BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
[\
TRẦN THỊ MINH TÂM THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, ẢNH HƯỞNG CỦA
CHẤT THẢI Y TẾ ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG
TRONG CÁC BỆNH VIỆN HUYỆN TỈNH HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: VỆ SINH HỌC XÃ HỘI VÀ TỔ CHỨC Y TẾ
MÃ SỐ: 3.01.12
TãM T¾T LUËN ¸N TIÕN Sü Y HäC CÓ THỂ TÌM HIỂU LUẬN ÁN TẠI
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội
- Viện thông tin - Thư viện Y học Trung ương
- Thư viện Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương
CHỮ VIẾT TẮT BN Bệnh nhân
BOD Biochemical oxygen Demand
(Nhu cầu ôxy sinh hóa)
CBYT Cán bộ y tế
COD Chemical oxygen Demand
(Nhu cầu hoá học về oxy)
CTYT Chất thải y tế
CXLCT Chưa xử lý chất thải
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
ERA Environmental Risk Assessment
(Đánh giá nguy cơ môi trường)
GB giường bệnh
HQCT Hiệu quả can thiệp
KCB Khám chữa bệnh
LS Lâm sàng
OD Oxygen Demand (Nhu cầu oxy)
SH Sinh hoạt
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
VSMT Vệ sinh môi trường
nhanh về số lượng và phức tạp về thành phần. Nếu không được quản lý, xử lý
an toàn sẽ là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
lây lan các bệnh truyền nhiễm, tạo môi trường cho vi sinh vật gây bệnh kháng
thuốc và ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng.
Đánh giá được tính cấ
p bách trong công tác quản lý chất thải y tế, năm
1999 Bộ Y tế đã ban hành "Quy chế quản lý chất thải y tế" nhưng do nhiều yếu
tố khó khăn khách quan và chủ quan của từng cơ sở y tế đã dẫn đến công tác
quản lý, xử lý CTYT tại các bệnh viện còn bất cập, đặc biệt đối với các bệnh
viện huyện. Vì vậy nguy cơ ô nhiễm nước thải, rác thải tại các bệnh viện huyện
đang là vấn đề báo động. Để góp phần đề xuất giải pháp cải thiện tình trạng
quản lý CTYT phù hợp với điều kiện của bệnh viện huyện, hạn chế mức độ ảnh
hưởng của CTYT đối với môi trường và sức khoẻ cộng đồng, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: "Thực trạng quản lý, ảnh hưởng của chất thải y tế đối với
môi trường trong các bệnh viện huyện tỉnh Hải Dương", với mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng quản lý chất thải y tế của các bệnh viện huyện xử lý
chất thải và chưa xử lý chất thải tại tỉnh Hải Dương.
2. Mô tả ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường trong các bệnh
vi
ện huyện xử lý chất thải và chưa xử lý chất thải tại tỉnh Hải Dương.
3. Đánh giá hiệu quả của các giải pháp quản lý chất thải y tế tại các bệnh
viện huyện tỉnh Hải Dương
Trên cơ sở đó, kiến nghị mô hình quản lý chất thải y tế phù hợp với điều
kiện tuyến huyện.
Những điểm mới của luận án
1. Đề tài luận án đã tiến hành nghiên cứu một cách hệ thống trên toàn bộ
bệnh viện huyện của một tỉnh đã cho thấy một bức tranh tổng thể thực trạng
quản lý, ảnh hưởng của CTYT đối với môi trường bệnh viện huyện. Qua đó cho
thấy được những tồn tại trong quản lý chất thải của các bệnh viện đ
ã được đầu
- Phân loại CTYT: Theo “Quy chế quản lý chất thải y tế” của Bộ Y tế năm 1999
- Khối lượng CTYT thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố: Cơ cấu bệnh tật, dịch
bệnh; loại, quy mô bệnh viện; lưu lượng bệnh nhân KCB…, quản lý CTYT.
1.1.3. Tác động của chất thải y tế đối với môi trường.
* Ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt: Hệ thống phân phối nước bệnh viện có thể bị
ô nhiễm từ nguồn cấp nước hoặc bị ô nhiễm trong quá trình bảo quản, sử dụng.
* Nước thải bệnh viện luôn có những nguy cơ tiềm tàng: nhiễm khuẩn; nhiễm
chất độc hại; nhiễm chất phóng xạ. Nếu không được xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm
môi trường và lan truyền dịch bệnh.
* Ô nhiễm môi trường đất: do chất thải rắn, chất thải lỏng bệnh viện không
được quản lý, xử lý đúng quy định.
