Nghiên cứu ứng dụng miệng nối Roux-en-y cải tiến sau cắt đoạn dạ dày cực dưới để điều trị loét dạ dày - tá tràng và ung thư dạ dày - Pdf 12


24
sau mổ gặp trong 10,5% tổng số bệnh nhân được cắt đoạn dạ dày cực
dưới, sự khác biệt về tỷ lệ biến chứng giữa hai nhóm bệnh nhân được
nối theo hai phương pháp không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
2. Kết quả phẫu thuật
Có 18,9% bệnh nhân nối theo phương pháp Roux-en-Y cải tiến và
43,6% bệnh nhân nối theo phương pháp Polya có biểu hiện viêm niêm
mạc dạ dày và miệng nối 3-6 tháng sau mổ (p < 0,01, OR = 3,31). Sau 6-
12 tháng, các tỷ
lệ này lần lượt là 14,6% và 40,8% (p < 0,01, OR =
4,02). Tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện trào ngược dịch mật vào mỏm cắt dạ
dày ở nhóm bệnh nhân nối theo phương pháp Polya cao hơn so với
nhóm nối theo phương pháp Roux-en-Y cải tiến (p < 0,01).
7,4% bệnh nhân nối theo phương pháp Roux-en-Y cải tiến và
20,8% bệnh nhân nối theo phương pháp Polya có biểu hiện hội chứng
Dumping sớm 3-6 tháng sau mổ (p < 0,05, OR = 3,27) Sau 6-12 tháng,
các tỷ lệ này lần lượt là 7,1% và 22,4% (p < 0,05, OR = 3,76). Hội
chứng ứ đọng Roux g
ặp ở 7,5% bệnh nhân nối theo phương pháp Roux
cải tiên sau 3-6 tháng và 4,9% sau 6-12 tháng.
78% bệnh nhân sau cắt đoạn dạ dày cực dưới và nối theo phương
pháp Roux-en-Y cải tiến và 69,4% sau nối theo phương pháp Polya có
chất lượng cuộc sống thuộc loại I theo tiêu chuẩn của Visick (p < 0,05).
90,2% bệnh nhân nối theo phương pháp Roux-en-Y cải tiến và 79,6%
bệnh nhân sau nối theo phương pháp Polya có chất lượng cuộc sống sau
phẫu thuật từ 8-10 điểm theo thang điểm 10 của Spitzer (p < 0,05). 1
PHẦN MỞ ĐẦU


2
bệnh nhân sau phẫu thuật. Vì vậy, nhiều nghiên cứu về các phương
pháp tái lập lưu thông dạ dày-ruột sau phẫu thuật cắt đoạn dạ dày cực
dưới cũng đã được nghiên cứu và thực hiện với mục đích chọn được
phương pháp tái lập lưu thông tiêu hoá tốt nhất giúp cải thiện chất
lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Tại Việt Nam, cho đến nay các công trình nghiên cứu đánh giá
về kết qủa của phương pháp tái lập lưu thông dạ dày-ruột theo kiểu
Roux-en-Y sau phẫu thuật cắt đoạn dạ dày cực dưới chưa được công
bố nhiều, do đó chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ứng dụng
miệng nối Roux-en-Y cải tiến sau cắt đoạn dạ dày cực dưới để
điều trị loét dạ
dày - tá tràng và ung thư dạ dày” nhằm mục tiêu:
1. Xác định những đặc điểm cải tiến trong kỹ thuật tái lập lưu
thông tiêu hoá kiểu Roux - en – Y sau phẫu thuật cắt đoạn dạ dày cực
dưới để điều trị ung thư dạ dày và loét dạ dày-tá tràng.
2. Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt đoạn dạ dày có tái lập lưu
thông tiêu hoá theo kiểu Roux - en - Y cải tiến so với phẫu thuật cắt
đoạ
n dạ dày tái lập lưu thông tiêu hoá theo kiểu Polya.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN

