Công trình đợc hoàn thành tại
:
bộ môn tai mũi họng - trờng đại học y h nội
bệnh viện tai mũi họng trung ơng
Viện ngôn ngữ việt nam Ngời hớng dẫn khoa học : PGS. TS. Phạm khánh ho
GS. TS. Nguyễn Văn lợi Phản biện 1 : GS.TS. Lơng Sỹ Cần
Phản biện 2 : GS.TSKH. Lý Toàn Thắng
Phản biện 3 : PGS.TS. Vũ Thị Bích Hạnh
Luận án đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nớc tổ
chức tại Trờng Đại học Y Hà Nội
Vào hồi: 14 giờ, ngày 27 tháng 6 năm 2007200
Có thể tìm hiểu luận án tại :
- Th viện Quốc gia
- Th viện Thông tin Y học Trung ơng
- Th viện Trờng Đại học Y Hà Nội.
- Th viện Bệnh viện TMH Trung ơng.
- Th viện Viện Ngôn ngữ Việt Nam
Ung th thanh quản và ung th hạ họng là loại ung th hay gặp
trong chuyên khoa tai mũi họng. Nớc ta cha có thống kê đầy đủ về
số BN mắc bệnh và số BN đợc điều trị hàng năm. Nhng theo thống
kê của khoa B1 Bệnh viện Tai mũi họng trung ơng, mỗi năm có
khoảng 150 BN đến khám và đợc chẩn đoán là ung th thanh quản
và ung th hạ họng, có khoảng 80-100 BN đợc phẫu thuật cắt TQTP
[1]. Đa số BN đến muộn, khối u đã lan rộng, điều trị cần triệt để, kết
hợp nhiều phơng pháp: cắt TQTP, cắt TQTP và cắt một phần hạ
họng, nạo vét hạch cổ kết hợp tia xạ hậu phẫu. Sau khi cắt TQTP mặc
dù khối u đã đợc loại bỏ, nhng BN không nói đợc, không giao tiếp
đợc với gia đình và xã hội. Các phơng pháp phục hồi chức năng
phát âm cho BN cắt TQ mặc dù đã đợc nghiên cứu từ lâu. Hiện nay
ngời ta có thể chia ra làm 3 loại giọng sau cắt TQTP [117]: giọng
thanh quản điện, giọng TQ, giọng KTQ. Trong đó sử dụng giọng
KTQ đợc dùng nhiều hơn cả do kỹ thuật đặt van khá đơn giản, tỉ lệ
thành công khá cao và chất lợng giọng nói tốt hơn các phơng pháp
khác. Van phát âm Provox đợc sản xuất tại Hà lan và đợc dùng
nhiều ở châu Âu và Mỹ. Có nhiều nghiên cứu cho thấy u điểm của
van loại Provox nh: chất lợng giọng tốt, thời gian sử dụng dài, biến
chứng ít, việc chăm sóc, vệ sinh van hằng ngày dễ dàng hơn. Phục hồi
phát âm bằng sử dụng van KTQ đòi hỏi phải diễn đạt đợc tình cảm,
sắc thái của con ngời trong ngôn ngữ giao tiếp. Đặc biệt, trong tiếng
Việt là ngôn ngữ có thanh điệu. Tại Việt nam từ trớc tới nay cha có
nghiên cứu nào đánh giá về mặt ngữ âm học của các phơng pháp
phục hồi phát âm cho BN cắt TQTP, cũng nh các bài tập để tăng 2
chất lợng giọng cho BN. Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề trên
chúng tôi tiến hành nghiên cứu luận án: Phục hồi chức năng phát
1.1.1 Nớc ngoài
Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX: bắt đầu sử dụng giọng TQ
