứng không đối xứng dựa trên ý tưởng rằng đó là khó khăn để xác
định sự xuất hiện của bong bóng, v
ì sự tích tụ (build-up) là gia tăng trong bản chất trong

6

êu thì nền kinh tế cũng trải qua những biến động mạnh mẽ.
Nếu kênh tín dụng đóng vai trò nòng cốt trong kênh truyền dẫn thì bong bong cổ
phiếu dẩn đến một sự đầu tư cao hơn khuyến khích tổng cầu vào sản lượng trong ngắn
hạn nhưng trong dài hạn là một sự suy thoái. CGLW nên phản ứng với bong bóng giá
tài sản ngay cả khi chưa có dấu hiệu thay đổi lạm phát kì vọng. Việc can thiệp nhằm
làm giảm khả năng xuất hiện và phát triển các sai lệch (hay bong bóng trong giá tài
-Trang 12-
sản).
8
Tranh luận của họ dựa trên hai gỉa định chính là bong bóng giá tài sản gia tăng
nhanh chóng cho đến khi nó vỡ, v
à khi một bong bóng nổ sẽ có một sự suy giảm mạnh
trong lạm phát do hiệu ứng tác động ngược của đòn bẩy tài chính. Suy xét một quá
trình gồm ba thời kì. Và giả định rằng bong bóng tài chính xuất hiện trong giai đoạn 1.
Như một hệ quả của sự gia tăng giá t
ài sản, lạm phát sẽ gia tăng do hiệu ứng của cải.
Nếu NHTW duy trì một chính sách lãi suất trung lập, bong bóng có thể vỡ hay phát
triển lên gấp bội trong giai đoạn hai, nếu trường hợp trước xảy ra lạm phát sẽ suy giảm
rất mạnh (xuống -2) và sau đó hiện tượng bong bóng sẽ dẫn nó tăng lên +2. Nếu chúng
ta giả định đơn giản rằng xác suất bong bóng vỡ là 50% (như trong giai đoạn 1), tỉ lệ
lạm phát kì vọng là 0, được giả định là mục tiêu của NHTW. Trong giai đoạn 3, chúng
ta có ba khả năng xảy ra hoặc là bong bóng nổ trong giai đoạn 2 trong trường hợp này
nó được giả định rằng không xuất hiện trở lại, hoặc là nó sẽ tiếp tục phát triển hay vỡ
trong giai đoạn ba. Trong trường hợp thứ nhất lạm phát trong giai đoạn ba sẽ bằng 0
(đường chấm chấm), trong trường hợp sau nó có thể là +4 (đường gạch liền nét) hay
-4
(đường gạch đứt). Trong cả hai trường hợp lạm phát dự kiến sẽ đạt mục tiêu. Các ngữ
cảnh trên đều giả định rằng NHTW điều hành CSTT trung lập trong giai đoạn 1. Điều
này có thể được biện minh với lí do, trong giai đoạn đó, lạm phát kì vọng đạt được mục
tiêu trong suốt giai đoạn thực thi chính sách (giả định rằng trong giai đoạn 2 và giai

ần thiết.
3.2 Cải tiến hàm phản ứng
3.2.1 Mô hình cải tiến đưa hố cách sản lượng vào hàm phản ứng
-Trang 14-
Các tác giả (CGLW) còn quan tâm đến hố cách sản lượng
Phương tr
ình hàm phản ứng: R
t

π
 




s
s
t-1


 y - y
*

Trong đó: y: logarit sản lượng thực.
y
*
:logarit sản lượng tiềm năng ở mức toàn dụng nhân công.
S
t-1


Việc phản ứng có quan tâm đến hố cách sản lượng có kết quả cho L nhỏ hơn ở tất cả
các trường hợp.
3.2.2 Xem xét thêm biến động của lãi suất
Liệu việc dùng công cụ lãi suất để phản ứng với những biến động trong giá tài
s
ản có làm bất ổn trong lãi suất và thông qua đó tác động đến lạm phát kì vọng hay
không?
Hàm m
ục tiêu mới:
-Trang 15-
Hàm phản ứng: R
t

π





s
s
t-1


 y - y
*

R
R
t-1

t

t 1


b

t 
Lạm phát kì vọng trong năm t phụ thuộc vào lạm phát trong năm t-1 và kì
v
ọng năm t+1. Giá trị các hệ số 
f,

b tùy thuộc vào tính chất của nền kinh tế.
Các tác giả CGLW thay đổi hệ số

b. Ta có bảng kết quả phản ứng của các trường
hợp và so sánh với kết quả của Bernanke-Gertler ban đầu.
T
ỉ trọng
Giá trị các hệ số ước tính
L So sánh k
ết quả
Α
γ

