TỒNG CỤC MỎI TRƯỜNG
CỤC KIẺM SOÁT Ô NHIỄM
Nhiêm vu
Điều tra, đánh giả và dự báo sự cố tràn dầu
gây tổn thương môi trường biển; đề xuất các giải pháp phòng ngừa và ứng
phó
Báo cáo tổng hợp:
XÂY DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
c ứ u VÀ QUY TRÌNH DỤ BÁO.ĐIÈU TRA, ĐÁNH GIÁ sự CÓ
TRÀN DÀII TRÊN BIẾN VÀ VEN BIẾN VIỆT NAM
Đon vị chủ trì : Tổng cục Môi trường
Đon vị thực hiện : Cục Kiểm soát ô nhiễm
• • • I
Hà Nội, 12/2010
Xây dựrìịỉ phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu vù quy trình dự báo, điêu tra, đánh
giá sự cỏ tràn dâu trên biên vù ven biên Việt Nam
MUC LUC
• •
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC H ÌN H V
MỞ Đ Ầ U
.
.
1
CHƯƠNG I - C ơ SỞ XÂY DựNG PHƯƠNG PHÁP
2
1.1. Hiện trạng ô nhiễm dầu ở vùng biến và ven biển Việt N am
28
Cục Kiêm soát ô nhiễm
Xây dựng phương pháp luận, phươMỊ pháp nghiên cứu và quy trình dự háo, điêu Im đánh
giá sự cỏ tràn dâu trên biên và ven biên Việt Nam
3.2. Phương pháp nghiên cứu dự báo sự cố tràn dâu trên biên và ven biên 28
3.2.1. Lập bản đồ cảnh báo sự cố tràn dầu
28
3.2.2. Xây dựng mô hình dự báo lan truyền ô nhiễm dầu 31
3.2.3. Đánh giá các yếu tố tổng hợp ảnh hưởng tới tính nhạy cảm tràn
dầu 36
3.2.4. Lập bản đồ nhạy cảm tràn dầu
41
3.3. Quy trình dự báo sự cố tràn dầu trên biển và ven biển
50
CHƯƠNG IV - PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ QUY TRÌNH ĐIỀU TRA s ự
CÓ TRÀN DẦU TRÊN BIỂN VÀ VEN BIÉN 52
4.1. Phương pháp luận điều tra sự cố tràn dầu trên biển và ven biển
52
4.2. Phương pháp nghiên cứu điều tra sự cố tràn dầu trên biển và ven biển.54
4.2.1. Sử dụng kỹ thuật phân tích nhận dạng (fingerprinting) để tìm nguồn
gốc dầu tràn 54
4.2.2. Phương pháp điều tra sự cố tràn dầu trên biển 57
4.2.3. Phương pháp điều tra sự cố tràn dầu vùng ven b ờ
62
4.3. Quy trình điều tra sự cố tràn dầu trên biển và ven biển
65
Sac ký khí với detector ion hoá ngọn lửa
GCMS Sắc ký khối phổ
GIS Hệ thống thông tin địa lý
HPLC Sắc ký lỏng cao áp
HTSCMTB
Hiện trạng sự cố môi trường biển
NO A A Cục Đại dương và Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ
PAH Hydrocarbon thơm đa vòng
u v Bức xạ cực tím
Cục Kiêm soát ô nhiêm
- iii -
•
Bảng 1. Các giá trị của hệ sinh thái biên 23
Bảng 2. Phân loại đường bờ
37
Bảng 3. Phân loại nhạy cảm đường b ờ 38
Bảng 4. Các nhóm tài nguyên sinh vật nhạy cảm đối với sự cố tràn dầu
.