* Ô nhiễm môi trường không khí: Môi trường không khí bệnh viện còn chịu tác
động rất lớn của công tác xử lý chất thải y tế.
1.1.4. Tác động của chất thải y tế đối với sức khoẻ con người
* Những đối tượng phơi nhiễm với CTYT: Cán bộ, nhân viên y tế, người thu
gom, người bệnh, người nhà bệnh nhân, người dân sống gần bệnh viện
* Tác động của một số chất thải nguy hại đối với sức khoẻ con người
- Chất thải nhiễm khuẩn gây các bệnh nhiễm khuẩn
- Vật sắc nhọn gây thương tích và có thể làm nhiễm khuẩn
- Chất thải hoá học và dược phẩm gây nhiễm độc, tổn thương bỏng.
3
- Chất thải phóng xạ có khả năng gây ảnh hưởng đến chất liệu di truyền.
Ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về tình trạng tổn thương do
nghề nghiệp của các nhân viên y tế liên quan đến công tác quản lý, xử lý
CTYT.
1.1.5. Phương pháp đánh giá tác động môi trường và các chỉ tiêu đánh giá
tình trạng vệ sinh môi trường
- Để có cơ sở khoa học đánh giá những tác động của CTYT đối với môi trường
và sức khoẻ con người, đề tài đã sử dụng phương pháp đánh giá tác động môi
lượng rác thải trung bình là 0,52kg/GB/ngày, rác thải nguy hại là 0,12
kg/GB/ngày.
- Nước thải bệnh viện: kết quả khảo sát tại các bệnh viện Hà Nội năm 1998, lưu
lượng nước thải trong một bệnh viện dao động từ 130 - 300m
3
/ngày đêm.
* Phân loại, thu gom CTYT tại bệnh viện: Kết quả nghiên cứu của Lê Ngọc
Trọng năm 2002: Các bệnh viện đều thực hiện phân loại chất thải rắn y tế ngay
tại nguồn phát sinh. Nhưng còn tình trạng đưa CTYT nguy hại vào chất thải
4
sinh hoạt và ngược lại, làm tăng lượng CTYT nguy hại. Màu sắc của các vật
dụng đựng chất thải chưa thống nhất, dụng cụ thu gom chất thải không theo quy
định của Bộ Y tế.
* Lưu giữ, vận chuyển CTYT trong bệnh viện: Kết quả nghiên cứu của Đinh
Hữu Dung năm 2003 cho thấy: nơi lưu giữ chất thải của bệnh viện không đảm
bảo vệ sinh (5/6 bệnh viện). Kết quả điều tra tại Tây Nguyên năm 2004: 94,5%
không có phương tiện vận chuyển chuyên dụng.
* Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế về quản lý CTYT: Từ năm 1999 (sau khi
Bộ Y tế ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế) đến nay, những hiểu biết của
đội ngũ cán bộ, nhân viên bệnh viện về CTYT vẫn còn nhiều hạn chế: Kết quả
nghiên cứu của Đinh Hữu Dung tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh năm 2003 còn tới
8,9% số người được phỏng vấn không biết loại chất thải nguy hại.
* Nhân lực, tổ chức thực hiện và kinh phí cho công tác quản lý CTYT: Kết quả
nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh năm 2003: chỉ có 3/6 bệnh viện có khoa
chống nhiễm khuẩn, phân loại chất thải rắn chủ yếu do điều dưỡng, hộ lý thực
hiện; các bệnh viện gặp nhiều khó khăn về kinh phí quản lý chất thải do không
được cấp kinh phí và không có văn bản hướng dẫn cụ thể.
1.3.2. Công tác xử lý chất thải y tế tại các bệnh viện
* Công tác xử lý chất thải rắn y tế: Kết quả điều tra của Lê Ngọc Trọng năm
bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam năm 2004: Lượng vi khuẩn/m
3
không khí cao
hơn TCCP. Kết quả nghiên cứu của Đào Ngọc Phong tại 8 bệnh viện huyện:
100% mẫu nước sinh hoạt tại các khoa không đạt tiêu chuẩn vi sinh vật, nước
thải bệnh viện có chỉ số Coliform và Fecal coliform, BOD, COD đều cao so với
5
TCCP, mức độ nhiễm VK tan máu và nấm mốc trong không khí ở các khoa
phòng rất trầm trọng.
