bộ giáo dục v đo tạo bộ quốc phòng
học viện quân y
vũ đức long
nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi
trong điều trị thủng ổ loét tá trng
Chuyên ngành: ngoại tiêu hoá
Mã số: 62 72 07 01 Tóm tắt luận án tiến sĩ y học
h nội 2008
Luận án đợc hoàn thành tại : Học viện Quân Y
quân sự, 31(số đặc san), tr. 282-285.
2. Lê Việt Trung, Vũ Đức Long (2007), Kết quả bớc đầu khâu
thủng ổ loét dạ dày tá tràng qua soi ổ bụng tại bệnh viện E, Tạp chí
Y học thực hành, (579+580), tr. 156-159.
1
Đặt vấn đề
Bệnh loét dạ dày tá tràng là một bệnh rất phổ biến ở nớc ta, tỷ lệ mắc
bệnh trong dân c là 4,6% [23]. Thủng ổ loét là một biến chứng của bệnh loét
dạ dày - tá tràng với tỷ lệ 5- 22% [70]. Hậu quả gây nên tình trạng viêm phúc
mạc.
rất hạn chế, việc triển khai ứng dụng phẫu thuật nội soi trong hoàn cảnh cấp
cứu còn nhiều khó khăn. Vì vậy đề tài đi sâu nghiên cứu chỉ định, xây dựng qui
trình kỹ thuật khâu thủng ổ loét bằng phẫu thuật nội soi đã thể hiện đợc tính
thực tiễn và khoa học.
Chỉ định phẫu thuật nội soi khâu thủng ổ loét đã đợc nghiên cứu thận
trọng, các yếu tố ảnh hởng đến tiên lợng bệnh nhân đã đợc lợng hoá chi
tiết, đợc phân tích so sánh với các tác giả khác để rút ra bài học. Những kinh
nghiệm của nhóm nghiên cứu đúc kết từ thực tế trong quá trình thực hiện đề tài,
đặc biệt là việc đề xuất phơng pháp khâu lỗ thủng với một mũi khâu duy nhất
có sử dụng mạc nối lớn làm nút chặn nhằm đơn giản hoá kỹ thuật, tăng độ an
toàn và rút ngắn thời gian phẫu thuật là những đóng góp mới cho chuyên
nghành, có ý nghĩa thực tiễn cao.
Kết quả nghiên cứu đã khẳng định tính an toàn và hiệu quả của phẫu
thuật, cho thấy phẫu thuật hoàn toàn có thể đợc triển khai rộng rãi trong điều
kiện của nớc ta hiện nay.
Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 104 trang, ngoài phần đặt vấn đề (2 trang), kết luận (2
trang) và kiến nghị (1 trang), 99 trang còn lại chia làm 4 chơng:
Chơng 1. Tổng quan tài liệu: 35 trang
Chơng 2. Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu: 15 trang
Chơng 3. Kết quả nghiên cứu: 13 trang
Chơng 4. Bàn luận: 36 trang
Luận án có 23 bảng, 6 biểu đồ, 22 hình và 147 tài liệu tham khảo (57 tài
liệu tiếng Việt, 90 tài liệu tiếng Anh).
3
Chơng 1. Tổng quan ti liệu
1.1. Vài nét về lịch sử phẫu thuật nội soi và tình hình hiện nay
Phẫu thuật nội soi điều trị thủng ổ loét dạ dày tá tràng đợc Philip Mouret
bao gồm: sốc khi nhập viện, thủng đến muộn sau 24 giờ, có bệnh nội khoa nặng
(ASA 3- 4), hoặc phẫu thuật viên thiếu kinh nghiệm [114].
Đặc biệt trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, phẫu thuật nội soi khâu
thủng ổ loét dạ dày tá tràng còn khá mới mẻ, việc lựa chọn bệnh nhân càng nên
thận trọng. Nhìn chung, chỉ nên áp dụng phẫu thuật nội soi khâu thủng ổ loét dạ
dày tá tràng cho các bệnh nhân: không có chống chỉ định bơm hơi ổ bụng, đến
sớm trớc 24 giờ kể từ khi thủng, không có sốc trớc mổ, không có tiền sử mổ
bụng lớn, thủng không kèm theo xuất huyết tiêu hoá, hẹp môn vị.