40
Bảng 5. Các nhóm tài nguyên nhân nhạy cảm đối với sự cố tràn dầu
41
Bảng 6. Các chỉ sổ nhạy cảm đường bờ
46
Bảng 6. Các chỉ số chung đánh giá động năng vùng bò'
63
Bảng 7. Phân loại tác động của sự cố tràn dầu
70
Hình 6. Bản đồ hệ sinh thái vùng Cảng Dung Q uất 49
Hình 7. Bản đồ các điểm tài nguyên vùng Vịnh Hạ Long
50
Hình 8. Quy trình phân tích nhận dạng 57
Hình 9. Váng dầu trên vịnh Mexico tháng 4/2010
59
Hình 10. Tác động của dầu tràn đến loài chim biển
72
Hình 11. Tác động của dầu tràn đến đánh bắt hải sản 78
C ục Kiêm so át ô nhiễm
- V -
X âv dựn g phư ơ n g phá p luận, phương p háp nghiên cứu và quy trình dự háo, điểu tra, đánh
giá sự cố tràn dầu trên biên vù ven biên Việt Nam
IM Ở ĐẦU
Biến là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, không nhũng
cung cấp về nguồn lợi kinh tế lớn, mà còn có vai trò rất quan trọng trong việc
điều hoà khí hậu, và cân bằng sinh thái. Việt Nam là quốc gia có vùng biển
rộng lớn (trên 1 triệu km2), với đường bờ biến dài trên 3.200 km và hơn 3.000
đảo lớn nhỏ - điều này thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển và kinh tế
vùng ven bờ, đồng thời cũng đòi hỏi sự nồ lực rất lớn trong công tác quản lý
vào bảo vệ môi trường khu vực biển và ven bờ.
Những năm gần đây, Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu dầu thô có
vị thế trên trường quốc tế. Các hoạt động thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu
khí trên các vùng biến Việt Nam cũng như ở khu vực biển Đông đang tăng lên
hàng năm. Dầu khí là các nhiên liệu sạch hơn nhiều so với than đá và các loại
nhiên liệu khác do chứa ít tạp chất và đặc biệt chứa hơn 95% hydrocarbon là
nguyên liệu ban đầu cho toàn bộ nền công nghiệp hoá chất hữu cơ. Hơn 65%
nhu cầu năng lượng cần cho tất cả các hoạt động của loài người trên Trái đất là
do dầu khí cung cấp. Tuy nhiên, việc khai thác và vận chuyển dầu trên biển có
tính rằng, trên thế giới hàng năm có khoảng trên 3 triệu tẩn dầu chảy tràn ra
trên mặt biển từ các nguồn khác nhau, trong đó phần lớn là do vận chuyển dầu
và thải ra từ các thành phố công nghiệp.
Ô nhiễm dầu là một trong những dạng ô nhiễm đại dương dễ thấy nhất
và gây nguy hại nghiêm trọng cho đại dương. Đây là một trong những loại ô
nhiễm lớn nhất thế giới đối với môi trường biển và đại dương và được xem
như một tai hoạ lớn. Chỉ trong 3 năm (1975 - 1978) người ta đã quan sát được
gần 100.000 vết dầu loang trên toàn thế giới với lượng dầu tràn ra biển đạt tới
nhiều triệu tấn (biết rằng cứ 1 tấn dầu sẽ gây ô nhiễm 12 km2 mặt biển). Các
nguyên nhân gây ô nhiễm dầu trong biển và đại dương bao gồm đắm tàu chở
dầu, sự cố giàn khoan, rò rỉ, thải ra từ phía đất liền, huỷ bỏ các thiết bị khai
thác và chuyên chở dầu quá hạn sử dụng, phun lên từ lòng đất (ít)
Ở Việt Nam đáng chú ý là tình trạng ô nhiễm biển do dầu có xu hướng
gia tăng trong những năm gần đây và diễn biến phức tạp hơn, số lượng tàu
thuyền gắn máy loại nhỏ, công suất thấp, cũ kỳ và lạc hậu tăng nhanh, nên khả
năng thải dầu vào môi trường biển nhiều hơn.
Hiện nay, hàm lượng dầu trong nước biển của Việt Nam nhìn chung đều
vượt giới hạn tiêu chuẩn Việt Nam và vượt rất xa tiêu chuẩn Hiệp hội các
Nước Đông Nam Á (ASEAN). Đặc biệt, có những thời điểm vùng nước khu
vực cảng Cái Lân có hàm lượng dầu đạt mức 1,75 mg/1, gấp 6 lần giới hạn cho
Cục K iếm soát ô nhiêm
-2-
phép; vịnh Hạ Long có 1/3 diện tích biên hàm lượng dâu thường xuyên từ 1
đến 1,73 mg/1.
