BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
*************
Phạm Hoàng Lai
NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ
LIỆT THẦN KINH QUAY KHÔNG HỒI PHỤC
BẰNG PHẪU THUẬT CHUYỂN GÂN
THEO PHƯƠNG PHÁP SMITH
Chuyên ngành: Chấn thương - Chỉnh hình
Mã số: 62.72.07.25
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Hà nội – 2009 Công trình được hoàn thành tại:
Viện nghiên cứu khoa học y dược lâm sàng 108 Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Nguyễn Việt Tiến
TS. Lê Văn Đoàn
Hoàng Lai (2005), “ Tổng quan về các phương pháp
chuyển gân phục hồi chức năng bàn tay trong điều trị
di chứng liệt thần kinh quay hiện nay”, Tạp chí Y học
thực hành, số 3/505, tr 63-65.
2. Phạm Hoàng Lai, Nguyễn Việt Tiến, Lê
Văn Đoàn (2008), “Kết quả bước đầu điều trị di
chứng liệt thần kinh quay cao bằng phẫ
u thuật chuyển
gân theo phương pháp Smith”, Tạp chí Y học Quân
sự, số 3/252, tr 23-26.
3. Phạm Hoàng Lai, Nguyễn Việt Tiến, Lê
Văn Đoàn (2008), “Kết quả điều trị di chứng liệt thần
kinh quay bằng phẫu thuật chuyển gân theo phương
pháp Smith”, Tạp chí Y học thực hành, số
620+621/2008, tr 307-311.
4. Phạm Hoàng Lai, Nguyễn Việt Tiến, Lê
Văn Đoàn (2008), “Liệt thần kinh quay thấp không
hồi phục và kết qu
ả điều trị bằng phẫu thuật chuyển
gân”, Tạp chí thông tin y dược, số 11/ 2008, tr 14-17. 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Liệt thần kinh quay (TKQ) thường gặp trong lâm sàng.
Nguyên nhân thường gặp do chấn thương, đặc biệt là trong gãy thân
xương cánh tay. Tỷ lệ liệt TKQ không hồi phục chiếm từ 10% đến
20% các trường hợp liệt TKQ. Chuyển gân được xem là phương pháp
điều trị hiệu quả nhất đối với liệt TKQ không hồi phục. Có nhiều
xuất biện pháp khắc phục để đạt kết quả phục hồi chức năng cao nhất.
3. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài có tính khoa học và thực tiễn vì đã đề cập đến một
phương pháp chuyển gân có nhiều ưu điểm, phù hợp hơn về mặt sinh
cơ h
ọc để điều trị liệt TKQ không hồi phục, một loại tổn thương phức
tạp, thường gặp trong Chấn thương Chỉnh hình.
Đề tài có ý nghĩa thời sự vì cho đến nay, chuyển gân vẫn là
phương pháp điều trị hiệu quả nhất đối với liệt TKQ không hồi phục,
ở nước ta chưa có tác giả nào nghiên cứu và ứng dụng phương pháp
chuyển gân của Smith trong đ
iều trị liệt TKQ không hồi phục.
4. Cấu trúc của luận án
Luận án có 124 trang, gồm các phần: đặt vấn đề (3 trang),
tổng quan (34 trang), đối tượng và phương pháp nghiên cứu (20
trang), kết quả (33 trang), bàn luận (32 trang), kết luận (2 trang).
Ngoài ra, luận án còn có 120 tài liệu tham khảo, 14 hình và 29 ảnh
minh họa, 22 bảng biểu và phần phụ lục.
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Những đặc điểm giải phẫu và sinh cơ học các cơ
1.1.1.
Đặc điểm giải phẫu các cơ vùng cẳng tay
1.1.1.1. Khu cẳng tay trước
Cơ sấp tròn có nguyên uỷ ở mỏm trên ròng rọc xương cánh
tay, bắt chéo phía trước hai xương cẳng tay và bám tận vào bờ ngoài
1/3 giữa xương quay, tác dụng làm sấp cẳng tay. Cơ gấp cổ tay quay,
cơ gan tay dài và cơ gấp cổ tay trụ có nguyên uỷ là gân chung bám ở
mỏm trên ròng rọc xương cánh tay. Cơ gấp cổ tay quay bám tận vào
mặt trước nền x
ương bàn II, tác dụng gấp và nghiêng quay cổ tay. Cơ
Điều này làm tăng thêm biến dạng nghiêng quay của cổ tay. Hiện nay,
cơ sấp tròn được chuyển cho cơ duỗi cổ tay quay ngắn để khắc phục
biến dạng nghiêng quay khớ
p cổ tay.