1.3. Một số đặc điểm kỹ thuật khâu thủng ổ loét qua nội soi
Mục đích của phẫu thuật là làm kín lỗ thủng. Ngoài phơng pháp khâu có
thể làm kín lỗ thủng bằng cách đắp mạc nối lớn hay dây chằng tròn, bằng nút
genlatin và keo sinh học, có thể kết hợp với nội soi dạ dày. Kết thúc phẫu thuật
bằng rửa sạch bụng, đóng bụng kín hay dẫn lu dới gan, Douglas [98].
Hai vấn đề đặt ra cho phẫu thuật nội soi trong thủng ổ loét dạ dày tá tràng
là: Hấp thụ khí carbonic và hấp thụ vi khuẩn khi phúc mạc đang bị viêm nhiễm.
Các công trình nghiên cứu thực nghiệm trên chuột cho thấy bơm hơi ổ bụng
làm tăng sự di chuyển của vi khuẩn vào máu, tuy nhiên các thử nghiệm lâm
sàng cho thấy bơm hơi vẫn an toàn [103], [109].
1.4. Kết quả phẫu thuật khâu thủng ổ loét qua nội soi
Theo tổng kết của Lunevicius R và cộng sự, thống kê các nghiên cứu điển
hình từ 1992 đến 2004, bao gồm 12 nghiên cứu hồi cứu và 13 nghiên cứu tiến
cứu, phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng ổ loét dạ dày tá tràng có thời gian mổ
trung bình từ 72 đến 90 phút, tỷ lệ biến chứng từ 6 đến 10,5 %, tỷ lệ chuyển mổ
mở từ 7 đến 15 %, tỷ lệ tử vong sau mổ từ 0 đến 3 %, thời gian nằm viện trung
bình từ 5 đến 7 ngày [114].
ở Việt Nam, theo Nguyễn Anh Dũng, thời gian phẫu thuật trung bình là
69,6 phút, thời gian nằm viện trung bình 6 ngày, không có tử vong [4]. Theo
Trần Bình Giang, thời gian phẫu thuật trung bình là 91,07 phút, thời gian nằm
viện trung bình 4 ngày, không có tử vong [6].
khâu thủng ổ loét dạ dày- tá tràng, theo Lunevicius R, thống kê các nghiên cứu
điển hình từ 1992 đến 2004, cơ sở dữ liệu Medline/Pubmed [114])
Thay số vào ta có số bệnh nhân dự kiến tối thiểu là 45 ngời.
2.2.2. Các chỉ tiêu nghiên cứu liên quan đến chỉ định phẫu thuật
- Chỉ số ASA (American Society of Anesthesists)
- Thời gian từ khi thủng đến lúc đợc mổ
- Tình trạng sốc trớc mổ
- Chỉ số Boey
2.2.3. Phơng pháp phẫu thuật và các chỉ tiêu nghiên cứu về kỹ thuật
2.2.3.1. Phơng pháp phẫu thuật
a. Trang thiết bị và dụng cụ
- Dàn máy nội soi Olympus OTV-S6, trang bị đồng bộ
- Dụng cụ phẫu thuật nội soi
- Chỉ khâu polygalactin 00, kim tròn 1/2 C
- Dung dịch Natriclorua 0,9 %
6
b. Cách thức tiến hành
- Trớc mổ: Khám toàn diện, làm các xét nghiệm cơ bản, cho thuốc giảm
đau, kháng sinh dự phòng, truyền dịch, hút dịch dạ dày.
- Vô cảm: Gây mê nội khí quản, dãn cơ tốt, theo dõi sát bệnh nhân.
- Kỹ thuật mổ: Bệnh nhân nằm ngửa, đầu cao 15-20
o
, phẫu thuật viên và
phụ mổ đứng bên trái bệnh nhân, dàn máy ở gần vai phải bệnh nhân. Đặt trocar
10 mm đầu tiên dới rốn bằng phơng pháp mở, bơm hơi chậm, áp lực ổ bụng
13 mmHg. Đặt tiếp 2 trocar 5 mm dới sờn 2 bên, 1 trocar 10mm dới mũi ức.
Rửa bụng vùng dới gan kết hợp xác định lỗ thủng. Chuẩn bị chỉ khâu
polygalactin 00, dài 15 cm. Khâu kín lỗ thủng. Rửa sạch ổ bụng bằng dung
dịch Natriclorua 0,9 % đợc làm ấm. Đặt dẫn lu ổ bụng. Đóng các lỗ trocar.