Các vụ tai nạn tàu dầu và tai nạn hàng hải là một trong những nguồn
chính gây nên tình trạng ô nhiễm biên do dầu tại Việt Nam (chiếm khoảng
43% tông lượng dâu được đưa vào Việt Nam). Năm năm qua, chỉ tính các vụ
tai nạn gây sự cố tràn dầu trên 50 tấn đã có hơn 50 vụ. Đa phần các sự cố tràn
dầu là do đâm va của tàu dầu, trong đó: 56% số vụ < 700 tấn và 100% số vụ >
700 tấn.
giá sự cổ tràn dầu trên biên và ven biên Việt Nam
gggggggỹ -m g m m s — ^ B s m i B — s s g í g s s g ^ ^ gâ
■ i a M a B a i g i B B ì n » B . . ir i r
g
m m m
Cho đên nay đã có khoảng hơn 360 giêng khoan thăm dò và khai thác được
thực hiện, sản lượng dầu thô khai thác đạt 17-18 triệu tấn. Những mỏ chính
đang khai thác gồm mỏ Bạch Hố, Rồng, Rạng Đông, Ruby, Đại Hùng và Sư tử
Đen. Hiện tại, Việt Nam chưa có nhà máy lọc dầu nào hoạt động vì vậy phần
lớn các sản phẩm dầu đều được nhập khẩu.
Đối với hoạt động dầu khí, sự cổ môi trường đáng quan tâm nhất là sự
cố tràn dầu.Với đặc thù như vậy, khi tiến hành hoạt động thăm dò hay phát
triển mở, các đơn vị đều phải lập kế hoạch ứng phó sự cổ tràn dầu trình cấp có
thẩm quyền phê duyệt. Ngoài ra, các đơn vị này phải định kỳ diễn tập ứng phó
tràn dầu theo kế hoạch đã có.
Tuy nhiên, thực tế hoạt động dầu khí vẫn xảy ra các sự cố tràn dầu. Các
nguy cơ gây rò rỉ/ tràn dầu bao gồm:
- Rò rỉ từ đường ống dưới biển;
- Rò rỉ từ hệ thống các đường ống nội bộ mỏ;
- Va đụng tàu;
- Mắc cạn;
- Cháy/nô;
- Rò ri/ tràn dầu do hỏng cấu trúc khai thác;
dân cư trong vùng.
Phân loại mức độ tràn dầu (tấn) theo nguyên nhân được trình bày trong
hình sau:
_____________________________________________________ Đơn vị: tấn
X ây dự ng phư ơ ng p háp luận, phươn g pháp nghiên cứu và quy trình dự báo, điểu tra, đánh
già sự cố tràn dàn trên biên và ven biên Việt Nam
□ Đ?m tàu
□ Chuy?nt?i
□ Đâm va
Hình 1. Phân loại sự cố tràn dầu do giao thông ở Việt Nam từ năm 1992
đến 2008
(Nguồn: Nguyễn Văn Lâm và cộng sự, 2009)
Kết quả cho thấy các SCTD lớn hơn 700 tấn xảy ra bởi sự cố đâm va.
Có rất nhiều SCTD không được báo cáo, tuy nhiên phần lớn các SCTD này
thường là nhỏ và chủ yếu xảy ra trong quá trình chuyến tải dầu.
Theo thống kê cho thấy đa phần các SCTD tại Việt Nam là do đâm va
các tàu chở dầu:
- Số vụ < 700 tấn (đâm va chiếm 56%)
- Số vụ > 700 tấn (đâm va chiếm 100%)
- Có 3 vụ được bồi thường thông qua thương lượng, chiếm 8,3%
- Có 5 vụ phạt hành chính, chiếm 14,2%
- Số còn lại không hoặc chưa được bồi thường.