[118], [73]. 1908: Hermann Carl Albert Gutzmann (Berlin) tại hội
nghị Tai Mũi Họng quốc tế lần thứ nhất tại Vienna đã giới thiệu 3
nghiên cứu gồm 25 BN nói giọng TQ. 1874: Carl Gussenbauer đã lắp
van phát âm đầu tiên cho BN cắt TQTP. Nicholas Taptas(1900) [84]
đã tạo ra sự thông thơng trực tiếp từ cannula khí quản vào lỗ mở
họng. Paul Hermann Martin Sudeck (1910) đã tạo van cho ống nối giữa
cannula và lỗ mở họng ra ngoài da, để giảm hiện tợng sặc. Một loạt các
công trình khác của Nigel Edwards, Briani (1952), Conley (1958)
nhằm tái tạo phát âm cho BN bằng giọng KTQ. Đến năm 1980: Blom và
Singer áp dụng thành công van một chiều (prosthesis Blom- Singer) để
đặt vào KTQ, tỉ lệ thành công cao trong tái tạo phát âm.[111], [112],
[110]
1.1.2 Việt Nam
Thập kỷ 60-70 đã bắt đầu tiến hành dạy BN giọng TQ nhng kết
quả hạn chế. Năm 1974: bắt đầu áp dụng phục hồi chức năng theo
phơng pháp Staffieri, nhng kết quả thành công thấp do có nhiều biến
chứng [15], [16], [17], [18], [19]. Năm 1996, Trần Minh Trờng, đã đặt
van phát âm tự tạo theo kiểu Blom-Singer cho bệnh nhân cắt TQTP [14].
Hiện nay, khoa U bớu Bệnh viện Tai Mũi Họng trung ơng đang áp
dụng đặt van KTQ, và luyện giọng TQ cho BN cắt TQTP
1.2. Giải phẫu vùng họng thanh quản sau cắt TQTP[107]
Phẫu thuật cắt TQTP lấy bỏ toàn bộ thanh quản, xơng móng, một
hoặc 2 đốt sụn khí quản, cơ dới móng (trám mở KQ), có thể lấy một
phần hay toàn bộ tuyến giáp. Phẫu thuật này có thể kèm theo phẫu thuật
nạo vét hạch cổ. Sau khi cắt thanh quản tạo nên vùng mất chất gồm: một
1.4.2 Thanh điệu
Thanh điệu là đặc trng ngôn điệu của âm tiết. Nó có chức
năng khu biệt âm tiết và do đó nó cũng có chức năng khu biệt vỏ âm
thanh của hình vị hay của từ trong tiếng Việt. Số lợng nhiều nhất là
6 thanh trong tiếng Bắc
1.6 Cấu trúc van phát âm provox
Van phát âm Provox do Công ty Atos Medical (trụ sở chính ở
Thụy Điển) chế tạo năm 1988. Chất liệu của van là cao su silicone
nên có thể đợc dung nạp khi đặt vào cơ thể và ít bị chất nhầy kết
dính do đó độ bền của van cao hơn. Năm 1997, van Provox thế hệ thứ
2 ra đời, có u điểm là có thể đặt vào lỗ thông KTQ từ phía trớc.
Bên trong van đợc phủ một lớp silicone y học, có chứa chất kháng
nấm candida do đó tuổi thọ của van kéo dài hơn.
Chơng 2
Đối tợng v phơng pháp nghiên cứu
2.1. Đối tợng nghiên cứu
2.1.1. Nhóm nghiên cứu
Gồm 35 BN đợc đặt van phát âm tại khoa U bớu Bệnh viện Tai
mũi họng trung ơng từ 2001 đến 2005 (phụ lục 4).