đau không steroid. Tỷ lệ bệnh nhân hút thuốc lá 56,7 %.
3.1.1. Bệnh nội khoa phối hợp
Bảng 3.5. Bệnh nội khoa phối hợp
Bệnh nội khoa Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Đái đờng type II 04 6,7
Tăng huyết áp độ I 13 21,7
3.1.2. Các triệu chứng lâm sàng chính
Bảng 3.6. Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Đau bụng dữ dội, đột ngột 59 98,3
Bụng co cứng 60 100
3.1.3. Triệu chứng cận lâm sàng chính
Bảng 3.7. Triệu chứng cận lâm sàng
Chỉ số Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Có liềm hơi dới hoành 49 81,7
Thiếu máu nhẹ 01 1,7
Bạch cầu > 10
G
/l 38 63,3
Amylase > 250
U
/l 01 1,7
3.1.4. Tình trạng ổ bụng
Bảng 3.8. Tình trạng ổ bụng
Tình trạng ổ bụng Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Sạch 22 36,7
Bẩn 36 60,0
Rất bẩn 02 3,3
Tổng cộng 60 100
8
13- 24 giờ 03 5
> 24 giờ 00 0
Tổng cộng 60 100
9
3.2.3. Tình trạng sốc trớc mổ
Không gặp bệnh nhân nào có dấu hiệu sốc trớc mổ.
3.2.4. Chỉ số Boey
Bảng 3.14. Chỉ số Boey
Boey Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Boey 0 56 93,3
Boey 1 04 6,7
Boey 2 00 0
Boey 3 00 0
Tổng cộng 60 100
3.3. Kết quả nghiên cứu liên quan đến kỹ thuật mổ
Tất cả 60 bệnh nhân đều mổ nội soi thành công, không có ca nào phải
chuyển mổ mở.
3.3.1. T thế bệnh nhân và sơ đồ bố trí kíp phẫu thuật
Tất cả các ca phẫu thuật đều đợc bố trí thống nhất nh nhau về t thế
bệnh nhân và sơ đồ kíp phẫu thuật nh đã mô tả ở phần đối tợng và phơng
pháp nghiên cứu.
3.3.2. Số trocar sử dụng trong mổ
Bảng 3.15. Số trocar sử dụng trong mổ
Số trocar Số bệnh nhân Tỷ lệ %
3 trocar 29 48,3
4 trocar 23 38,3
5 trocar 08 13,4
Tổng cộng 60 100
3.3.3. Phơng pháp khâu lỗ thủng
Không có bệnh nhân nào phải chuyển mổ mở.
3.4.4. Thời gian trung tiện trở lại
Thời gian ngắn nhất: 24 giờ, dài nhất: 72 giờ, thời gian trung bình: 50 giờ
(SD 9,96)
3.4.5. Các biến chứng sớm sau mổ
Có một ca bục chỗ khâu, chiếm tỷ lệ 1,7 %. Không bệnh nhân nào có các
biến chứng nh viêm phổi, áp xe tồn d, nhiễm trùng lỗ trocar, hẹp môn vị,
chảy máu tiêu hoá.
3.4.6. Tử vong sau mổ
Không có trờng hợp nào tử vong sau mổ.
11
3.4.7. Thời gian nằm viện
Thời gian nằm viện ngắn nhất: 4 ngày, dài nhất: 14 ngày, thời gian nằm
viện trung bình: 6,75 ngày (SD 2,04)
3.4.8. Kết quả phẫu thuật
+ Tốt: 59 bệnh nhân 98,3 %
+ Trung bình: 0 bệnh nhân 0 %
+ Xấu: 1 bệnh nhân 1,7 %
3.4.9. Theo dõi sau mổ
Chúng tôi theo dõi đợc 52 bệnh nhân (86,7 %), mất liên lạc 8 bệnh nhân
(13,3 %). Tính đến thời điểm kết thúc nghiên cứu vào tháng 10 năm 2007, thời
gian theo dõi dài nhất là 45 tháng, ngắn nhất là 2 tháng, trung bình là 24,37
tháng. Trong thời gian theo dõi, không có bệnh nhân nào xuất hiện các biến
chứng thủng ổ loét, hẹp môn vị, xuất huyết tiêu hoá, không bệnh nhân nào phải
phẫu thuật vì tắc ruột sau mổ, không bệnh nhân nào có thoát vị hay đau nhiều ở
các vị trí đặt trocar.