1.1.2. Đặc điểm sinh cơ học các cơ
1.1.2.1. Sức cơ và độ dài co cơ
Sức cơ và độ dài co cơ là những chỉ tiêu đánh giá khả năng co
cơ của một cơ. Sức cơ là lực tạo ra khi cơ co và tỷ lệ thuận với thiết
diện cắt ngang của cơ. Độ dài co cơ là khoảng cách mà gân di chuyển
4
khi cơ co và tỷ lệ thuận với chiều dài sợi cơ cấu tạo nên nó. Sức cơ có
thể tăng lên do luyện tập nhưng độ dài co cơ thì không thay đổi.
Ứng dụng
: Đối với động tác duỗi, biên độ duỗi quan trọng
hơn lực duỗi. Vì vậy, độ dài co cơ của cơ động lực quan trọng hơn sức
cơ. Cơ gấp cổ tay quay không khỏe bằng cơ gấp cổ tay trụ nhưng có
độ dài co cơ lớn hơn nên sẽ phục hồi biên độ duỗi ngón tốt hơn và
được xem là cơ động lực duỗi ngón phù hợp hơn c
ơ gấp cổ tay trụ.
1.1.2.2. Sự hoạt động hiệp đồng của các cơ
Các cơ hoạt động hiệp đồng là các cơ cùng co đồng thời để
tăng thêm hiệu quả co cơ của từng cơ riêng lẻ. Điển hình là sự hiệp
đồng giữa các cơ gấp cổ tay và các cơ duỗi ngón hoặc giữa các cơ
duỗi cổ tay và các cơ gấp ngón. Khi duỗi ngón thì các cơ duỗ
i chung
là cơ động lực thực hiện động tác trong khi các cơ gấp cổ tay đóng vai
trò cân bằng làm vững khớp để tạo điều kiện cho các ngón duỗi thuận
lợi hơn. Vì vậy, chuyển cơ gấp cổ tay quay hoặc cơ gấp cổ tay trụ cho
cơ duỗi ngón thì kết quả sẽ tốt hơn chuyển các cơ gấp nông.
luyện tập sau mổ. Nhược điểm là
độ dài co cơ của cơ gấp cổ tay trụ
ngắn nên không thể duỗi hết biên độ các ngón đồng thời khi duỗi khớp
cổ tay. Việc lấy đi cơ gấp cổ tay trụ làm yếu lực gấp cổ tay, thay đổi
trục cơ năng và tăng thêm biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay. Hơn
nữa, do không phục hồi động lực giạng ngón I nên động tác giạng
ngón I bị hạn ch
ế.
1.2.3. Các phương pháp sử dụng cơ gấp cổ tay quay làm động lực
Các tác giả như Brand P. W., Tsuge K. thực hiện chuyển cơ
sấp tròn cho cơ duỗi cổ tay quay ngắn; cơ gấp cổ tay quay qua màng
liên cốt cho cơ duỗi chung; cơ gan tay dài cho cơ duỗi dài ngón I.
Tsuge K. đã ứng dụng phương pháp này này điều trị cho 27
BN liệt TKQ. Kết quả đạt được sự phục hồi biên độ vận động các
khớp rất tốt, hạn chế được biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay. Tác
giả thấy rằng chuyển cơ gấp cổ tay quay qua màng liên cốt có ưu điểm
là đường đi thẳng nên làm tăng hiệu quả co cơ, ít có nguy cơ dính gân
hơn chuyển cơ gấp cổ tay trụ qua bờ trụ cẳng tay. Tuy nhiên, tác giả
cũng thừa nhận là biên độ giạng ngón I còn hạn chế vì phương pháp
này không phụ
c hồi được động lực để giạng ngón I.