1.1. Sơ lược lịch sử điều trị phẫu thuật cắt dạ dày
Jules Emile Pean, một phẫu thuật viên nổi tiếng người Pháp, đã
thực hiện phẫu thuật cắt đoạn dạ dày đầu tiên cho một bệnh nhân bị
ung thư môn vị vào ngày 9/4/1879, phẫu thuật này chỉ lấy đi môn vị

còn lại 7-8cm, khâu một lớp mủi rời.
- Chọn quai đi là đoạn đầu của hỗ
ng tràng dài 40-45cm. Một đầu
quai đi đóng lại theo kiểu Mayo.
- Quai ruột từ góc tá hỗng tràng đến miệng nối tận-bên hỗng tràng,
hỗng tràng dài 15-20cm, miệng nối rộng 3-3,5cm, khâu mủi rời.
Thời gian phẫu thuật trung bình của bệnh nhân cắt đoạn dạ dày cực
dưới là 188,71 ± 20,53 phút, trong đó thời gian mổ của nhóm bệnh nhân
nối theo phương pháp Roux-en-Y cải tiến dài hơn so với nhóm nối theo
phương pháp Polya (p < 0,01). Thời gian hậ
u phẫu trung bình của bệnh
nhân cắt đoạn dạ dày cực dưới là 9,51 ± 1,73 ngày. Biến chứng trong và

22
lần tái khám thứ 2 sau đó 3 tháng, kết quả có 3 bệnh nhân nhóm I (7,1%) và
11 bệnh nhân nhóm II (22,4%) có biểu hiện hội chứng Dumping sớm ở lần
tái khám thứ 2 và sự khác biệt này cũng có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Như vậy kết quả chúng tôi cho thấy bệnh nhân nối theo kiểu Roux-en-Y cải
tiến có biểu hiện hội chứng Dumping sau mổ thấp hơn nhiều so với y văn
trước đây khi sử dụng kỹ thuật củ
a Roux kinh điển. Nguyên nhân được
chúng tôi giải thích có lẽ là do chúng tôi cải biên làm giảm chiều dài miệng
nối theo kiểu Finsterer, chỉ còn 6-8cm.
4.6 Đánh giá chất lượng sống sau phẫu thuật
4.6.2 Chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật cắt dạ dày
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tổng cộng chỉ có 8,3% số bệnh
nhân sau phẫu thuật cắt đoạn dạ dày cực dưới có giảm khả năng sinh hoạt so
vớ
i trước mổ ở lần tái khám thứ nhất và sự khác biệt không có ý nghĩa thống
kê ở 2 nhóm bệnh nhân. Tuy nhiên, tỷ lệ này tăng lên 14,4% ở lần tái khám

dạ dày còn chưa phổ biến. Tháng 11/1961 Hội nghị chuyên đề về
phẫu thuật dạ dày đã được tổ chức lần đầu tiên tại Việt Nam, từ đó
cho đến nay, phẫu thuật cắ
t đoạn dạ dày đã trở thành phổ biến. Đặc
biệt từ sau 1975 trên khắp các bệnh viện tỉnh và thành phố của cả
nước, phẫu thuật cắt đoạn dạ dày theo Billroth II được coi như phẫu
thuật hàng ngày.

1.2. Các phương pháp tái lập lưu thông tiêu hoá sau cắt đoạn dạ
dày cực dưới
1.2.1. Nối mỏm cắt dạ dày- tá tràng
- Ưu điểm: tái lập lưu thông phù hợp với sinh lý
- Nhược điểm: đôi lúc không thể thực hiện được, miệng nối căng
và hệ quả là tỷ lệ dò miệng nối tăng.
Kỹ thuật: Nối kiểu Billroth I (Phương pháp Péan và phương
pháp Von Haberer)
1.2.2. Nối mỏm c
ắt dạ dày- hỗng tràng
- Ưu điểm: đây là phương pháp luôn thực hiện được cho dù có
các thay đổi lớn về mặt sinh lý.
- Nhược điểm: nhìn chung không lớn lắm. Nối theo phương
pháp này đưa tá tràng khỏi đường đi của thức ăn và vì vậy không
giống như sinh lý bình thường. Hơn nữa ngoài việc tạo thêm một