- Kết quả lâm sàng theo phân loại Visick:
V1: 21 bệnh nhân (40,4 %), V2: 24 bệnh nhân (46,2 %), V3: 5 bệnh nhân
(9,6 %), V4: 2 bệnh nhân (3,8 %).
(6,7 %) có ASA 3. Tỷ lệ ASA 1 và 2 cao do đa số các bệnh nhân còn trẻ, đang ở
trong độ tuổi lao động, ít có các bệnh nội khoa nặng phối hợp. Kết quả của
chúng tôi tơng tự nh nhiều nghiên cứu khác [101], [113].
4.2.2. Thời gian từ khi thủng đến lúc đợc mổ
Phẫu thuật muộn là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử
vong của bệnh nhân [137], [138], [141]. Phẫu thuật muộn sau 24 giờ đợc tính
1 điểm Boey và dự báo tỷ lệ tử vong 10 % [66]. Chúng tôi không có bệnh nhân
nào phẫu thuật muộn sau 24 giờ. Một phần là do bệnh nhân đến sớm, bên cạnh
đó việc xác định chẩn đoán và chuẩn bị mổ đợc tiến hành rất khẩn trơng. Kết
quả của nhiều nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ bệnh nhân đợc phẫu thuật trớc
24 giờ rất cao. Theo Đỗ Đức Vân, có 92,5 % bệnh nhân đợc mổ trớc 24 giờ
[54], theo Siu WT là 93,6 % [134] và theo Lau WY là 97,1 % [105].
4.2.3. Tình trạng sốc trớc mổ
Nhiều nghiên cứu cho thấy sốc trớc mổ là yếu tố tiên lợng quan trọng,
nó báo trớc nguy cơ diễn biến bất thờng trong và sau mổ, đi kèm với sốc là
sự tăng lên của biến chứng và tử vong sau mổ [88], [141]. Là một trong 3 yếu tố
nguy cơ của Boey, sốc tr
ớc mổ đợc tính 1 điểm Boey và dự báo tỷ lệ tử vong
là 10 % [66]. Chúng tôi không có bệnh nhân nào có sốc trớc mổ.
13
4.2.4. Chỉ số Boey
Chỉ số Boey dùng để dự báo tiên lợng tử vong sau mổ trong phẫu thuật
thủng ổ loét dạ dày tá tràng. Giá trị tiên lợng theo chính tác giả Boey, nghiên
cứu trên các bệnh nhân thủng ổ loét dạ dày tá tràng mổ mở: tỷ lệ tử vong lần
lợt là 0 %, 10 %, 45,5 % và 100 % theo thứ tự điểm Boey 0, 1, 2, 3 [66].
Kết quả nghiên cứu của Lee FYJ trên 436 bệnh nhân phẫu thuật thủng ổ
loét dạ dày tá tràng (cả phẫu thuật mở và nội soi) thấy tỷ lệ tử vong sau mổ lần
lợt là: 1,5 %, 14,4 %, 32,1 % và 100 % tơng ứng với Boey 0, 1, 2, 3. Tỷ lệ
biến chứng sau mổ với Boey 0, 1, 2 lần lợt là 17,4 % 30,1 % và 42,1 %. Chỉ số
rốn cho camera và hai trocar 5 mm ở đờng giữa đòn phải và trái, trên mức rốn
2 cm [108]. Nhiều tác giả khác nh Nguyễn Anh Dũng [4], Trần Bình Giang
[6], Siu WT [135], Katkhouda N [98] dùng 4 trocar (thêm trocar dới ức).
Matsuda M [118] đặt thêm các trocar thứ 5, thứ 6 nếu cần.
Trung bình chúng tôi cũng sử dụng 4 trocar nh nhiều tác giả khác. Khi
phẫu thuật thuận lợi chúng tôi chỉ dùng 3 trocar. Nếu có khó khăn thì chúng tôi
đặt thêm trocar thứ 5. Kết quả chúng tôi dùng 3 trocar trong 29 ca (48,3 %), 4
trocar trong 23 ca (38,3 %) và 5 trocar cho 8 ca (13,4 %). Để đặt trocar đầu
tiên, chúng tôi dùng kĩ thuật mở.
4.3.3. Phơng pháp khâu kín lỗ thủng
Để hàn kín lỗ thủng, Phillipe Mouret đã dùng mạc nối lớn và keo sinh
học. Sau này các tác giả khác đã đề xuất nhiều phơng án khác nhau để làm kín
lỗ thủng. Lee FYJ [107] và Lau WY [105] dùng nút gelatin và keo fibrin.