6
Smith R. J. thấy rằng động tác giạng ngón I có vai trò rất quan
trọng đối với chức năng của bàn tay nên chủ trương phục hồi. Tác giả
cải biên kỹ thuật phục hồi vận động ngón I từ phương pháp của Tsuge
K. bằng cách treo gân cơ giạng dài ngón I vào chỗ bám tận của gân cơ
cánh tay quay trong tư thế xương bàn I giạng tối đa. Sau đó, chuyển
cơ gan tay dài cho cơ duỗi ngắn và duỗi dài ngón I sau khi đã chuyể
n
duỗi ngón nên có những nhược điểm đã được phân tích ở phần trên.
Đến năm 2005, Hoàng Vĩnh Phúc báo cáo kết quả chuyển gân
theo phương pháp Iselin (phương pháp mà Đỗ Lợi đã ứng dụng trước
đó) điều trị cho 15 trường hợp di chứng liệt TKQ cao. Kết quả phục
hồi chức năng vận động
đạt được khá tốt. Tuy nhiên, tác giả cũng thấy
rằng, phương pháp này có nhược điểm là động tác duỗi và giạng ngón
I hạn chế cả về biên độ lẫn sức co cơ, tất cả các BN đều có biến dạng
nghiêng quay cổ tay với các mức độ khác nhau.
Tóm lại, phương pháp chuyển gân của Smith, với những cải
biên kỹ thuật như chuyển gân cơ gấp cổ tay quay qua màng liên cốt
cho cơ duỗ
i chung và kỹ thuật treo gân cơ giạng dài ngón I vào gân cơ
cánh tay quay là phù hợp về mặt sinh cơ học, làm tăng thêm hiệu quả
phục hồi chức năng bàn tay. Ở nước ta hiện nay, vấn đề này vẫn chưa
được nghiên cứu đầy đủ. Chính vì vậy, đây là lý do để tiến hành
nghiên cứu đề tài này.
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- 72 BN bị tổn thương TKQ không hồi phục. Trong
đó, có 22
BN hồi cứu và 50 BN tiến cứu. Tuổi trung bình là 29,5. Tập trung
nhiều nhất ở lứa tuổi từ 20 đến 40 tuổi. Có 36 BN liệt TKQ cao và 36
BN liệt thấp. Có 49 BN liệt TKQ do vết thương làm đứt TK, 21 BN
tổn thương TKQ có liên quan đến gãy xương.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Tất cả các BN hồi cứu cũng như tiến cứu đều được lựa chọn
theo chỉ tiêu thống nhất và áp dụng cùng một quy trình kỹ thuậ
t mổ.
Về hồi cứu, dữ liệu được thu thập qua nghiên cứu, tổng hợp từ hồ sơ,
0
trở lên.
. Ngón I duỗi và giạng hết biên độ.
. Không có biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay.
. Phục hồi lực nắm đạt từ 60% trở lên.
. BN theo được nghề cũ.
. BN rất hài lòng với kết quả phẫu thuật.
* Tốt
: . Các ngón gấp và duỗi hết biên độ khi cổ tay ở tư thế 0
0
.
. Ngón I duỗi và giạng hết biên độ.
. Nghiêng quay khớp cổ tay dưới 10
0
.
. Phục hồi lực nắm đạt từ 50% - 60%.
. BN theo được nghề cũ.
9
. BN hài lòng với kết quả phẫu thuật.
* Trung bình
: . Các ngón duỗi hết biên độ khi cổ tay gấp 20
0
.
. Các ngón gấp hết khi cổ tay duỗi 20
0
.
. Nghiêng quay từ 10
0
- 20
với xử trí vết thương hoặc ổ gãy xương. Tất cả những trường hợp còn
lại, tổn thương TK đều bị bỏ sót. 10
- Xử trí kỳ đầu trong liệt thấp
Bảng 3.2: Xử trí kỳ đầu trong liệt thấp (n=36)
Xử trí kỳ đầu Số lượng Tỷ lệ
Cắt lọc, khâu vết thương đơn thuần 25 69,5%
Kết hợp xương đơn thuần 3 8,3%
Cắt lọc vết thương và xử trí TK 4 11,1%
Nắn chỉnh, bó bột 3 8,3%
Điều trị nội khoa 1 2,8%
Cộng 36 100%
Chỉ có 4 BN (11,1%) được xử trí tổn thương TKQ kỳ đầu
cùng với xử trí vết thương.