* Ảnh hưởng của CTYT đối với sức khoẻ cộng đồng: Năm 2003, Đinh Hữu
Dung và CS nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh cho thấy: mô hình bệnh tật
của nhân dân sống tiếp giáp với bệnh viện là các bệnh nhiễm trùng theo đường
nước như bệnh da liễu (bệnh sẩn ngứa, viêm quanh móng, viêm kẽ chân), các
bệnh phụ khoa, bệnh mắt hột; các bệnh lây theo đường không khí (như viêm
mũi dị ứng). Đào Ngọc Phong và CS nghiên cứu ảnh hưởng của CTYT đến sức
khoẻ tại 8 bệnh viện huyện năm 2006, nhưng cũng chỉ đưa ra được kết luận:
Một số bệnh có liên quan đến ô nhiễm môi trường ở nhóm người dân bị ảnh
hưởng của chất thải từ bệnh viện cao hơn nhóm không bị ảnh hưởng.
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành tại 11/11 bệnh viện huyện thuộc tỉnh Hải Dương.
- Thời gian nghiên cứu: Từ 1/2004 đến 7/2006
Quy trình nghiên cứu
Điều tra ngang về thực trạng quản lý, ảnh hưởng của chất thải y tế
đối với môi trường bệnh viện XLCT và CXLCT
Phân tích số liệu, đề xuất, áp dụng các giải pháp quản lý chất thải y tế phù hợp
với bệnh viện huyện
2
(1 - p
2
)
n
1
= n
2
= Z
2
(α, β) x
(p
1
- p
2
)
2
α, β: mức tin cậy α = 0,05; β = 0,05 Giá trị Z
2
(α, β) = 13,0
n
1
, n
2
: Cỡ mẫu của nhóm bệnh viện XLCT và CXLCT
p
1
: Tỷ lệ cán bộ, nhân viên y tế hiểu biết đầy đủ các loại CTYT ở nhóm bệnh
viện xử lý chất thải rắn y tế = 0,186
)
n
1
= n
2
= Z
2
(α, β) x
(p
1
- p
2
)
2
α, β: mức tin cậy α = 0,05; β = 0,05 Giá trị Z
2
(α, β) = 13,0
n
1
, n
2
: Cỡ mẫu của nhóm bệnh viện XLCT và CXLCT
p
1
: Tỷ lệ bệnh nhân, người nhà bệnh nhân được phổ biến nội quy khoa
phòng, bệnh viện tại nhóm bệnh viện XLCT = 100%
p
2
: Tỷ lệ bệnh nhân, người nhà bệnh nhân được phổ biến nội quy khoa
(1-α/2)
x
d
2
n
1
, n
2
: Cỡ mẫu của nhóm bệnh viện XLCT và CXLCT
7
δ: Độ lệch chuẩn của nồng độ NH
3
trong môi trường không khí bệnh viện
(δ = δ
1
= δ
2
) (Giá trị δ được ước lượng từ điều tra thử là 0,015 )
d: Sai số ước lượng của 2 nhóm bệnh viện = 0,01
Z
(1-α/2)
:
hệ số tin cậy (với α = 0,05, giá trị Z
(1-α/2)
= 1,96)
Tính được cỡ mẫu n
1
2.3. Giai đoạn 2: Áp dụng, đánh giá hiệu quả bước đầu của giải pháp quản
lý chất thải y tế tại bệnh viện XLCT và bệnh viện CXLCT.
2.3.1. Thời gian nghiên cứu: Từ 5/2005 đến 7/2006
2.3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Cán bộ, nhân viên y tế; cán bộ lãnh đạo, quản lý bệnh viện.
- Chất thải y tế tại các bệnh viện.
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu can thiệp cộng đồng có so sánh
trước sau và so sánh với nhóm đối chứng
8
- Mẫu nghiên cứu
Nhóm can thiệp: Chọn có chủ đích 2 bệnh viện XLCT và 1 bệnh viện CXLCT
Nhóm chứng (không can thiệp) gồm 2 bệnh viện XLCT và 1 bệnh viện CXLCT
2.3.4. Nội dung can thiệp
-Bước 1: Thông báo kết quả nghiên cứu ban đầu cho bệnh viện, cùng với lãnh đạo
bệnh viện bàn bạc, đề xuất một số biện pháp cải thiện tình trạng quản lý CTYT.
- Bước 2: Trao đổi, thảo luận với cán bộ phụ trách về quản lý CTYT (Điều
dưỡng trưởng bệnh viện) để giúp bệnh viện thực hiện các biện pháp cải thiện
công tác quản lý chất thải: Hướng dẫn cho cán bộ, nhân viên y tế cách phân
loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải; niêm yết các quy định về quản lý, xử
lý CTYT tại các khoa phòng; dán nhãn thùng đựng CTYT; xây dựng bảng đánh
giá tình trạng quản lý CTYT; Điều dưỡng trưởng thường xuyên kiểm tra công
tác vệ sinh khoa phòng, phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý CTYT; 3 - 6
tháng nhóm nghiên cứu tiến hành phản hồi kết quả can thiệp về hoạt động quản
lý chất thải của bệnh viện.