Costalat G [74] dùng dây chằng tròn làm nút chặn. Nhiều tác giả làm kín lỗ
thủng bằng cách khâu nh trong mổ mở.
Chúng tôi chọn phơng án khâu lỗ thủng vì cách làm này đơn giản, kĩ
thuật tơng tự nh mổ mở, không đòi hỏi các phơng tiện kĩ thuật khó tìm hay
các phối hợp kĩ thuật rắc rối, khó triển khai trong cấp cứu.
Về kĩ thuật khâu:
Chúng tôi sử dụng kìm mang kim thẳng, thiết kế tay điều khiển kiểu cây
kéo, hàm mở 1 bên để hạn chế mắc chỉ, răng mịn hình quả trám đảm bảo giữ
kim đợc chắc và cũng có thể dùng để làm nơ trong cơ thể.
Loại chỉ khâu đợc lựa chọn là polygalactin 00, liền kim. Chỉ màu xanh
hoặc tím để dễ quan sát trong mổ. Kim tròn 1/2 C để dễ dàng đa vào ổ bụng
qua lỗ trocar 10 mm. Sợi chỉ đợc chuẩn bị dài 15 cm. Dùng kìm mang kim kẹp
lấy phần chỉ nằm ngay sau kim, đa kim qua lỗ trocar 10 mm vào ổ bụng.
Tiến hành khâu lỗ thủng:
- Đặt kìm mang kim qua trocar dới sờn trái hoặc trocar dới ức.
- Tay trái sử dụng một cây phẫu tích răng mịn để hỗ trợ tay phải.
- Tay phải kẹp lấy kim ở 1/3 sau, chỉnh kim vào t thế hợp lý.
kim khâu cắt đứt tổ chức. Vì thế, sau khi dự kiến điểm khâu vào và ra của kim,
động tác khâu đợc thực hiện nhẹ nhàng, chủ yếu nhờ vào thao tác xoay cổ tay.
- Thứ năm: Khi làm nơ trong cơ thể cần lu ý động tác thắt chỉ phải nhẹ
nhàng, đủ khép kín lỗ thủng, không dùng lực quá mạnh vì sẽ có nguy cơ xé
rách tổ chức. Các đầu chỉ phải đ
ợc kéo thuận chiều phù hợp với mục đích
khép kín lỗ thủng, cách tạo nút buộc cần đơn giản, đảm bảo các đầu chỉ trợt
trên nhau dễ dàng, tạo cảm giác tốt nhất về lực thắt chỉ.
16
Một số thay đổi kỹ thuật và kinh nghiệm bớc đầu:
Khi bắt đầu nghiên cứu này, cũng nh nhiều tác giả khác, chúng tôi chủ
yếu sử dụng các mũi khâu chữ X đơn thuần để làm kín lỗ thủng.
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu chúng tôi thấy tỷ lệ thủng ổ
loét xơ chai rất cao. Sau này, khi kết thúc giai đoạn thu thập số liệu chúng tôi
đã phân tích và thấy tỷ lệ thủng ổ loét xơ chai là 73,3 %. Kết quả này cũng
tơng tự nh nhận định của các tác giả khác. Theo Đỗ Đức Vân [54], thống kê
490 bệnh nhân thủng ổ loét tá tràng thấy tỷ lệ thủng trên nền ổ loét xơ chai
chiếm 74 %. Việc khâu kín các lỗ thủng trên nền loét xơ chai sẽ dễ dàng và an
toàn hơn rất nhiều nếu ta sử dụng mạc nối lớn làm nút chặn nh trong mổ mở
(miếng vá Graham), nhng trong phẫu thuật nội soi làm nút chặn này không
phải là dễ vì khâu buộc trong nội soi khó và mất nhiều thời gian hơn. Cần tìm ra
giải pháp hạn chế khâu buộc nhiều mà vẫn an toàn.
Để đơn giản hoá thao tác kĩ thuật, đồng thời rút ngắn thời gian phẫu thuật
nội soi khâu lỗ thủng, năm 1997, Siu WT đã đề xuất và thực hiện kĩ thuật khâu
lỗ thủng bằng một mũi chỉ đơn. Siu WT đã tiến hành khâu 1 mũi chỉ qua 2 bờ
lỗ thủng, thắt chỉ khép kín lỗ thủng rồi dùng đuôi chỉ buộc mạc nối lớn phủ lên
trên chỗ khâu [133]. Nh vậy, mạc nối lớn chỉ dính vào chỗ khâu chứ không trở
thành nút chặn thực sự.