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: BN đợc chẩn đoán xác định là
UTTQ, đợc cắt TQTP tại bệnh viện TMH Trung ơng và đợc đặt
van phát âm. ống họng và lỗ thở đủ rộng. BN ở Hà nội hoặc các tỉnh 5
lân cận, có điện thoại để tiện liên lạc và theo dõi. Có hồ sơ theo dõi
phát âm ít nhất 1 năm
Tiêu chuẩn loại trừ: BN không có khả năng sử dụng van phát âm
Bớc 7: Phân tích ngữ âm
Bớc 8: Xây dựng hoàn thiện bài tập và phơng pháp tập phát âm 6
2.2.3 Đánh giá kết quả nghiên cứu
ắ Đánh giá kết quả phát âm: các BN sau khi đặt van đợc theo
dõi, huấn luyện phát âm theo bài tập và đánh giá kết quả phát
âm theo 3 thời kỳ: tháng thứ 1, tháng thứ 6, tháng thứ 12. Các
tiêu chí đánh giá là (dựa theo cách đánh giá của Wong): tiếng
thở to khi phát âm, tiếng ồn khi phát âm, số âm tiết phát ra trong
1 lần thở, thời gian phát âm tối đa, chất giọng, phát âm các
thanh, tốc độ lời nói, mức độ hiểu đợc của lời nói, khả năng
giao tiếp qua điện thoại
Ngoài ra, còn đánh giá khả năng phát âm phụ âm của các BN để tìm
các phụ âm khó phát âm, từ đó xây dựng bài tập phát âm phụ âm.
ắ Đánh giá kết quả nghiên cứu chất thanh : chất thanh của nhóm
BN nghiên cứu đợc so sánh với chất thanh của nhóm chứng gồm
25 nam giới theo các tiêu chí sau: tỉ lệ đoạn vô thanh cục bộ, số
đoạn gãy giọng, mức độ gãy giọng, độ hài thanh, sự bất định về
tần số (jitter), sự bất định về biên độ (shimmer)
ắ Biến chứng khi sử dụng van: đợc theo dõi, phát hiện và xử trí.
Từ đó có thể đánh giá đợc khả năng dung nạp khi sử dụng van
phát âm.
2.2.4 Phơng pháp xử lý số liệu
ắ Số liệu trong nghiên cứu đợc xử lý theo chơng trình thống kê
SPSS 9.0, vẽ biểu đồ bằng chơng trình Exel-2000 trên máy
tính.
ắ Sử dụng toán thống kê trong nghiên cứu y học [2]
ắ Dùng test t-student trong so sánh giá trị trung bình của 2 nhóm:
3.1.1 Số lợng bệnh nhân, giới:
Có 35 BN, trong đó toàn là nam giới không có BN nữ
3.1.2 Tuổi
Cao nhất là 72, thấp nhất là 29, trung bình: 53,89 10,1. Tuổi < 60 là
24 BN (68,57%), nhóm này cao hơn hẳn nhóm tuổi trên 60 (p < 0,01).
3.2. Đặt van phát âm
3.2.1 Thì đặt van
Đặt van thì 1: 29 BN (82,86%). Đặt van thì 2: 6 BN (17,14%)
3.2.2 Thời gian đặt van
Nhanh nhất là 12 phút, lâu nhất là 21 phút, thì 1 trung bình
là:16,75 1,53 phút, thì 2 trung bình là: 17,63 2,08 phút.
3.2.4 Biến chứng đặt van
Các biến chứng hay gặp là: rò thực-khí quản quanh hoặc qua van,
nhiễm nấm van, tổ chức hạt quanh lỗ thở, hẹp lỗ thở. Các biến chứng
ít gặp là: tụt van, nuốt vớng. .
3.2.5 Thời gian theo dõi
Thời gian theo dõi trung bình là: 22,66 12,89 tháng
3.2.6 Tuổi thọ của van
Tuổi thọ trung bình của van là 14,16 tháng.