- Bước 3: Sau 1 năm can thiệp, tiến hành khảo sát lại thực trạng quản lý, xử lý
và hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế về CTYT. So sánh trước sau và với
nhóm bệnh viện không can thiệp để đánh giá thay đổi về quản lý CTYT giữa
các nhóm bệnh viện. Rút ra bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng mô hình
So sánh giữa nhóm bệnh viện có can thiệp và nhóm bệnh viện can thiệp
và tính hiệu quả HQCT = P
1
- P
2
Trong đó P
1
: Tỷ lệ % chỉ số nghiên cứu thay đổi (tăng hoặc giảm) so với
trước can thiệp của nhóm có can thiệp
P
2
: Tỷ lệ % chỉ số nghiên cứu thay đổi (tăng hoặc giảm) so với đánh
giá ban đầu của nhóm không can thiệp.
- Số liệu được xử lý và phân tích theo phần mềm EPIINFO 6.04 và SPSS 7.5
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện huyện xử lý chất thải và
chưa xử lý chất thải của tỉnh Hải Dương
3.1.1. Thông tin chung về các bệnh viện nghiên cứu
- Các bệnh viện huyện Hải Dương có số dân trung bình/giường bệnh 1.545
người. Công suất sử dụng giường bệnh trung bình là 102%. Các bệnh truyền
nhiễm điều trị tại bệnh viện huyện chủ yếu là lỵ, viêm gan và lao. Một số bệnh
viện đã có bệnh nhân HIV/AIDS.
- Các bệnh viện huyện đều ở gần khu vực dân cư. Nguồn nước sử dụng chủ yếu
là nước máy và nước giếng khoan.
3.1.2. Thực trạng quản lý, xử lý chất thải y tế tại các bệnh viện huyện
* Nhân lực: Hộ lý là người thu gom, vận chuyển rác thải, chưa được tập huấn bài
bản về quy chế quản lý chất thải. 100% bệnh viện có Hội đồng chống nhiễm khuẩn.
* Phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế
- 100% bệnh viện phân loại ngay tại nguồn phát sinh, 4/11 bệnh viện để chung
Rác
thải
SH
Tổng 0,874 ± 0,228 87,8 1,054 ± 0,168 92,8 p <0,05
Rác hoá học 0,003 ± 0,002 0,4 0,005 ± 0,004 0,5 p <0,05
Tổng lượng rác thải 0,995 ± 0,225 100 1,136 ± 0,178 100 p >0,05
10
Nhận xét: - Rác thải lâm sàng ở nhóm bệnh viện XLCT cao hơn nhóm bệnh
viện CXLCT (p<0,05). Rác thải hoá học chiếm tỷ lệ thấp nhất (0,4% và 0,5%).
Các bệnh viện đều không có chất thải phóng xạ.
* Xử lý chất thải y tế
- 4/7bệnh viện đốt rác LS bằng lò; 3/7 bệnh viện xử lý rác LS tại bệnh viện tỉnh
- 5/7bệnh viện XLCT và 3/4 bệnh viện CXLCT hệ thống thoát nước thải là
cống nổi, trong đó 4/5 bệnh viện và 2/3 bệnh viện không có nắp hoặc chỗ có
chỗ không.
- 2/11 bệnh viện có xử lý nước thải trước khi đổ ra ngoài môi trường
- 90,9% bệnh viện đổ trực tiếp nước thải ra ao/hồ, cánh đồng
* Kết quả phỏng vấn sâu cán bộ lãnh đạo, quản lý bệnh viện; người bệnh,
người nhà bệnh nhân về quản lý, xử lý CTYT:
- Không cung cấp đủ phương tiện. Thiếu cán bộ chuyên trách về công tác quản lý,
xử lý chất thải bệnh viện. Xử lý CTYT chưa đảm bảo vệ sinh môi trường
- Không thường xuyên hướng dẫn Quy chế quản lý CTYT cho CBYT nhất là
những người liên quan trực tiếp. Chưa có hướng dẫn cụ thể nơi đổ rác.
- Chưa phát huy vai trò của Hội đồng chống nhiễm khuẩn bệnh viện.