Nhìn chung, tai nạn đâm va là nguyên nhân chính gây tràn dầu, đặc biệt
là các SCTD lớn hơn 700 tấn. Điều này được giải thích là do hiện trạng giao
Cục Kiêm soát ô nhiêm
-5-
thông thủy bao gôm cả tình trạng tàu thuyên Sự phát triển không đông bộ
giữa kinh tế và cơ sở hạ tầng cũng là một nguyên nhân gây SCTD. Một
nguyên nhân khác nữa là do điều kiện thời tiết phức tạp của Việt Nam như là
chế độ gió, dòng chảy, thủy triều. Thực tế, đã có nhiều vụ tràn dầu xảy ra do
giá sự cô trèm dâu trên biên vù ven biên Việt Num
Cục K iêm soát ô nhiêm
-Ố -
Xây dựng phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu vù quy trình dự báo. điểu tra, đánh
giá sự cô tràn dâu trên biên và ven hiên Việt Nam
- Tràn đổ trong quá trình chuyển giao, đồ rót;
- Tràn đổ do tồn trữ dầu;
- Các sự cố cháy nô dẫn đến tràn dâu
- Nước thải sản xuất •
1.3. Đặc điểm vùng biển và ven biển Việt Nam
1.3.1. Đăc điểm đia hình
• •
Dải bờ biến nước ta kéo dài trên 3000km (không kể bờ các đảo) và cứ
lOOkm2 đất liền có lkm đường bờ biển, trong khi tỷ lệ này của thế giới là
óOOkm2 /lkm . Ngoài ra, cứ khoảng lkm2 đất liền thì có gần 4km2 vùng lãnh
hải và đặc quyền kinh tế, so với thế giới tỷ lệ này gấp khoảng 1,6 lần. Dải ven
biển và các đảo nước ta là nơi tập trung khoảng 30% tổng dân số cả nước. Đây
là những tiền đề cho phép hoạch định một chiến lược biển tầm cỡ, phù hợp với
xu thế phát triển của một quốc gia biển trong vùng biển Đông.
Địa hình đáy biển Đông rất đa dạng và phức tạp, với tính chất của một
biển rìa, sự đan xen của bồn trũng nước sâu trên 4000m với những khối sót lục
địa cổ đã tạo nên tính tương phản của địa hình. Địa hình đáy biến Đông ngoài
tính chất của địa hình đáy đại dương, còn có các yếu tố của địa hình lục địa với
sự có mặt đầy đủ các đơn vị địa hình như: thềm lục địa, sườn lục địa, chân lục
địa và đáy biển thẳm.
C ục K iểm soát ô nhiễm
X â y dựng phư ơ ng pháp luận, phương p háp nghiên cứu và quy trình d ự báo, điêu tra, đánh
giá sự cỏ trùn dâu trên biên và ven biên Việt Nam
d e p ( m )
0
điều kiện tự nhiên của biển.
Trong thời kỳ từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau gió mùa đông bắc ổn
định tác động mạnh mẽ lên chế độ thủy văn của biển, đặc biệt là khu vực bắc
và đông bắc biển Đông. Các số liệu điều tra của các tàu nghiên cứu từ những
năm 80 cho thấy: Tốc độ gió dao động trong khoảng 6 - 8m/s, nhiệt độ nước
trung bình 240C và độ muối lớn hơn 34 0/00, thể hiện khối nước ở đây lạnh
hơn và mặn hơn có nguồn gốc của khối nước tây bắc Thái Bình Dương xâm
nhập vào biển Đông qua eo biển Đài Loan và eo biển Luson, Bocdanốp gọi là
C ục K iêm soát ô nhiêm
- 8 -
Xây dựng phương pháp luận, phương pháp nghiên cửu và quy trình dự háo. điểu tra, đánh
íỊÌá sự cố tràn dầu trên biên vù ven biến Việt Nam
I;. | ,II||| |.|.|I| | . | —
1
—
—
T ỹBBag ¡ S m S S S S S S S M m m ìS im ịm iS ìm Ê S S S m -
T ^ ra ig iiiỹ w W ĩir iĩiii1W ĩrĩiTínm r~~
khôi nước nhiệt đới Biên Đông. Sau đó, tiêp tục lan truyên đên tận vùng biên
ven bờ miền trung Việt Nam dưới dạng dòng nước ốn định, đồng thời khối
nước này được tăng cường bởi dòng nước từ Vịnh Băc Bộ chảy xuông phía
nam, ở đây tốc độ cực đại có thế đạt đến 60 - 70cm/s. Ớ khu vực trung tâm của
biên hình thành một xoáy thuận.