3.3. Thời điểm tiến hành phẫu thuật chuyển gân
- Trong liệt cao
Bảng 3.3: Thời điểm phẫu thuật trong liệt cao (n=36)
Thời điểm phẫu thuật Số lượng Tỷ lệ
Từ 6 tháng đến 1 năm 19 52,8%
Sau 1 năm 17 47,2%
Cộng 36 100%
Tất cả các BN được phẫu thuật chuyển gân ở thời điểm sau 6
tháng từ khi tổn thương. Trong đó, thời điểm từ trước 1 năm là 19/36
trường hợp (52,8%) và sau 1 năm là 17/36 trường hợp (47,2%).
Biên độ gấp Liệt cao Liệt thấp Tổng hợp Tỷ lệ
< 10
0
3 2 5 8,2%
10
0
- 29
0
4 1 5 8,2%
30
0
- 50
0
19 20 39 63,9%
> 50
0
5 7 12 19,7%
Cộng 31 30 61 100%
Trung bình
X
= 29,7
0
SD= 13,9
X
= 32,2
0
SD= 13
X
30
0
- 50
0
12 17 29 47,5%
> 50
0
1 4 5 8,2%
Cộng 31 30 61 100%
Trung bình
X
= 27,3
0
SD= 14,5
X
= 33,2
0
SD= 19,5
X
= 30,6
0
SD= 17,6
Có 56/61 trường hợp (chiếm 91,8%) có khả năng duỗi cổ tay
trên 10
0
khi khớp bàn ngón duỗi. Trong đó, có 34 BN (chiếm 55,7%)
0
SD= 2,5
X
= 89
0
SD= 3,5 Tất cả BN đều có khả năng gấp khớp bàn ngón từ 70
0
trở lên.
Trong đó, có 57/61 BN (chiếm 93,5%) gấp trên 80
0
. Biên độ gấp khớp
bàn ngón trung bình là 89
0
.
13
Bảng 3.8: Biên độ duỗi khớp bàn ngón (n=61)
Biên độ duỗi Liệt cao Liệt thấp Tổng hợp Tỷ lệ
Dưới 10
0
2 0 2 3,3%
Đạt 10
0
29 30 59 96,7%
Biên độ giạng Liệt cao Liệt thấp Tổng hợp Tỷ lệ
< 50
0
2 0 2 3,3%
50
0
- 60
0
21 23 44 72,1%
> 60
0
8 7 15 24,6%
Cộng 31 30 61 100%
Trung bình
X
= 58,2
0
SD= 9,4
X
= 59,2
0
SD= 7,1
X
= 58,6
0
SD= 8,4
= 70%
SD= 11,7 Có 54/61 trường hợp (chiếm 88,5%) lực nắm đạt được trên
60% so với bên tay lành. Trong đó, có 8 BN (chiếm 13,1%) đạt được
lực nắm trên 80%. Lực nắm tương quan trung bình là 70%
3.4.2.5. Về biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay
Trong nhóm BN liệt cao, không có trường hợp nào có biến
dạng nghiêng quay khớp cổ tay sau khi chuyển gân. Trong nhóm liệt
thấp, có 2 BN nghiêng quay cổ tay dưới 10
0
khi duỗi cổ tay. Nghiêng
quay mất đi khi cổ tay ở tư thế trung bình hoặc gấp.
3.4.2.6. Kết quả khảo sát ý kiến chủ quan của bệnh nhân
Bảng 3.11: Khảo sát ý kiến chủ quan của BN (n=61)
Ý kiến của BN Số lượng Tỷ lệ
Rất hài lòng 55 90,2%
Hài lòng 5 8,2%
Chấp nhận 1 1,6%
Không hài lòng 0 0%
Cộng 61 100%
Có 60/61 BN (chiếm 98,4%) hài lòng và rất hài lòng về kết
quả đạt được sau phẫu thuật.