4
miệng khâu nối ở ống tiêu hoá có nguy cơ gia tăng nguy cơ dò bục
miệng nối thì phương pháp này còn có nguy cơ gây nên tắc ruột do
thoát vị nội nếu như phẫu thuật được thực hiện xuyên mạc treo đại
tràng ngang.
Kỹ thuật: Nối kiểu Billroth II (Phương pháp Polya và phương

bệnh nhân nhóm II. Như vây, nhìn chung, hơn 40% bệnh nhân sau cắt
đoạn dạ dày cực dưới và tái lập lưu thông tiêu hóa kiểu Polya có hình
ảnh viêm niêm mạc dạ dày do dịch mật sau mổ.
Như vậy, sau cả 3 lần xét nghiệm, tỷ lệ bệnh nhân có Amylase và
Bilirubine trong dịch dạ dày của nhóm II đều rất cao chiếm tỷ lệ 35,4%. Hơn
nữa, tỷ lệ bệnh nhân có Amylase và Bilirubine trong dịch dạ dày đều cao hơn
hẳn ở nhóm II so với nhóm I với p < 0,01.
Điều này giải thích được tại sao kết
quả nội soi có hình ảnh viêm dạ dày trong hơn 40,8% bệnh nhân nhóm II sau
các lần tái khám trong nghiên cứu của chúng tôi. Fukuhara [50] chỉ ra rằng tái
lập lưu thông Roux-en-Y tốt hơn so với kỹ thuật Billroth I hay II trong việc
ngăn ngừa sự trào ngược dịch mật vào phần dạ dày còn lại và thực quản sau
khi cắt đoạn dạ dày cực dưới.
4.3.2 Hội chứng ứ đọng Roux
Hội ch
ứng ứ đọng Roux được cho là gây nên bởi các rối loạn vận động
của quai Roux, và hội chứng này xuất hiện trên khoảng 30% bệnh nhân
được tái lập lưu thông tiêu hóa theo phương pháp Roux-en-Y.
Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả 4 bệnh nhân có biểu hiện hội
chứng ứ đọng Roux trên lâm sàng vào lần tái khám thứ nhất sau 3 tháng,
chiếm 7,5%. Chúng tôi cho rằng sỡ dĩ nghiên cứu của chúng tôi cho tỷ lệ bệnh
nhân bị hội chứng Roux ít hơn so với y v
ăn là vì quai Roux trong phẫu thuật
của chúng tôi được rút ngắn xuống còn 40-45cm thay vì 60-70cm như trong
phương pháp Roux kinh điển. Tuy nhiên, ở lần tái khám thứ 2 sau đó hơn 3
tháng, chỉ còn 2 bệnh nhân có biểu hiện hội chứng này chiếm 4,9%, còn 2 mất
đi triệu chứng. Điều này có thể được giải thích dựa vào tình trạng rối loạn vận
động cơ thoáng qua sau cắt nối ống tiêu hóa và thời gian cần cho các đầu mút
thần kinh vượt qua được miệ
ng nối là 6 tháng [81].

m
2,4%. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 13,2% bệnh nhân thuộc nhóm I
và 30,9% bệnh nhân nhóm II có biểu hiện ợ đắng và nóng sau xương ức.
Theo Madura JA, sau nối theo kiểu Billroth II, tần suất bệnh nhân
bị trào ngược dịch mật vào mỏm cắt dạ dày lên đến 30-40%. Nghiên
cứu của chúng tôi cho thấy 43,6% bệnh nhân nhóm II có hình ảnh
viêm dạ dày do mật sau lần tái khám thứ nhất sau 3 tháng, tương
đương với nhận định của Madura JA. Ngoài ra, khi tái khám lần thứ 2,
sau hơn 6 tháng, hình ảnh viêm niêm mạc dạ
dày còn gặp trong 40,8%