3.3. Khả năng phát âm ngay sau đặt van
3.3.1 Tiếng thở khi phát âm
Bảng 3.9: Tiếng thở khi phát âm sau đặt van
Điểm Số BN Tỉ lệ %
1 (Rất to, liên tục)
19 54,28%
2 (Rất to, khoảng 70%)
8 22,86%
3 (To, khoảng 50%)
8 22,86%
4 (Nhỏ, khoảng 30%)
4 11,43%
3 (13-18 âm tiết)
0 0%
4 (19-24 âm tiết)
0 0%
5 (25 âm tiết)
0 0%
Tổng số 35 100%
Nhận xét: Các BN chỉ đạt 1 hoặc 2 điểm, đa số chỉ phát âm đợc
dới 6 âm tiết trong một lần thở
3.3.4 Thời gian phát âm tối đa (tính bằng giây)
Bảng 3.12: Thời gian phát âm tối đa (ngay sau đặt van)
Điểm Số BN Tỉ lệ
1 ( 4 giây)
28 80%
2 (5-8 giây)
4 11,43%
3 (9-12 giây)
3 8,57%
4 (13-16 giây)
0 0%
5 ( 17 giây)
0 0%
Tổng số 35 100%
Nhận xét: Phần lớn các BN chỉ phát âm đợc tối đa không quá 4 giây. 9
3.3.5 Chất giọng
Bảng 3.13: Chất giọng của bệnh nhân (ngay sau đặt van)
Bảng 3.15: Tốc độ lời nói ngay sau đặt van
Điểm Số BN Tỉ lệ
1 (Rất chậm, thời gian nghỉ rất dài)
26 74,29%
2 (Chậm, thời gian nghỉ rất dài)
6 17,14%
3 (Chậm, thời gian nghỉ dài)
3 8,57%
4 (Chậm, thời gian nghỉ ngắn)
0 0%
5 (Gần bình thờng)
0 0%
Tổng số 35 100%
Nhận xét: các BN đều nói chậm hoặc rất chậm, thời gian nghỉ dài 10
3.3.8 Khả năng ngời nghe hiểu lời nói của bệnh nhân
Bảng 3.16: Khả năng hiểu lời nói của bệnh nhân sau đặt van
Điểm Số BN Tỉ lệ
1 (Khoảng <30%) 16 45,71%
2 (Khoảng 30-50%) 12 34,29%
3 (Khoảng 50-70%) 5 14,29%
4 (Khoảng 70-90%) 2 5,71%
5 (Khoảng > 90%) 0 0%
Tổng số 35 100%
Nhận xét: có tới 28 BN (80%) khi nói ngời ta chỉ hiểu đợc < 50%.
3.4 Xây dựng bài tập phát âm
Nguyên tắc xây dựng bài tập phát âm
1. Dựa vào cơ chế phát âm giọng khí-thực quản
Xu xu xu
10. Ka ka ka
Ki ki ki
Ku ku ku
11. Ga ga ga
Ghi ghi ghi
Go go go
12. Ra ra ra
Ri ri ri
Rô rô rô
13. Ai ai ai
Em em em
U u u
14. Kha kha kha
Khi khi khi
Khu khu khu
15. Va va va
Ve ve ve
Vô vô vô
16. Ha ha ha
Hơ hơ hơ
Hô hô hô
17. Pha pha pha
Phê phê phê
Phi phi phi
18. Ma ma ma
Mi mi mi
Mơ mơ mơ
19. Na na na
Nê nê nê
Tã tã tã
Tạ tạ tạ
Táp táp táp
Tạp tạp tạp
Bài tập phát âm câu
Tấp nập
Lm lụng
Chăm chỉ
Long lanh
Bập bùng
Chặng đờng
Chiết cnh
Loáng thoáng
Chiếc thuyền buồm
Tôi bị bệnh đã ba bốn tháng nay,
chữa mãi m vẫn không khỏi hẳn.
Nh tôi cách xa bệnh viện.
3.5 Khả năng phát âm của BN sau huấn luyện
3.5.1 Tiếng thở khi phát âm
Bảng 3.17: Mức độ tiếng thở khi phát âm
Điểm
Sau 1
tháng
Sau 6
tháng
Sau 1
năm
1 Rất to, liên tục 12 0 0
2 Rất to, khoảng 70% 5 3 0
Nhận xét: Tiếng ồn khi phát âm sau 6 tháng giảm rõ rệt so với
sau 1 tháng (p < 0,001), nhng không không khác biệt so với lần
đánh giá sau 1 năm (p > 0,05).