Xuất phát từ gợi ý qua cách khâu 1 mũi đơn của Siu WT, chúng tôi đã
chứng trong và sau mổ. Thời gian mổ trung bình với kĩ thuật mới là 55 phút, so
với thời gian phẫu thuật trung bình của phơng pháp khâu lỗ thủng 1 mũi chữ
X, không có phủ mạc nối lớn là 68,45 phút, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p
= 0,033 (T- test), bảng 3.20.
4.3.4. Kĩ thuật rửa ổ bụng
Chúng tôi dùng một dây dẫn dịch có đờng kính lớn tơng đơng các dây
hút thông thờng có gắn một canuyn kim loại có đầu vát rất sắc giống nh một
mũi kim lớn để cắm vào chai dịch rửa đợc treo trên cọc truyền. Cách làm này
thật đơn giản nhng lại có tính thực tế cao, tốc độ dòng chảy rất nhanh, việc
thay thế các chai dịch thật dễ dàng. Cách làm này cũng giúp chúng tôi tính
đợc chính xác lợng dịch rửa đã sử dụng.
Dịch rửa là dung dịch Natriclorua 0,9 % đợc làm ấm.
Đầu tiên là rửa, hút vùng dới gan và dới hoành phải, tiếp theo là vùng
dới hoành trái, sau đó quay dụng cụ xuống phía dới ổ bụng để hút rửa 2 hố
chậu và cùng đồ Douglas. Việc hút rửa đợc thực hiện đến khi dịch hút ra trong
nh dịch bơm vào.
18
Kết thúc bơm rửa bao giờ chúng tôi cũng kiểm tra lại chỗ khâu lỗ thủng,
nhẹ nhàng hút sạch dịch vùng dới gan, quan sát chỗ khâu xem chỉ khâu có bị
tuột không, có cắt đứt tổ chức bờ lỗ thủng hay không, có dịch vàng, nhớt chảy
ra vùng quanh lỗ thủng hay không. Những trờng hợp nghi ngờ, chúng tôi dùng
một gạc nhỏ, màu trắng, thấm nớc rồi vắt khô, đa gạc vào ổ bụng trải lên trên
lỗ thủng đã khâu, chờ khoảng 1 phút rồi lấy gạc ra, kiểm tra xem gạc có thấm
dịch mật hay không.
Lợng dịch rửa trung bình của chúng tôi là 3500 ml, Nguyễn Anh Dũng
sử dụng 2500 ml [4], Katkhouda N dùng 10.000 ml [99], Lunevicius R sử dụng
3000 đến 6000 ml [113].
4.3.5. Dẫn lu ổ bụng
Về vấn đề đặt dẫn lu ổ bụng có nhiều ý kiến khác nhau, có tác giả không
Kirshtein, Palanivelu và Siu (bảng 4.1).
Bảng 4.1. Thời gian phẫu thuật khâu thủng nội soi
Tác giả Số bệnh nhân Thời gian (phút)
Matsuda (1995) 11 135
Lau (1996) 24 113
Katkhouda (1999) 30 106
Lee (2001) 46 90
Bergamaschi (1999) 17 92
Trần Bình Giang (2006) 24 91
Lunevicius (2005) 60 76
Nguyễn Anh Dũng (2000) 26 70
Chúng tôi 60 69
Kirshtein (2005) 68 59
Palanivelu (2007) 120 46
Siu (2002) 63 42
4.4.3. Chuyển mổ hở
Những nguyên nhân chuyển mổ mở chủ yếu do: Không xác định đợc lỗ
thủng, lỗ thủng lớn > 10 mm, khó khăn về mặt kỹ thuật, bệnh nhân có diễn biến
huyết động không cho phép tiếp tục mổ nội soi.
Trong báo cáo của Siu WT, 33 ca nội soi khâu lỗ thủng có 5 ca phải
chuyển mổ mở. Trong số đó, 2 ca là do lỗ thủng lớn > 10 mm, 2 ca là thủng do
ung th dạ dày và 1 ca là do chảy máu khi khâu [133].