Cục Kiêm soá t ô nhiễm
-9 -
X ú y dựng phư ơ ng pháp luận, p hương pháp nghiên cứu và quy trình dự báo, điểu tra, đánh
giá sự cô trùn dầu trên hiên va ven biên Việt Nam
CHƯƠNG II - TÒNG QUAN VÊ CÁC PHƯƠNG PHÁP DỤ BÁO, ĐIÈU
- 10-
Xây dựng phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và quy trình dự háo, điểu tra, đánh
ÍỊÌÚ sự co lùm dầu trên biên va ven biên Việt Nam
m
a S ~ S S a S Ê S B m S S S m S ^ S m S a S S m iS ^ S S S S S S S S m S S m m i m m g a m m S ^ ^
- Tính cụ thê và chi tiêt: Phương pháp cân nêu ra các tác động đặc trưng
của tràn dầu, trên cơ sở đó có thê đánh £Ìá được các tác động chính của nó.
- Tính cá biệt đối với các tác động của tràn dầu: Phương pháp cần chỉ rõ
các tác động riêng biệt của tràn dầu để có thế phân biệt được các biến đối môi
trường trong tương lai do các nguyên nhân khác gây ra.
- Thời gian và diễn biến: Phương pháp cần có khả năng xác định một
cách cụ thể vị trí, thời gian, phạm vi, mức độ của các tác động do tràn dầu.
2.2. Phưong pháp điều tra thực địa
Phương pháp điều tra thực địa, hiện trường nhằm thu thập những thông
tin hữu ích nhằm đánh giá tác động của sự cố tràn dầu trên biển. Các thông tin
về sự cố tràn dầu trên biển cần thu thập bao gồm :
- Các thông tin về thời tiết (vận tốc gió, hướng gió, bão ), sóng biển,
thuỷ triều, địa chấn, đá ngầm sẽ có thể tính toán được khả năng lan truyền,
lắng đọng, phong hoá của dầu, từ đó có thể đánh giá được các tác động của sự
- Các ảnh chụp do vệ tinh, radar, máy ảnh , đoạn phim quay được về
sự cố tràn dầu ở các vị trí và thời điểm khác nhau sẽ cho ta biết được quy mô,
pham vi và hướng lan truyền của dầu, từ đó có thể đánh giá được các tác động
của sự cố.
Phương pháp điều tra hiện trường, thu thập thông tin có thể tiến hành
bằng cách :
- Thu thập các dữ liệu tại hiện trường bằng cách chụp ảnh, ảnh vệ tinh,
ảnh radar, quay phim về vụ tràn dầu.
- Phỏng vẩn những người có liên quan (chủ tàu, người quản lý giàn
khoan và hoạt động khai thác dầu khí) ngay khi có thể sau khi xảy ra sự cố tràn
và hệ thống máy tính cùng các thiết bị ngoại vi đế lưu trữ, xử lý, phân tích,
hiển thị các thông tin địa lý để phục vụ một mục đích nghiên cứu, quản lý nhất
định.
GIS được sử dụng nhằm xử lý đồng bộ các lớp thông tin không gian
(bản đồ) gắn với các thông tin thuộc tính, phục vụ nghiên cứu, quy hoạch và
quản lý các hoạt động theo lãnh thố.
Cục Kiếm soát ô nhiễm
- 12-
X â y dự ng p hương p h áp luận, phư ơ ng phá p nghiên cứu và quy trình d ự báo, điêu tra, đánh
giá sự cỏ tràn dầu trẽn biên và ven biên Việt Nam
Hình 3. Sử dụng GIS trong theo dõi sự số tràn dầu tại vịnh Mexico, 4/2010
Ngày nay, ở nhiều quốc gia trên thế giới, GIS đã trở thành công cụ trợ
giúp quyết định trong hầu hết các hoạt động kinh tế-xã hội, an ninh, quốc
phòng, đối phó với thảm hoạ thiên tai , đánh giá được hiện trạng của các quá
trình, các thực thể tự nhiên, kinh tế-xã hội thông qua các chức năng thu thập,
quản lý, truy vấn, phân tích và tích hợp các thông tin được gắn với một nền
bản đồ sổ nhất quán trên cơ sở toạ độ của các dữ liệu bản đồ đầu vào.