3.5.3 Số lợng âm tiết phát ra trong 1 lần thở
Bảng 3.19 : Số âm tiết phát ra trong 1 lần thở
Điểm
Sau 1 tháng
(số bn)
Sau 6 tháng
(số bn)
Sau 1 năm
(số bn)
1 6 âm tiết
16 6 3
2 7-12 âm tiết
10 7 2
3 13-18 âm tiết
7 6 5
4 19-24 âm tiết
2 13 12
5 25 âm tiết
0 3 13
Tổng số 35 35 35
p < 0,01
p < 0,05
Nhận xét: số lợng âm tiết phát ra trong 1 lần thở sau 1 tháng, sau
6 tháng, sau 1 năm thấy có sự tiến bộ rõ rệt (p < 0,01 và p < 0,05)
16 8 0
2 Khàn trung bình - nặng
7 6 3
3 Khàn trung bình
9 6 7
4 Khàn trung bình - nhẹ
3 10 13
5 Khàn nhẹ
0 5 12
Tổng số 35 35 35
p < 0,05
p
p < 0,05
Nhận xét: Chất giọng của BN sau tập phát âm 1 tháng, sau 6 tháng,
sau 1 năm có sự tiến bộ rõ (p < 0,05) 14
3.5.6 Khả năng phát âm thanh điệu
Bảng 3.22: Khả năng phát âm thanh điệu
Điểm
Sau 1 tháng
(số bn)
Sau 6 tháng
(số bn)
Sau 1 năm
(số bn)
1 Đúng 1 thanh 15 1 0
2 Đúng 2 thanh 9 16 5
3 Đúng 3 thanh 6 8 13
3.5.8 Khả năng ngời nghe hiểu lời nói của bệnh nhân
Bảng 3.24: Đánh giá khả năng hiểu lời nói
Điểm Sau 1
tháng
Sau 6
tháng
Sau 1 năm
1 Khoảng <30% 8 0 0
2 Khoảng 30-50% 9 5 0
3 Khoảng 50-70% 8 6 3
4 Khoảng 70-90% 5 14 8
5 Khoảng > 90% 5 10 24
Tổng số 35 35 35
p < 0,01
p < 0,01
Nhận xét: khả năng nghe hiểu lời nói của BN tăng lên rõ rệt (p < 0,01)
3.5.9 Khả năng giao tiếp qua điện thoại
Bảng 3.25: Đánh giá khả năng giao tiếp qua điện thoại
Điểm Sau 1 tháng Sau 6 tháng Sau 1 năm
1 Không hiểu 13 3 0
2 Hiểu khoảng 30% 4 8 2
3 Hiểu khoảng 50% 6 4 4
4 Hiểu khoảng 70% 5 8 6
5 Hiểu khoảng > 90% 7 12 23
Tổng số 35 35 35
p < 0,05
p
p < 0,05
Nhận xét: Khả năng giao tiếp qua điện thoại của BN sau tập phát
âm 1 tháng, sau 6 tháng, sau 1 năm tăng lên rõ rệt (p < 0,01).
(60%)
29
(82,86%)
x 11
(31,43%)
16
(45,71%)
25
(71,43%)
32
(91,43%)
kh 7
(20%)
15
(42,86%0
23
(65,71%)
33
(94,29%)
ph 14
(40%)
19
(54,29%)
27
(77,14%)
34
(97,14%)
th 13
(37,14%)
20
2-3 tuần, có thể làm thủ thuật cắt cơ xiết họng ngay trong khi phẫu
thuật [117]. Đối với đặt van thì 2, vết mổ đã ổn định nên kết quả phát
âm cũng ổn định hơn. Tuy nhiên, BN phải thêm một lần vào viện và
một lần phẫu thuật.
4.2.2 Thời gian đặt van
Chúng tôi nhận thấy kỹ thuật đặt van khá đơn giản, không đòi
hỏi nhiều dung cụ chuyên biệt. Thời gian đặt van lâu nhất là 21 phút,
nhanh nhất chỉ mất 12 phút. Thời gian đặt van thì 1 trung bình là:
16,75 1,53 phút, thời gian đặt van thì 2 trung bình là: 17,63 2,08
phút. Thời gian đặt van của 2 kiểu trên khác biệt không có ý nghĩa
thống kê ( p > 0,05).