3.1.3. Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế tại các bệnh viện huyện về quản
lý, xử lý chất thải y tế
Bảng 3.18: Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế tại các bệnh viện huyện về
quy định màu sắc túi, hộp, thùng đựng chất thải
Bệnh viện XLCT
các loại CTYT
111 40,9 151 58,1 263 49,5
Không biết 8 3,0 12 4,6 20 3,8
Kiểm định χ
2
p <0,001
11
Nhận xét: Tỷ lệ CBYT biết đầy đủ 5 loại chất thải y tế ở nhóm bệnh viện
XLCT cao hơn nhóm bệnh viện CXLCT (p <0,001). Có tới 3,0% (bệnh viện
XLCT) và 4,6% (bệnh viện CXLCT) số CBYT không biết loại chất thải nào.
Bảng 3.20: Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế tại các bệnh viện huyện về
loại chất thải y tế gây nguy hại sức khoẻ
Bệnh viện XLCT
(n = 271)
Bệnh viện CXLCT
(n =260)
Chung
(n = 531)
Chỉ số nghiên
cứu
n % n % n %
Kiểm
định
z test
Chất thải LS 213 78,6 201 77,3 414 78,0 p >0,05
Chất thải phóng xạ
195 71,9 154 59,2 349 65,7 p <0,01
Chất thải hoá học 188 69,4 174 66,9 362 68,2 p >0,05
Chung
(n = 531)
Chỉ số nghiên cứu
n % n % n %
Kiểm
định
z test
Lan truyền bệnh (tiêu chảy,
viêm gan…)
264 97,4 250 96,1 514 96,8 p>0,05
Gây tai nạn, thương tích 187 69,0 180 69,2 267 69,1 p>0,05
Ung thư (do hoá chất,
phóng xạ)
195 72,0 193 74,2 388 73,1 p>0,05
Phát sinh côn trùng trung
gian truyền bệnh
244 90,0 228 87,7 472 88,9 p>0,05
Ảnh hưởng đến môi
trường
150 55,4 137 52,6 287 54,0 p>0,05
Biết cả 5 nguy hại 144
53,1
127
48,8
271
51,0
p>0,05
Không biết 3
1,1
4
Các khoa 24 21/24 3/24 8/24 16/24
Nước
máy
Nhà dân 6 6/6 0/6 6/6 0/6
Nước đầu nguồn 8 8/8 0/8 7/8 1/8
Các khoa 44 38/44 6/44 11/44 33/44
Nước
giếng
khoan
Nhà dân 8 8/8 0/8 8/8 0/8
Nước mưa 2 2/2 0/2 2/2 0/2
TCVN 5502: 2003 2,2 VK/100 ml 0VK/100 ml
Nhận xét: - Các mẫu nước sinh hoạt (nước máy và nước giếng khoan) ở đầu
nguồn cấp và nhà dân đều có chỉ số Coliform và Fecal coliform đạt TCCP
- Các mẫu nước sinh hoạt ở các khoa chỉ số Fecal coliform vượt TCCP chiếm tỷ lệ cao
* Ô nhiễm nước thải do vi sinh vật
Bảng 3.26: Chủng vi khuẩn phân lập được trong nước thải của các bệnh viện huyện
Số chủng vi khuẩn/số mẫu xét nghiệm
Nhóm bệnh viện
P.aeruginosa S.aureus Salmonella E.Fecalis Shigella
Bệnh viện xử lý
toàn bộ nước thải
4/14
28,6%
5/14
35,7%
0/14
0
0/14
0
61/78
78,2%
16/78
20,5%
24/78
30,8%
0/78
0
Nhận xét: - Chủng vi khuẩn phân lập được trong nước thải tại các bệnh viện
chiếm tỷ lệ cao nhất là S.aureus (78,2%); P.aeruginosa (76,9%). Các chủng vi
khuẩn đường ruột chiếm tỷ lệ thấp hơn: E.Fecalis (30,8%); Salmonella (20,5%).
Không có mẫu nước thải nào xét nghiệm thấy Shigella.
- Các vi khuẩn phân lập được trong nước thải của nhóm bệnh viện chưa xử lý
chiếm tỷ lệ cao hơn nhóm bệnh viện xử lý toàn bộ nước thải bệnh viện.
13
* Ô nhiễm không khí trong bệnh viện do vi sinh vật
Bảng 3.29: Số lượng vi khuẩn tan máu/ m
3
không khí tại các bệnh viện huyện
Vị trí lấy mẫu
Bệnh viện XLCT
(X ± SD)
Bệnh viện CXLCT
(X ± SD)
Kiểm
định t test
Phòng Khám - xét nghiệm
120 ± 57 165 ± 85 p > 0,05
Phòng mổ 24 ± 15 32 ± 6 p > 0,05
Bãi rác 778 ± 190 943 ± 151 p >0,05
TCCP: không khí tốt: Số bào tử nấm mốc/m
3
không khí < 325 (tương đương
<5 bào tử nấm mốc/đĩa môi trường)
Nhận xét: Ở 2 nhóm bệnh viện: Số bào tử nấm mốc/m
3
không khí ở khu vực
sân bệnh viện và bãi rác không đạt TTCP và cao nhất là khu vực bãi rác.