5
CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm 124 bệnh nhân (114 bệnh nhân ung thư dạ dày và 10 bệnh
nhân loét dạ dày) được phẫu thuật cắt đoạn dạ dày cực dưới tại Bệnh
viện Trung ương Huế và Bệnh viện Trường Đại học Y khoa Huế từ
tháng 1/2003 đến tháng 06/2006. Chia thành 2 nhóm:
* Nhóm 1: Gồm 62 bệnh nhân (7 loét và 55 ung thư dạ dày) được
cắt đoạn dạ dày c
ực dưới và tái lập lưu thông tiêu hoá theo kiểu Roux-
en-Y.
* Nhóm 2: Gồm 62 bệnh nhân (3 loét và 59 ung thư dạ dày) được
cắt đoạn dạ dày cực dưới và tái lập lưu thông tiêu hoá theo kiểu Polya.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên và có so sánh.
2.2.1 Cách chọn nhóm
Làm 124 thăm hoàn toàn giống nhau, được đánh số theo thứ tự từ 1
đến 124. Cho các thăm này vào hộp kín và bốc hoàn toàn ngẫu nhiên bởi

u kính dạ dày còn khoảng 7-8cm và nối tận-bên
với quai hỗng tràng một lớp mũi rời với chỉ Vicryl 3.0.
+ Quai đến của hỗng tràng từ góc Treitz đến miệng nối hỗng
tràng dài 15-20cm miệng nối tận-bên ở mặt trái của hỗng tràng. Bề
dài miệng nối bằng khẩu kính của quai ruột tương ứng, được thực
hiện với chỉ Vicryl 3.0 một lớp, mũi rời.
+ Xử lý mạch máu m
ạc treo quai ruột để bảo đảm tưới máu tốt
cho miệng nối dạ dày-ruột đặt trước đại tràng ngang.
- Kỹ thuật tái lập lưu thông tiêu hoá theo kiểu Polya
+ Sau khi cắt đoạn dạ dày cực dưới, đo chiều dài mỏm cắt dạ
dày còn lại bằng dây rồi đối chiếu lại trên thước cm. Đưa quai đầu
hỗng tràng, quai đến cách góc tá-hỗng tràng 15-20cm, độ dài tuỳ
thuộc vào độ dài mạc treo phầ
n xa đầu hỗng tràng. Quai đến được đặt
ở phía bờ cong vị bé, miệng nối nghiêng về bên trái, được làm với chỉ

19
4.2.2 Kỹ thuật tái lập lưu thông tiêu hóa theo kiểu Roux-en-y cải tiến
Trong nghiên cứu của chúng tôi, kỹ thuật tái lập lưu thông theo
Roux được cải tiến ở hai điểm: chiều dài của quai Roux và chiều dài
miệng nối dạ dày hỗng tràng. Chiều dài quai Roux của bệnh nhân trong
nghiên cứu từ 40-45cm, ngắn hơn nhiều so với Roux kinh điển. Điều
này cũng phù hợp với quan điểm của một số tác giả
khác là rút ngắn
chiều dài quai Roux, thậm chí có tác giả rút ngắn chỉ còn 30cm
Fukuhara. K [50]. Sỡ dĩ chúng tôi rút ngắn quai Roux như vậy với mong
muốn tránh hay giảm thiểu được hội chứng Roux do quai quá dài nhưng
cũng phòng ngừa được tình trạng trào ngược do quai quá ngắn. Điều này
phù hợp với tổng kết Y văn thế giới của Gustavson, những trường hợp