4.2.3 Cắt cơ xiết họng
Trong 35 BN thuộc nhóm nghiên cứu, 29 BN đặt van thì 1 đợc
cắt cơ xiết họng trong khi mổ, còn 6 BN đặt van thì 2 không cắt cơ
xiết họng. Các BN đặt van thì 2 đều đợc làm test thổi đánh giá trớc,
các test cho kết quả dơng tính nên không cần phải cắt cơ xiết họng.
Sự co thắt của cơ vùng HTQ ảnh hởng nhiều đến chất lợng phát âm
[114]. Co thắt cơ xiết họng ngày càng đợc quan tâm, cho chất lợng
giọng
4.2.5 Tuổi thọ của van
Tuổi thọ trung bình của van là 14,16 tháng, sử dụng ngắn nhất là
9 tháng, lâu nhất là 25 tháng. Số van sử dụng là 56 van. Nguyên nhân
thay van phát âm là: rò thực-khí quản gặp 12 BN, van bị nhiễm nấm,
chiều dài của van không tơng thích
4.2.6 Biến chứng
Rò thực khí quản, nhiễm nấm van, cần đợc điều trị kháng sinh
chống nấm. Ackerstaff [21], Aust [23] cho rằng nhiễm nấm là nguyên
nhân hay gặp nhất dẫn đến phải thay van phát âm. Rò quanh van phát
âm: gặp 8 BN bị rò quanh van. Có 18 lần BN bị rò thực-khí quản
(51,43%). Chiều dài của van không tơng thích: có 6 BN (11,43%)
lọc (cơ chế cộng hởng) không bị ảnh hởng.
4.4.2. Dựa trên những đặc điểm riêng tiếng Việt
ắ Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn tiết, một âm tiết / một luồng hơi
phát ra mà âm tiết lại là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa. Do đó,
luyện tập phát âm KTQ lấy âm tiết làm đơn vị cơ bản.
ắ Âm tiết tiếng Việt là đơn vị hoàn chỉnh về ngữ âm, đợc cấu
tạo gồm âm đầu, vần. Tập phát âm tiếng Việt không phải là
tập phát âm phụ âm, nguyên âm, nh các ngôn ngữ Anh,
Pháp, Nhật mà luyện phát âm âm đầu, vần.
4.4.3 Dựa vào khả năng phát âm của BN ngay sau đặt van
Sau đặt van BN đã có khả năng phát âm nhng tốc độ phát âm còn
rất chậm, thời gian nghỉ dài, có nhiều tiếng ồn khi phát âm, chất
giọng khàn, thô. BN không thể hiện đợc các thanh điệu đầy đủ nên
khi nghe BN phát âm rất khó hiểu. Do đó cần hớng dẫn BN tập phát
âm để tăng tốc độ phát âm, tập phát âm thanh điệu, chỗ ngừng, chỗ 19
nghỉ, tạo ngữ điệu lời nói, kỹ năng lấy hơi, kỹ năng bịt lỗ thở khi phát
âm để làm giảm tiếng ồn, tăng khả năng sử dụng luồng hơi.
Từ những đặc điểm nêu trên chúng tôi đã tiến hành xây dựng bài
tập phát âm (mục 3.4) để giúp BN luyện tập cũng nh để đánh giá
khả năng phát âm của BN sau luyện tập.
4.5 Đánh giá kết quả phát âm sau huấn luyện phát âm
4.5.1 Tiếng thở khi phát âm
Sau 1 năm phần lớn BN (80%) có tiếng thở nhỏ hoặc không nghe
thấy khi hít vào. Điểm số trung bình của nhóm nghiên cứu là:
4,41 0,75 điểm. Kết quả của tác giả Wong là: 4,41 0,82 điểm. So
sánh hai kết quả không thấy có sự khác biệt với p > 0,05.