Chúng tôi không gặp trờng hợp nào phải chuyển mổ hở.
4.4.4. Thời gian trung tiện trở lại sau mổ
Thời gian trung tiện trở lại ngắn nhất là 24 giờ, dài nhất là 72 giờ, thời
gian trung bình là 50 giờ (2,08 ngày). Kết quả của chúng tôi tơng tự với kết
quả của nhiều tác giả khác. Theo Nguyễn Anh Dũng là 1,7 ngày [4].
20
Theo kết quả thống kê của Lunevicius R trên 535 bệnh nhân phẫu thuật
nút chặn. Một số tác giả nh Katkhouda N [99], Matsuda M [118], Palanivelu
C [74] đã sử dụng miếng vá Graham tơng tự nh trong mổ mở cho tất cả các
bệnh nhân nghiên cứu.
21
4.4.6. Tử vong sau mổ
Chúng tôi không có bệnh nhân nào tử vong sau mổ. Tỷ lệ tử vong trong
phẫu thuật nội soi khâu thủng ổ loét dạ dày tá tràng theo kết quả của một số
nghiên cứu từ 0 % đến 11,8 % (bảng 4.2).
Bảng 4.2. Tỷ lệ tử vong theo một một số tác giả
Tác giả Số bệnh nhân Số bệnh nhân tử vong
Bergamaschi (1999) 17 2 (11,8%)
Lunevicius (2005) 60 4 (6,7%)
Siu (2002) 63 1 (1,6 %)
Nguyễn Anh Dũng (2000) 26 0 (0 %)
Trần Bình Giang (2006) 24 0 (0 %)
Chúng tôi 60 0 (0 %)
Kết quả của chúng tôi tơng tự nh của Nguyễn Anh Dũng, Trần Bình
Giang, có lẽ do các bệnh nhân của chúng tôi có các yếu tố tiên lợng tốt hơn
của các tác giả Bergamaschi R, Lunevicius R. Phẫu thuật sớm (100% trớc 24
giờ), bệnh nhân còn trẻ (tuổi trung bình 44,53), không có bệnh nội khoa nặng
kèm theo (93,3 % có ASA 1- 2 và 6,7 % có ASA 3). Không bệnh nhân nào có
sốc trớc mổ.
Trong 17 bệnh nhân khâu thủng ổ loét qua nội soi của Bergamaschi R
[63], có 5 bệnh nhân ASA 3 (29 %) và 4 bệnh nhân ASA 4 (23,5 %), tuổi trung
bình là 69. Kết quả là 2 bệnh nhân tử vong sau mổ (11,8 %).
4.4.7. Thời gian nằm viện
Thời gian nằm viện ngắn nhất là 4 ngày, dài nhất là 14 ngày, trung bình là
6,75 ngày (SD 2,04). Bệnh nhân của chúng tôi có thời gian nằm viện dài so với
các tác giả Nguyễn Anh Dũng, Trần Bình Giang, tơng tự với kết quả của nhiều
tháng), không có bệnh nhân nào xuất hiện các biến chứng thủng ổ loét, hẹp
môn vị, xuất huyết tiêu hoá, không bệnh nhân nào phải phẫu thuật vì tắc ruột
sau mổ, không bệnh nhân nào có thoát vị hay đau nhiều ở các vị trí đặt trocar.
Kết quả lâm sàng thời điểm tháng 10/2007 theo phân loại Visick:
V1: 21 bệnh nhân (40,4 %), V2: 24 bệnh nhân (46,2 %), V3: 5 bệnh nhân
(9,6 %), V4: 2 bệnh nhân (3,8 %).
Kết quả của chúng tôi cũng tơng tự nh các tác giả khác.
Bergamaschi R [63] theo dõi 17 bệnh nhân phẫu thuật nội soi khâu thủng
ổ loét dạ dày tá tràng, thời gian theo dõi trung bình 18 tháng, mất liên lạc 2
bệnh nhân (11,76 %), còn lại 15 bệnh nhân có kết quả phân loại theo Visick
nh sau: V1: 10 bệnh nhân (66 %), V2: 3 bệnh nhân (20 %), V3: 1 bệnh nhân
(7 %) và V4: 1 bệnh nhân (7 %).
Chúng tôi mời các bệnh nhân quay lại kiểm tra bằng nội soi ống mềm vào
thời điểm kết thúc nghiên cứu. Trong số 52 bệnh nhân theo dõi đợc đến thời