cho giai đoạn sớm và 1,52 cho giai đoạn tiến triển với độ tuổi trung bình là
60,9 ± 18,2 tuổi. Trong khi nghiên cứ
u Kyzer. S [64] lại cho tỷ lệ nhỏ hơn
với nam/ nữ là 1,21 với độ tuổi trung bình là 66,4-68 tuổi.
Có 93,5% bệnh nhân vào viện do triệu chứng đau thượng vị. 20,2%
bệnh nhân vào viện do biến chứng chảy máu tiêu hóa và hẹp môn vị.
Kết quả nội soi dạ dày-tá tràng trước mổ cho thấy tổn thương định khu
nhiều nhất ở góc bờ cong nhỏ dạ dày với 43,5%, ở hang vị với 33,9%. Điều
này c
ũng phù hợp với y văn thế giới đó là ung thư dạ dày gặp nhiều nhất ở
vùng hang-môn vị và góc bờ cong nhỏ dạ dày. Mặt khác, 92% bệnh nhân
ung thư dạ dày trong nghiên cứu của chúng tôi đều thuộc loại ung thư biểu
mô tuyến, ở các mức độ biệt hóa khác nhau, trong đó 65% có mức độ biệt
hóa tế bào tốt. Có 8% bệnh nhân là loét lành tính.
4.2 Đặc điểm phẫu thuật
4.2.1 Giai đoạn củ
a ung thư dạ dày vào thời điểm phẫu thuật
- Giai đoạn ung thư: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phần lớn bệnh
nhân vào viện ở giai đoạn u T
3
,T
4
với 84,2%. Theo Jentchura. D: 19,2%
được chẩn đoán ung thư dạ dày ở giai đoạn < T
1
. Còn theo Fukuhara. K. thì
có 69,6% vào viện và được phẫu thuật ở giai đoạn T
1
.
- Thâm nhiễm hạch: Có 14 bệnh nhân (chiếm 12,3%) được phẫu thuật

2.4. Theo dõi hậu phẫu
- Theo dõi sự trở lại của nhu động ruột
- Theo dõi ống thông dạ dày: lấy dịch dạ dày sau khi bệnh nhân
đã trung tiện để xét nghiệm tìm Bilirubin và Amylase và đ
ánh giá kết
quả cả 2 nhóm nhằm mục đích xác định sự hiện diện của dịch mật và
tụy ở trong mỏm dạ dày còn lại để tìm Bilirubin và Amylase phối
hợp với khoa Sinh hoá để thực hiện.
- Theo dõi các biến chứng sau mổ: chảy máu trong ổ phúc mạc,
bục mỏm tá tràng, bục miệng nối vị-tràng, hẹp miệng nối, chảy máu
miệng nối.

8
- Thời gian hậu phẫu: Đánh giá thời gian hậu phẫu cho cả hai
nhóm kể từ sau phẫu thuật đến khi ra viện.
2.5. Theo dõi bệnh nhân sau mổ
Hẹn bệnh nhân tái khám từ 3-6 tháng và 6-12 tháng sau mổ.
Khám và theo dõi các thông số:
- Lâm sàng: cân nặng, hội chứng Dumping, ợ nóng và đắng sau
xương ức, khả năng lao động sinh hoạt
- Cận lâm sàng:
+ Nội soi dạ dày: đánh giá đại thể niêm mạc dạ dày, niêm mạc
miệng nối. Đánh giá viêm dạ dày b
ằng nội soi dựa vào bảng phân
loại của hệ thống Sydney.
+ Sinh thiết niêm mạc dạ dày trên miệng nối và niêm mạc miệng
nối làm giải phẫu bệnh, đánh giá các thay đổi về mặt vi thể. Viêm dạ
dày được phân thành viêm nông, viêm mạn teo hay quá sản.
+ Lấy dịch dạ dày để xác định sự hiện diện của Bilirubine và
Amylase