4.5.2 Tiếng ồn từ lỗ thở khi phát âm
Kết quả đánh giá khả năng phát âm thanh điệu sau huấn luyện sau
1 tháng, 6 tháng, 1 năm thấy có tiến bộ rõ (p < 0,01) và tốt hơn hẳn lúc
mới đặt van. Sau 1 năm, 30 BN (85,71%) có thể phát âm đúng 3 thanh
trở lên. Thanh huyền (tà) và thanh ngang (ta) dễ phát âm hơn, thanh sắc
(tá), thanh hỏi (tả), thanh ngã (tã), thanh nặng (tạ) khó phát âm hơn.
Kết quả số thanh trung bình bệnh nhân phát âm đợc là: 3,91 1,07,
không khác biệt với kết quả của Wong là 4,25 1,16 (p > 0,05)
4.5.7 Tốc độ lời nói
Sau khi luyện tập, tốc độ phát âm của BN đợc cải thiện đáng kể
(p < 0,01) ở lần đánh giá sau 1 tháng. Sau 6 tháng, 1 năm tốc độ phát
âm tăng rõ. Lần đánh giá cuối cùng (sau 1 năm), các BN đều đạt điểm
3-5. Trong đó, 16 BN (45,71%) đạt 5 điểm nghĩa là có tốc độ phát âm
gần nh bình thờng. Điểm trung bình là: 4.23 0,81. Tốc độ lời nói
trung bình là: 131,23 14,86 âm tiết/phút.
4.5.8 Mức độ hiểu lời nói của bệnh nhân (intelligibility).
Đó là khả năng ngời nghe hiểu đợc lời nói của bệnh nhân. Kết
quả đánh giá phát âm sau 1 tháng cao hơn khi mới đặt van (p < 0,05).
Lần đánh giá kết quả thứ 2 và thứ 3 đều có sự khác biệt so với lần trớc
đó (p < 0.01). Đặc biệt, sau một năm, khi nghe BN phát âm có thể hiểu
đợc trên 50% ở tất cả các BN. Trong đó có 24 BN (chiếm 68,57%)
nghe bệnh nhân phát âm có thể hiểu đợc trên 90%. Điểm số trung
bình ở lần đánh giá thứ 3 là: 4,32 0,65 điểm. So sánh với kết quả của
Wong là 3,89 1,10 thấy có sự khác biệt rõ rệt với p < 0,01.
4.5.9 Khả năng giao tiếp qua điện thoại
Khả năng giao tiếp qua điện thoại là tiêu chí cao nhất để đánh giá
kết quả phát âm bằng cảm thụ. Sử dụng 3 mốc để đánh giá là: sau 1
tháng, sau 6 tháng, sau 1 năm. Kết quả thấy có sự tiến bộ rõ ở 3 thời
kỳ (p < 0,05). Sau 1 năm có 29 BN (82,86%) ngời nghe có thể hiểu
đợc từ 70% trở lên.
4.5.10. Tổng hợp kết quả phát âm
Kĩ thuật: luyện tập phát âm thanh điệu là điều phối dòng khí để
thay đổi tần số rung và cách rung khác nhau màng HTQ.
ắ Luyện tập phát âm phụ âm đầu bằng giọng KTQ
Kĩ thuật: luyên tập phát âm phụ âm bằng giọng KTQ. Điều phối
dòng khí để phát âm phụ âm hữu thanh (màng HTQ rung)/ vô thanh
(màng HTQ không rung) với hoạt động cấu âm (vị trí cấu âm và
phơng thức cấu âm) .
ắ Luyện tập phát âm nguyên âm, vần bằng giọng KTQ
Kĩ thuât: rung màng (HTQ) và thay đổi khoang cộng hởng
(môi, vị trí và độ nâng của lỡi) để phát âm các nguyên âm và vần.