* Ô nhiễm trứng giun trong đất
Bảng 3.31: Số lượng trứng giun/1kg đất tại các bệnh viện huyện
Chỉ số
nghiên cứu
Vị trí lấy
mẫu
Bệnh viện XLCT
(số trứng/kg đất)
X ± SD
Bệnh viện CXLCT
(số trứng/kg đất)
X ± SD
Kiểm
định t
test
Các khoa 100 ± 5 102 ± 19 p >0,05
Giun đũa
Bãi rác 180 ± 18 220 ± 32 p <0,05
Các khoa 0 0 -
Biểu đồ 3.1: Hàm lượng chất hữu cơ trong nước sinh hoạt tại các
bệnh viện huyện sử dụng nước giếng khoan
Nhận xét: Nguồn nước giếng khoa, các mẫu xét nghiệm đều không đạt tiêu
chuẩn về chỉ số chất hữu cơ. Hàm lượng chất hữu cơ trong mẫu nước sinh hoạt
cao gấp 1,5 - 6,0 lần so với TCCP. Mẫu nước mưa không đạt tiêu chuẩn chất
hữu cơ.
* Hàm lượng BOD
5
trung bình trong nước thải các bệnh viện huyện
0
20
40
60
80
100
Các khoa Trước khi ra MT Nước rỉ ra từ bãi
rác
Sau xử lý
mg/l
BV Xử lý toàn bộ nước thải BV xử lý nước thải khoa XN
BV chưa xử lý nước thải TCCPBiểu đồ 3.2: Hàm lượng BOD
5
trung bình trong nước thải bệnh viện huyện
Nhận xét: - Lượng BOD
5
trung bình trong nước thải của các bệnh viện đều cao
Các khoa 0,2 ± 0,05 0,23 ± 0,16
Sân chung 0,37 ± 0,05 0,25 ± 0,05
Nơi lưu giữ rác 0,46 ± 0,05* 0,4 ± 0,15*
Khi đốt rác 0,49 ± 0,1* 0,48 ± 0,23*
Bệnh viện
XLCT
Cách bệnh viện 100m 0,34 ± 0,11 0,33 ± 0,15*
Các khoa 0,25 ± 0,1 0,32 ± 0,078
Sân chung 0,34 ± 0,1 0,37 ± 0,2
Bệnh viện
CXLCT
Nơi lưu giữ rác 0,47 ± 0,037* 0,5 ± 0,26*
TCCP 0,3 mg/m
3
0,1mg/m
3
Kiểm định t test * p <0,05 (so sánh với TCCP)
Nhận xét: Không khí bệnh viện bị ô nhiễm chủ yếu là khí NO
2
, cao hơn TCCP
(p <0,05). Nơi lưu giữ rác và khi đốt rác có nồng độ NO
2
và SO
2
cao nhất và
cao hơn TCCP (p <0,05).
3.2.3. Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với cán bộ y tế và người dân tiếp xúc
trực tiếp với chất thải bệnh viện
Bảng 3.38: Kết quả phỏng vấn sâu người dân tiếp xúc với chất thải bệnh viện
Chỉ số nghiên cứu Số lượng Tỷ lệ (%)
Bốc mùi hôi thối 42 100
Có nhiều ruồi, muỗi, chuột, côn trùng 34 80,9
Súc vật xâm nhập 30 71,4
Gây cảm giác khó chịu 42 100
Ảnh hưởng đến
sinh hoạt do
chất thải bệnh
viện
Ảnh hưởng đến môi trường 40 95,2
Viêm kẽ chân, tay 8 19,0
Đau mắt 4 9,5
Tiêu chảy 3 7,1
Các bệnh hay
mắc khi tiếp
xúc với chất
thải bệnh viện
Viêm mũi 6 14,3
Nhận xét: Kết quả phỏng vấn sâu người dân tiếp xúc trực tiếp với chất thải
bệnh viện cho thấy:
- Chất thải bệnh viện gây những ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân như:
bốc mùi hôi thối; có nhiều côn trùng, súc vật xâm nhập; gây cảm giác khó chịu.