Tổng 66 11 13 0
Có 78% bệnh nhân nhóm I và 69,4% bệnh nhân nhóm II có chất
lượng cuộc sống thuộc loại I theo tiêu chuẩn của Visick. Sự khác biệt
giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Bảng 3.40 Chất lượng cuộc sống theo Spitzer
Chỉ số Spitzer
Nhóm
5-7 8-9 10 Tổng
N 4 6 31 41
Nhóm 1
% 9.8 14.6 75.6 100
N 10 6 33 49
Nhóm 2
% 20.4 12.2 67.3 100
Tổng 14 12 64 90
Nhóm I chiếm 90,2% và nhóm II chiếm 79,6% có chất lượng
cuộc sống sau mổ theo tiêu chuẩn Spitzer từ 8 điểm trở lên. Chỉ số
Spitzer càng cao thì chất lượng cuộc sống của bệnh nhân càng được cải
thiện. Sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

16
3.6.2.5. Sự thay đổi về cân nặng Sự khác nhau về thay đổi cân nặng ở
hai nhóm bệnh nhân ở lần tái khám thứ 2 không có ý nghĩa thống kê
với p > 0,05.
3.6.2.6. Kết quả Amylase dịch dạ dày
Bảng 3.35 Kết quả Amylase dịch dạ dày
Amylase dịch dạ dày P OR
Nhóm bệnh
Không Có Tổng
N 35 6 41


4.93

Nhóm I chiếm 10% và nhóm II chiếm 35,4%. Sự khác biệt giữa
2 nhóm có ý nghĩa thống kê với p<0,01

9
+ Đánh giá chất lượng cuộc sống dựa theo thang điểm Spitzer:
Bảng 2.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống dựa theo thang điểm Spitzer
STT Triệu chứng Điểm
1 Công tác
Như bình thương hay gần như bình thường
Cần giúp đỡ nhiều hay hạn chế nhiều
Bỏ công tác hoàn toàn

2
1
0
2 Sinh hoạt thường nhật
Tự chăm sóc cá nhân được bao gồm cả đi lại
Cần giúp đỡ mới làm được
Không thể tự chăm sóc cá nhân dù là nhỏ

2
1
0
3 Sức khỏe
Cảm giác luôn khỏe khoắn
Thường cảm thấy hụt hơi hay yếu sức khi sinh hoạt
Cẩn thấy rất yếu, đôi khi như đang bệnh nặng


3.1 Đặc điểm chung
3.1.1 Tuổi và giới: Tỷ lệ nam/nữ = 1,64. Không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê về phân bổ giới và tuổi ở hai nhóm I và II (p > 0,05).
3.1.2 Nơi sinh sống 76% bệnh nhân sống ở thành thị, 24% bệnh nhân
sống ở vùng nông thôn.
3.2 Đặc điểm lâm sàng
3.2.1 Lý do vào viện: Đau thượng vị là lý do vào viện chính cho cả
hai nhóm với 93,5%. 20,2% vào viện do biến chứng, có 9,6% vào
viện do biến chứng xuấ
t huyết tiêu hóa.
3.2.2 Triệu chứng lâm sàng: 100% bệnh nhân vào viện có triệu
chứng đau vùng thượng vị, 29,1% bệnh nhân có u lớn vùng thượng vị
sờ thấy được.
3.3 Đặc điểm cận lâm sàng
3.3.1 Số lượng hồng cầu Số lượng hồng cầu trung bình cho cả hai
nhóm là 4,15 ± 0,61x10
12
/l.
3.3.2 Nhóm máu Bệnh nhân có nhóm máu O chiếm đa số với tỷ lệ
42,7%. Nhóm máu A chỉ chiếm 29,8%.
3.3.3 Đặc điểm nội soi dạ dày-tá tràng trước mổ
Bảng 3.7 Nội soi dạ dày-tá tràng trước mổ
Nhóm bệnh Góc BCVN Hang vị Môn vị p
N 23 25 14
Nhóm I
% 18,5 20,2 11,3
N 34 19 9
Nhóm II
% 27,4 15,3 7,3