ắ Tập phát âm từ đa tiết
Kĩ thuật: Điều phối dòng khí (kết hợp giữa thở và phát âm) để
phát âm đúng trọng âm (âm tiết nhấn mạnh bằng cách kéo dài trờng
độ), và âm tiết không nhấn mạnh, đọc lớt chỗ ngừng (giữa 2 âm tiết)
chỗ nghỉ (giữa các từ đa tiết) của từ đa tiết (từ ghép, từ láy)
ắ Tập phát âm các tổ hợp từ
Kĩ thuật: Điều phối dòng khí để phát âm đúng từ đợc nhấn
mạnh (kéo dài hơn), chỗ ngừng, chỗ nghỉ 22
ắ Tập phát âm ngữ
Kĩ thuật: điều phối dòng khí để phát âm đúng trọng âm, nhịp
Ngữ danh từ
Ngữ động từ
ắ Tập phát âm câu
Kĩ thuật: Điều hoà dòng khí để phát âm đúng trọng âm, chỗ
ngừng, chỗ nghỉ, ngữ điệu:
ắ Tập đọc văn bản
Kĩ thuật: điều hòa giữa nhịp thở và phát âm theo đúng nhịp, chỗ
23
2. Xây dựng bài tập phát âm
2.1 Cơ sở xây dựng bài tập: dựa vào. Cơ chế phát âm của giọng
KTQ: cơ chế luồng hơi, cơ chế cấu âm, cộng hởng đợc bảo
toàn. Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt. Khả năng phát âm của BN sau
đặt van
2.2 Bài tập và phơng pháp tập
Quá trình tập phát âm theo các bớc sau:
Tháng đầu: luyện điều phối luồng khí từ phổi làm rung màng HTQ
tạo thanh tính, sau rung theo tần số, rung theo kiểu khác nhau
Tháng thứ 2-3: luyện phát âm thanh điệu, âm, âm tiết
Luyện phát âm thanh điệu: lúc đầu tập phát âm thanh huyền và
thanh ngang, thanh sắc. Sau đó tập thanh có tạo thanh phức tạp:
thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng. Luyện phát âm phụ âm đầu:
theo các tiêu chí đối lập vô thanh/hữu thanh, tắc/xát, bật
hơi/không bật hơi. Luyện phát âm vần, nguyên âm. Luyện phát
âm từ đa tiết. Luyện phát âm các tổ hợp từ. Luyện phát âm cụm
từ. Luyện phát âm câu. Tập đọc văn bản
3. Kết quả huấn luyện theo bài tập phát âm sau đặt van
Qua huấn luyện và đánh giá kết quả phát âm theo bài tập của các
bệnh nhân đặt van khí-thực quản chúng tôi nhận thấy dùng giọng khí-
thực quản phù hợp với BN cắt thanh quản phát âm tiếng Việt. BN sử
dụng luồng hơi từ phổi nên tốc độ, thời gian phát âm kéo dài. BN có
thể điều chỉnh luồng hơi để thay đổi tần số phát âm , tạo chỗ ngừng,
chỗ nghỉ thích hợp, do đó có thể phát âm đợc thanh điệu và ngữ điệu
tiếng Việt.
Tỉ lệ phát âm thành công: 85,71%, tỉ lệ thất bại là: 14,29%
Số âm tiết phát ra trong một lần thở trung bình là: 22,15
7.55 âm tiết/lần thở.
Thời gian phát âm tối đa trung bình của nhóm nghiên cứu là
qua điện thoại. BN có thể giao tiếp khá dễ dàng với cộng đồng, trở lại
với cuộc sống bình thờng
Kiến nghị
Tiếp tục áp dụng, hoàn thiện bài tập và phần mềm tập phát âm
tiếng Việt cho BN sử dụng giọng khí-thực quản. Đẩy mạnh việc
ứng dụng công nghệ thông tin để tập phát âm trên máy tính,
xây dựng bài tập phát âm trên đĩa CD cho BN.
Cần duy trì hoạt động của câu lạc bộ những ngời cắt thanh
quản để ngời bệnh trao đổi kinh nghiệm tập phát âm, giao
tiếp với cộng đồng ngời bệnh. Qua đó, BN tự tin hòa đồng với
cộng đồng ngời bình thờng
Nghiên cứu, áp dụng các phơng pháp phục hồi phát âm tiếng
Việt khác để bổ sung cho phơng pháp sử dụng giọng khí-thực
quản