γ
s
γ
y

0.99
1.00
3.0
1.01
0.0
0.1
0.0010
0.33
-Trang 16-

Phản ứng đối với tỉ giá hối đoái (các tác giả CGLW xem xét lại các kết luận của
Batini và Nelson (2000) và đưa ra quan điểm của m
ình, quan điểm của Andrew Filardo
và Hans Genberg (2010))
Trong một bối cảnh nền kinh tế mở, vấn đề phản ứng với sự mất cân bằng tài
chính hoặc biến động giá tài sản chuyển một cách tự nhiên thành một cuộc tranh luận
về việc liệu NHTW có nên chú ý đến các biến động tỷ giá trong việc quyết định về
CSTT hay không. Tất nhiên, đến phạm vi mà biến động tỷ giá có tác động đến dự báo
lạm phát của NHTW ở kì hạn chính sách, chúng sẽ được đặt hệ số.
Mô hình Batini-Nelson s
ử dụng cho các mô phỏng là một mô hình ba phương
trình của nền kinh tế mở xác định tỷ lệ lạm phát, mức sản lượng, và tỷ giá hối đoái. Ba
phương tr
ình là một mối quan hệ tổng cầu trong hình dạng của một đường cong IS
trong tương lai, một đường cong Phillips bổ sung (mới) k
ì vọng đáp ứng như một mối
quan hệ tổng cung, và một điều kiện ngang giá lãi suất không phòng ngừa dẫn tới các
biến động trong những biến nội tại. Vai trò của NHTW là thiết lập lãi suất trong nước
để giảm thiểu các biến động gây ra trong lạm phát v
à sản lượng xung quanh các mức

y
y
t1
+ 
q
 q
%
t1
+ e
t
(3) E
t
q
t+1
= q
t
+ R
t
– E
t

t+1
+ 
t
,
-Trang 17-
Trong đó y
t
biểu thị (log) sản lượng, R
t

t
phụ thuộc vào sự dẫn dắt của chính nó, vào mức lãi suất thực và vào các
độ trễ của tỷ giá hối đoái.
Phương trình (2) là một đường cong Phillips trong nền kinh tế mở. Batini và
Nelson đặt α = 0.8, 
y
= 0.1, 
q
= 0.025; và giả định e
πt
là nhiễu trắng (mô tả sự biến
thiên hoàn toàn mang tính ngẫu nhiên và không có các phần tử mang tính hệ thống
nào) với độ lệch chuẩn 1%.
Trong phương trình (3), κ
t
là một số hạng rối loạn cái mà gây ra các độ lệch khỏi
UIP nghiêm ngặt. Các cú sốc trong các phương trình (1) – (3) được giả định là không
tương quan lẫn nhau.
Batini và Nelson (2000) giới thiệu một bong bóng ngoại sinh vào quá trình tỷ
giá hối đoái và nghiên cứu NHTW nên phản ứng như thế nào tới biến động tỷ giá hối
đoái trong q
uá trình thiết lập mức lãi suất. Đặc biệt, họ cho rằng những nhà hoạch định
chính sách không thể phân biệt những cú sốc tài chính hay những cú sốc sản xuất là
ngu
ồn gốc của sự biến động tỷ giá hối đoái. Như một chuẩn mực, Batini và Nelson sử
dụng một hàm phản ứng chính sách trong đó các nhà chức trách chỉ phản ứng tới tỷ lệ
lạm phát kì vọng và lãi suất tự nó có độ trễ.
Các kết luận của họ có thể được tóm tắt trong ba điểm:
(i)Khi nền kinh tế chỉ phụ thuộc vào ba cú sốc về cấu trúc (tổng cầu, tổng cung và
ngang giá lãi su

phát dường như là tăng lên và phản ứng thích hợp trong trường hợp n
ày là kiểm soát
lạm phát bằng việc thắt chặt CSTT thông qua việc tăng lãi suất. Ở các quốc gia thị
trường mới nổi m
à có mức độ đô la hoá tài sản nợ ở mức cao, thì việc thắt chặt CSTT
nh
ằm ngăn chặn trường hợp đồng bản tệ bị phá giá mạnh, thậm chí có thể còn cần thiết
hơn để tránh sự mất ổn định của hệ thống t
ài chính.
M
ặt khác, nếu đồng bản tệ giảm giá là do những cú sốc đối với các khu vực thực
(sản xuất) của nền kinh tế (tức là các khu vực phi tài chính - tiền tệ), thì dường như nó
-Trang 19-
ít có tác động đến lạm phát, nên cần thiết phải có phản ứng về CSTT khác với trường
hợp nêu trên; tuy nhiên cũng còn tuỳ thuộc vào bản chất của cú sốc. Một cú sốc về việc
vị thế thương mại xấu đi (tức là hệ số giữa chỉ số giá xuất khẩu so với chỉ số giá nhập
khẩu giảm đi) sẽ làm giảm cầu về hàng xuất khẩu, làm giảm tổng cầu và bởi vậy làm
l
ạm phát giảm đi. Trong tình huống này, phản ứng đúng về CSTT sẽ là nới lỏng, giảm
lãi suất.
Cu
ộc khủng khoảng tài chính vào năm 1997 làm cho MCI (Monetary Conditions
Index – Ch
ỉ số trạng thái của CSTT) giảm đáng kể, Ngân hàng Dự trữ New Zealand bắt
đầu điều chỉnh tăng l
ãi suất vào tháng 6/1998. Bởi vì sự giảm giá là do cú sốc thương
mại âm, nên thắt chặt CSTT đã làm cho cuộc suy thoái trở nên trầm trọng hơn, lạm
phát tăng cao. Cuố
i cùng, Ngân hàng Dự trữ New Zealand nhận thấy sai lầm và đảo
ngược tiến tr


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status