GIS cũng được sử dụng nêu có sự cô tràn dâu. Trên thê giới, những dữ
liệu tràn dầu được chính phủ và các công ty dầu mỏ lưu giữ và nhập vào hệ
GIS và được mã hoá với những thông số như số lượng dầu tràn, thời gian,
những người có liên quan, những vùng nhạy cảm. Mặt khác, GIS có các phần
mềm ứng dụng như Arc GIS, Map Info, ArcPad, MapBasic để vẽ các bản đồ
liên quan đến sự cố tràn dầu, giúp cho việc đánh giá tác động của tràn dầu dựa
trên các thông số: nồng độ dầu trong nước, sự lan truyền dầu
Hiện nay, công cụ GIS đã được ứng dụng trong nhiều ngành ở Việt Nam
nhất là ở lĩnh vực nghiên cứu tài nguyên và môi trường trong đó có nghiên cứu
sự cố tràn dầu trên biển. Các phần mềm GIS sẽ được sử dụng để xây dựng Bản
đồ nhạy cảm đường bờ (các điểm nhạy cảm đối với sự cố tràn dầu) cho các
tỉnh ven biển Việt Nam theo Công văn số 69/CV-BV ngày 5/3/2009 của ủy
ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn về việc hướng dẫn triển khai xây dựng và cập
Ngoài ra, Việt Nam hiện đang sử dụng ảnh viễn thám để nghiên cứu sự
co tràn dầu. Vệ tinh viễn thám với bộ cảm siêu cao tần quan trắc các vùng có
nguy cơ ô nhiễm dầu cao trên biển Đông và biển Việt Nam. Trong trường họp
lý tưởng thì vệ tinh sẽ quan trắc tất cả các vùng biển, tuy nhiên do những giới
hạn về kinh phí ở nước ta nên trước mắt chỉ quan trắc những nơi có khả năng
xảy ra sự cố ô nhiễm dầu cao nhất, ví dụ các cơ sở khai thác dầu khí trên biển,
các tuyến chuyến tải dầu khí và các tuyến hàng hải nơi thường xuyên xảy ra
các vụ xúc xả dầu trái phép. Tư liệu được thu nhận qua hai con đường: qua
trạm thu của Trung tâm Viễn thám thuộc Bộ Tài nguyên&Môi trường và qua
đường truyền Internet tổc độ cao kết nối với các trạm thu ảnh khác trong khu
vực. Trạm thu ảnh vệ tinh của Việt Nam hiện nay chỉ có khả năng thu được
một số lượng có giới hạn tư liệu siêu cao tần ASAR. Tuy nhiên, trong tương
lai có thể mở rộng và nâng cấp để có thế thu được tư liệu từ các loại vệ tinh
khác. Việc chọn lựa các loại vệ tinh khác nhau cần được tính toán sao cho có
chu kỳ quan trắc ngắn nhất và trong trường hợp xảy ra sự cố có thể thu được tư
liệu với tần xuất mỗi ngày một lần. về cơ bản, tư liệu siêu cao tần sẽ là tư liệu
chủ đạo nhưng các tư liệu quang học trong một số trường hợp cũng có thể
cung cấp thông tin hữu ích cho việc quan trắc vết dầu trên biển. Tư liệu siêu
cao tần sau khi nhận được từ trạm thu sẽ được xử lý đưa về các mức chuẩn
như 2.0 hoặc cao hơn. Mức xử lý của tư liệu thu được trong nước và mua qua
C ục K iếm soát ô nhiêm
- 14-
Xúy dựn% p h ư ơ n g pháp luận, p hương pháp nghiên cứu và quy trình d ự háo. điểu tra. đánh
giá sự cô trùn dâu trên biên và ven biên Việt Nam
■ ■ ■ — I ỉũ iiìỉĩi i iiíTiĩii
. . .