15
3.4.2.7. Khả năng theo nghề nghiệp cũ
Bảng 3.12: Khả năng theo nghề cũ (n=61)
11
(18,1%)
1
(1,6%)
0
61
(100%)
Phẫu thuật trong vòng 1 năm sau tổn thương cho kết quả tốt
hơn sau 1 năm. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
16
3.4.2.10. Liên quan giữa quá trình luyện tập và kết quả
Bảng 3.15: Liên quan giữa sự luyện tập sau mổ và kết quả (n=61)
Kết quả
Luyện tập
Rất tốt Tốt Vừa XấuCộng
Thường xuyên
44 4 0 0 48
Không thường
xuyên
5 7 1 0 13
Cộng
(tỷ lệ %)
49
(80,3%)
11
(18,1%)
1
17
Theo Brown P.W., khi tiên lượng phục hồi TK là kém hoặc
không thể phục hồi như mất đoạn TK quá dài, KHPM lớn hoặc sẹo
dính ngay trên đoạn TK tổn thương thì nên tiến hành chuyển gân ngay
mà không cần chờ đợi sự hồi phục TK. Trường hợp TK được khâu nối
thì phải chờ cho đến khi chắc chắn không có sự hồi phục TK thì mới
tiến hành chuyển gân.
Theo Đỗ Lợi, chuyển gân quá sớm hoặc quá muộn
đều bất lợi
cho sự phục hồi chức năng sau mổ. Cũng theo tác giả, đối với những
trường hợp tiên lượng không thể nối, ghép TK hoặc nối, ghép TK khó
có khả năng hồi phục thì nên chuyển gân ngay sau khi VTPM liền sẹo.
Với những trường hợp đã nối, ghép hoặc gỡ dính TK thì thời gian theo
dõi và chờ TK phục hồi là 6 tháng. Sau thời gian này, nếu không có
dấu hiệu phục hồi thì nên tiến hành chuyể
n gân. Nguyễn Đức Phúc
cũng thống nhất rằng, đối với liệt TKQ quá 6 tháng mà không có dấu
hiệu hồi phục thì có chỉ định chuyển gân.
Đối với tổn thương TKQ cao mà không được xử trí TK kỳ
đầu, nếu đến trước 6 tháng thì nên mở kiểm tra và xử trí TK, nếu đến
sau 6 tháng mà không có dấu hiệu phục hồi thì có chỉ định chuyển
gân. Với các tổn thương được xử trí kỳ đầu, thời đ
iểm để chỉ định
chuyển gân là sau 9 tháng nếu TK không hồi phục. Với liệt thấp, thời
điểm chuyển gân là 3 tháng sau tổn thương nếu TK không được xử trí
kỳ đầu, nếu TK được khâu nối thì chờ đến sau 6 tháng.
Theo kết quả nghiên cứu này, những BN được tiến hành phẫu
thuật chuyển gân sau tổn thương trong vòng một năm trở lại cho kết
quả phục hồi chức nă
ng tốt hơn các BN được phẫu thuật muộn sau 1
III và IV chuyển qua màng liên cốt để phục hồi duỗi các ngón. Ưu
điểm của phương pháp này là độ dài co cơ của cơ gấp nông lớn hơn
độ dài co c
ơ của cơ duỗi ngón nên có khả năng duỗi hết biên độ các
ngón. Phương pháp này có nhược điểm là cơ gấp nông không phải là
cơ hoạt động hiệp đồng với các cơ duỗi ngón nên sẽ gặp khó khăn
trong tập luyện phục hồi vận động, nhất là ở người lớn tuổi. Ngón I
không duỗi độc lập được đối với các ngón khác. Hơn nữa, khi lấy đi
c
ơ gấp nông thì lực nắm của bàn tay sẽ bị suy giảm đi. Vì vậy, xét về
đặc điểm cấu trúc giải phẫu và sinh cơ học thì cơ gấp cổ tay quay là cơ
động lực phù hợp nhất để phục hồi duỗi các ngón. Do đó, Brand P.
19
W., Tsuge K., Smith R. J., đã chủ trương sử dụng cơ gấp cổ tay quay
để phục hồi duỗi các ngón .
Trong nghiên cứu này, cơ gấp cổ tay quay được lựa chọn làm
cơ động lực để duỗi ngón. Kết quả có hơn 90% số BN có khả năng
duỗi tối đa các ngón khi khớp cổ tay duỗi trên 10
0
. Không có trường
hợp nào có biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay do phẫu thuật chuyển
gân gây ra làm ảnh hưởng chức năng của bàn tay.