3.6.2.4. Kết quả nội soi và sinh thiết
Bảng 3.33 Kết quả nội soi và sinh thiết
Hình ảnh nội soi dạ dày P OR
Nhóm bệnh
Bình
thường
Viêm niêm mạc dạ
dày+miệng nối
Tổng
N 35 6 41
Nhóm I
% 85.4 14.6 100
N 29 20 49
Nhóm II
% 59.2 40.8 100
N 64 26 90
Tổng số
% 71.1 28.9 100
< 0.01

4.02
14
3.6.1.6. Kết quả nội soi-sinh thiết
Có 10 bệnh nhân nhóm I và 24 bệnh nhân nhóm II có hình ảnh
viêm niêm mạc dày và miệng nối ở lần tái khám thứ nhất, với tỷ lệ
lần lượt là 18,9% và 43,6%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với
p<0,01. Nguy cơ viêm niêm mạc dày và miệng nối sẽ cao gấp 3,31

N 83 25 108
Tổng
% 76.8 23.2 100
< 0.01

5.52

Có 5 bệnh nhân nhóm I chiếm 9,6% và 20 bệnh nhân nhóm II
chiếm 37% có Bilirubine trong dịch dạ dày sau mổ. Sự khác biệt giữa
hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p<0,01.

11
3.3.4 Đặc điểm siêu âm bụng trước mổ có 35,5% bệnh nhân không
phát hiện được u, 54,8% bệnh nhân có hình ảnh dày thành dạ dày.
3.3.5 Đặc điểm tế bào học qua nội soi sinh thiết trước mổ
Bảng 3.9 Đặc điểm giải phẫu bệnh lý tổn thương
Ung thư Giải phẫu
bệnh l
ý
Nhóm
BM tuyến
BH tốt
BM tuyến
BH vừa
BM tuyến
BH kém
Mô liên
kết
Loét
N 24 15 11 5 7

Bảng 3.15 Amylase trong dịch dạ dày sau khi bệnh nhân trung tiện
Amylase dịch dạ dày P OR
Nhóm bệnh
Không Có Tổng
N 53 9 62
Nhóm I
% 85.5 14.5 100.0
N 43 19 62
Nhóm II
% 69.4 30.6 100.0
N 96 28 124
Tổng
% 77.4 22.6 100.0
< 0.05

2.60

Có 14,5% bệnh nhân nhóm I và 30,6% bệnh nhân nhóm II
xác định có Amylase trong dịch dạ dày sau mổ. Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p<0,05.
3.5.2 Xác định Bilirubine trong dịch dạ dày
Bảng 3.16 Bilirubine trong dịch dạ dày sau khi bệnh nhân trung tiện
Bilirubin dịch dạ dày P OR
Nhóm bệnh
Không Có Tổng
N 56 6 62
Nhóm I
% 90.3 9.7 100
N 42 20 62
Nhóm II

N 49 4 53
Nhóm I
% 92.5 7.5 100
N 43 12 55
Nhóm II
% 78.2 19.8 100
N 92 15 108
Tổng
% 86 14 100
< 0.05

3.27

3.6.1.3. Ứ đọng Roux: 4 bệnh nhân thuộc nhóm I (nối kiểu Roux-en-
Y cải tiến) có biểu hiện ứ đọng Roux sau mổ chiếm 7,5%.
3.6.1.4. Sinh hoạt hàng ngày: 7,5% bệnh nhân nhóm I và 9,1% bệnh
nhân nhóm II có giảm khả năng sinh hoạt bình thường sau mổ. Sự
khác nhau không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
3.6.1.5. Trọng lượng bệnh nhân: Sự khác biệt về thay đổi trọng lượng sau
mổ của hai nhóm bệnh nhân không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status