- Người dân tiếp xúc với chất thải bệnh viện thường hay mắc các bệnh: Viêm kẽ
chân tay, viêm mũi họng, đau mắt, tiêu chảy.
3.3. Hiệu quả các giải pháp quản lý chất thải y tế tại bệnh viện huyện xử lý
chất thải và chưa xử lý chất thải
3.3.1. Kết quả thay đổi về hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế về quản lý CTYT
57,8
Bệnh viện CXLCT
Can thiệp
Không can thiệp
Biểu đồ 3.3 và 3.4 : Hiệu quả can thiệp về hiểu biết quy định màu sắc vật
dụng đựng chất thải ở nhóm bệnh viện XLCT và CXLCT
Nhận xét: Sau can thiệp, tỷ lệ CBYT ở 2 nhóm bệnh viện trả lời đúng quy định
về màu sắc của túi đựng CTYT tăng hơn so với trước can thiệp (p <0,001) và
tăng cao hơn nhóm không can thiệp với HQCT 16,8 - 25,6%
16,8
25,6
17
51,3
61,5
70,0
67,0
18,5
5,5
0
20
40
60
80
Tỷ lệ %
TrướcSauHQCT
Bệnh viện XLCT
Can thiệp
Không can thiệp
5,5
0
10
20
30
40
50
Tỷ lệ %
Trước Sau HQCT
Bệnh viện XLCT
Can thiệp
Không can thiệp
18,5
18,5
41,5
21,2
23,0
3,0
0
10
20
30
40
50
Tỷ lệ %
TrướcSauHQCT
Bệnh viện CXLCT
Can thiệp
Không can thiệp
kg 0,026 0,028 0,01 0,025
LS sắc nhọn
% 2,1 2,4 0,8 2,2
kg 0,076 0,078 0,063 0,078 LS không sắc
nhọn
% 6,0 6,6 5,2 6,9
kg 0,102 0,106 0,073 0,103
Rác
thải
LS
Tổng
% 8,1 9,0 6,0 9,1
kg 1,063 1,00 1,08 0,95
Rác SH hữu cơ
% 84,4 85,2 88,8 84,5
kg 0,087 0,061 0,058 0,065 Rác SH khó tiêu
huỷ
% 6,9 5,2 4,8 5,8
kg 1,15 1,061 1,138 1,015
Rác
thải
SH
Tổng
% 91,3 90,4 93,6 90,3
kg 0,007 0,007 0,005 0,006
Rác hoá học
% 0,6 0,6 0,4 0,5
Tổng lượng chất thải rắn 1,259 1,174 1,216 1,124
Nhận xét: Sau 1 năm can thiệp, lượng rác thải lâm sàng ở bệnh viện XLCT và
bệnh viện CXLCT xấp xỉ nhau và tăng hơn so với trước can thiệp, nhất là bệnh
chuyển chất thải rắn y tế cần có biện pháp khắc phục, đó là:
- Các bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải rắn ngay tại khoa/phòng, nhưng
chưa bệnh viện nào phân loại đúng theo Quy chế của Bộ Y tế. Nguyên nhân là
do có những loại chất thải hiện tại các bệnh viện huyện chưa sử dụng (chất thải
phóng xạ) hoặc sử dụng với số lượng ít (chất thải hoá học).
- Dụng cụ thu gom chất thải (túi nilon, xô nhựa, thùng nhựa) không theo quy
định của Bộ Y tế về màu sắc, kích cỡ, không có nhãn, biểu tượng sinh học bên
ngoài; màu sắc các vật dụng đựng chất thải chưa thống nhất nên dễ dẫn đến sự
nhầm lẫn khi phân loại chất thải tại nguồn phát sinh.
- Không có phương tiện vận chuyển chuyên dụng trong bệnh viện, nơi lưu giữ
chất thải không đảm bảo vệ sinh, thời gian lưu giữ chất thải thường quá quy định.
* Khối lượng chất thải rắn y tế tại các bệnh viện huyện
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt giữa 2 nhóm bệnh viện về
lượng rác thải trung bình (p >0,05), ở nhóm bệnh viện XLCT là 0,995 ± 0,225
kg/GB/ngày đêm; nhóm bệnh viện CXLCT là 1,136 ± 0,178 kg/GB/ngày đêm,
kết quả này cũng tương đương với kết quả khảo sát của Tổ chức y tế thế giới
năm 1999 (lượng rác thải trung bình tại các nước ở bệnh viện huyện 0,5 - 1,8
kg/GB/ngày đêm). So v
ới kết quả khảo sát của Lê Ngọc Trọng năm 2002
(lượng rác thải trung bình ở bệnh viện huyện là 0,kg/GB/ngày đêm) thì kết quả
của tôi cao hơn. Điều này là phù hợp vì ngày càng tăng sử dụng các sản phẩm
dùng 1 lần và lưu lượng bệnh nhân tại các bệnh viện huyện tăng hơn trước.