4.3.3. Phục hồi vận động ngón I
Vai trò của cơ gan tay dài trong chuyển gân điều trị liệt TKQ
không hồi phục được đề cập đầu tiên bởi Starr C. L. và hiện nay được
xem là cơ động lực phù hợp nhất phục hồi vận động ngón I.
Smith R. J., Brand P. W. và Hollister A. nhấn mạnh tầm quan
tr
ọng của động tác giạng ngón I do cơ giạng dài chi phối. Cơ giạng dài
khớp mềm mại, vận động thụ động hết biên độ. Sau mổ, BN được
hướng dẫn tập co cơ trong bột để chống phù nề, chống dính và làm
quen với cung phản xạ co cơ mới. Sau 5 tuần, bỏ bất động, kết hợp
vận động chủ động và thụ
động để tăng dần sức cơ và biên độ vận
động các khớp. Mối liên quan giữa quá trình luyện tập sau mổ và kết
quả phẫu thuật thể hiện ở bảng 3.15. Trong nhóm những BN tuân thủ
quá trình luyện tập sau mổ, kết quả phục hồi chức năng tốt hơn so với
nhóm những BN luyện tập không thường xuyên.
4.4.2. Điều chỉnh sức căng các mối nối gân
Trước đây, một số tác giả chủ trương để sức căng tối đa khi
khâu nối nhằm đạt được biên độ duỗi tối đa các khớp. Tuy nhiên, biên
độ gấp sẽ bị hạn chế và ảnh hưởng chức năng của bàn tay. Ngược lại,
nếu khâu nối không đủ độ căng cần thiết, cơ sẽ không thể vận động
khớp đến biên độ
mong muốn. Trong thực tế, không thể đạt được mức
độ khớp cổ tay và các ngón cùng đồng thời gấp hết biên độ và cùng
đồng thời duỗi hết biên độ. Các mối nối gân được điều chỉnh độ căng
cà khâu lần lượt. Khâu gân cơ sấp tròn trong tư thế cổ tay duỗi tối đa,
mối nối căng vừa phải. Sau khi khâu một mối chỉ cố định, kiểm tra
dưới tác dụng của trọng lực, nếu khớp cổ tay được giữ ở tư thế duỗi từ
30
0
đến 40
0
là đạt yêu cầu. Sau đó tiếp tục khâu các mối bổ sung.
Khâu gân cơ gấp cổ tay quay trong tư thế khớp cổ tay và các ngón
duỗi tối đa, mối nối gân căng vừa phải. Kiểm tra dưới trọng lực, nếu
cổ tay ở tư thế duỗi từ 30
0
cao k
ết quả phẫu thuật.
Khi cơ động lực co làm cho ngón I tạo với cẳng tay thành
hình cánh cung, trong khi gân cơ đi dưới da nên không có ròng rọc giữ
lại nên tạo thành dây cung. Hiện tượng này không những ảnh hưởng
đến thẩm mỹ mà còn làm giảm hiệu quả co cơ, làm giảm cả lực duỗi
và biên độ duỗi của ngón I. Hiện tượng này cũng được Brand P.W.,
Ishida O. đề cập nhưng chưa thấy đưa ra phương pháp giải quy
ết. Tôi
khắc phục bằng cách: khi tạo đường hầm dưới da ở phía trên nền
22
xương bàn I, đầu panh cong được hướng xuống sâu một đoạn trong tổ
chức xơ sợi để tạo một ròng rọc cho gân cơ duỗi dài và duỗi ngắn
ngón I chui qua. Khi đó, các gân sẽ được giữ bởi một ròng rọc xơ sợi
ở nền xương bàn I nên tránh được hiện tượng "dây cung".
4.5. Về kết quả phẫu thuật
Khớp cổ tay gấp 31,4
0
khi khớp bàn ngón gấp và duỗi 30,6
0
khi khớp bàn ngón duỗi. Khớp bàn ngón gấp 89
0
và duỗi 9,7
0
khi cổ
tay ở tư thế trung bình. Ngón I gấp, duỗi hết biên độ, giạng 58,6
0
. Lực