Chất thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao nhất 87,8% (bệnh viện XLCT) và 92,8%
(bệnh viện CXLCT), chất thải lâm sàng chỉ chiếm tỷ lệ 11,8% (bệnh viện
XLCT) và 6,7% (bệnh viện CXLCT). So sánh với kết quả của Tổ chức y tế thế
giới về tỷ lệ rác thông thường trong các bệnh viện huyện: 75% - 90% thì đối với
bệnh viện XLCT là tương đương, còn đối với bệnh viện CXLCT cao hơn. Điều
này có thể do việc phân loại, thu gom chất thải lâm sàng bệnh viện XLCT tốt
h
ơn so với bệnh viện CXLCT. Chất thải hoá học chiếm tỷ lệ rất thấp (0,4 -
đất, ô nhiễm nguồn nước ở khu vực xung quanh bệnh viện là khó tránh khỏi.
* Thực trạng hoạt động quản lý chất thải ở 2 nhóm bệnh viện XLCT và
CXLCT còn nhiều bất cập:
- Nhân lực phục vụ công tác quản lý chất thải y tế chưa được đào tạo, tập huấn
bài bản về nghiệp vụ, hiểu biết về CTYT chưa đầy đủ.
- Phương tiện vận chuyển, trang thiết bị chưa đúng quy định và còn thiếu.
- Về tài chính: chưa có hướng dẫn trong chi tiêu của bệnh viện dành cho hoạt
động quản lý chất thải, vì vậy gặp khó khăn về kinh phí cho việc mua sắm vật
tư tiêu hao cho hoạt động này.
- Thiếu kinh phí cho việc thực hiện các giải pháp công nghệ như xây dựng hệ
thống xử lý nước thải, trang bị lò đốt rác.
- Hoạt động của Hội đồng chống nhiễm khuẩn tại các bệnh viện huyện chưa
hiệu quả.
4.1.2. Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế tại các bệnh viện huyện về quản lý chất
thải y tế
Hiểu biết của CBYT về quản lý, xử lý và các nguy cơ của CTYT còn hạn chế.
Còn tỷ lệ đáng kể CBYT không biết quy định về màu sắc của túi đựng chất thải
(một công việc hàng ngày họ vẫn phải làm); không biết chất thải được phân
thành những loại nào; chất thải nào là nguy hại, có ảnh hưởng gì đối với sức
khoẻ và không biết được các biện pháp xử lý từng loại CTYT. Để góp phần cải
21
thiện công tác quản lý CTYT trong điều kiện của bệnh viện huyện thì việc tăng
cường nhận thức cho CBYT nhằm thay đổi thái độ, thực hành chưa đúng về
hoạt động này là rất cần thiết. Đây là một biện pháp mà mọi cơ sở y tế đều có
thể làm được.
4.2. Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường trong các bệnh viện
huyện xử lý chất thải và chưa xử lý chất thải của tỉnh Hải Dương
4.2.1. Thực trạng ô nhiễm nước sinh hoạt
Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn nước sinh hoạt trong các bệnh viện bị ô
cao hơn TCCP; Số vi
khuẩn tan máu và nấm mốc/m
3
không khí cao hơn TCCP và cao hơn nhóm
bệnh viện XLCT (p <0,01).
4.2.4. Thực trạng ô nhiễm trứng giun trong đất
Tại khu vực bãi rác bị nhiễm giun đũa ở mức đất rất bẩn (180 - 220 trứng
giun/kg đất) và bệnh viện CXLCT bị nhiễm cao hơn bệnh viện XLCT (p <0,05)
và bị nhiễm cả trứng giun móc, giun tóc cho thấy có nguy cơ ô nhiễm sang khu
vực khoa phòng và khu vực xung quanh.
4.2.5. Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với cán bộ, nhân viên y tế và người
dân tiếp xúc trực tiếp với chất thải bệnh viện
- Trong nghiên cứu chỉ đề cập đến tỷ lệ thương tích do chất thải qua phỏng vấn,
chưa nghiên cứu tình hình mắc bệnh truyền nhiễm của CBYT và nhiễm trùng
bệnh viện. Để đánh giá một cách chính xác và khoa học những tác động của
CTYT đối với CBYT cần có nghiên cứu sâu, có hệ thống về vấn đề này. Các