. . .
Có thể là gửi máy bay đi kiểm chứng và thu thập thêm các thông tin cần
thiết. Sau đó sẽ tiến hành tính toán dự báo lan truyền các vết dầu trên biển và
cảnh báo các địa phương có nguy cơ bị ảnh hưởng để sớm triển khai các biện
pháp ứng phó cần thiết.
Hiện nay, Việt Nam đang sử dụng ảnh tư liệu từ vệ tinh MODIS của
Trạm thu ảnh thuộc Viện Vật lý và Điện tử- Viện Khoa học và Công nghệ Việt
Nam và mua ảnh vệ tinh từ các nước khác đế nghiên cứu sự cố tràn dầu. Trong
thời gian qua, Viện Vật lý và Điện tử đã tiến hành đánh giá nhanh và tìm hiểu
nguyên nhân sự cố dầu tràn tại Quảng Nam trong những ngày cuối tháng 1 và
đầu tháng 2 năm 2007 bằng công nghệ viễn thám sử dụng ảnh Modis
(moderate resolution imaging spectroradiometer) đã được lắp đặt từ tháng
8/2001 tại Viện do khả năng quan trắc hằng ngày và vệ tinh sử dụng đầu đo
radar (ALOS, Radasat, ENVISAT). Các loại vệ tinh này sẽ hỗ trợ và bổ sung
cho nhau, ví dụ như radar sẽ hồ trợ khả năng chụp xuyên mây so với MODIS,
trong khi đó MODIS với độ phủ rộng, đa phổ và quan trắc hàng ngày sẽ cung
Cục Kiêm soá t ô nhiễm
- 15-
Xây dựng phư ơng phá p luận, p hư ơ ng phá p nghiên cứu và quy trình dự háo. điêu tra. đánh
giá sự co tràn dầu trẽn biên và ven biên Việt Nam
cho radar. Hệ thông này được lăp đặt nhăm quan trăc và phát hiện các sự cô
tràn dầu cũng như các sự cố khác trên biển (như ô nhiễm chất hóa học) do ảnh
MODIS đã thu được và cung cấp các số liệu về phân bố, diện tích vệt dầu tràn
cho các mô hình dự báo để đưa ra các các phương án xử lý tràn dầu trên biến.
Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tạm thời vì mới giúp phát hiện và dự đoán các
vết dầư loang chứ chưa thể tìm ra nguyên nhân sự cố tràn dầu. Lý do là ảnh vệ
tinh MODIS là loại ảnh quang học, rất hạn chế trong việc theo dõi diễn biến
dầu loang trên biển với điều kiện thời tiết nhiều mây mù che khuất như ở Việt
Nam.
Trong thời gian tới, nhiều nhà khoa học và quản lý kiến nghị nước ta
phai nhanh chóng đăng ký tham gia Hệ thống Quan trắc trái đất toàn cầu
thời gian địa điểm cũng như khối lượng và loại dầu đều được biết trước. Đối
với trường hợp ô nhiễm dầu không rõ nguồn gốc, các thông tin cơ bản đều bị
thiếu do đó việc giám sát cũng như dự báo lan truyền sẽ gặp nhiều khó khăn.
Để mô phỏng quá trình lan truyền dầu, hiện nay có rất nhiều loại mô
hình được thiết lập. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều mô hình mô phỏng quá
trình lan truyền dầu trên biển có thể áp dụng tại Việt Nam. Trong đó, nhiều mô
hình mang tính thương mại có công dụng khá đa năng như mô hình OSSM của
Cục Khí quyển và Đại dương Quốc gia (NOAA) - Hoa Kỳ, mô hình
TRANSPIL của Viện thuỷ lực DELFT - Hà Lan, Mô hình OILMAP, SIMAP,
o sc của Hiệp hội Khoa học ứng dụng Hoa Kỳ, Mô hình MIKE của Viện
Nước & Môi trường DHI - Đan Mạch Ngoài chức năng tính toán quá trình
lan truyền dầu và phong hóa dầu trên biển, các mô hình này còn hỗ trợ quản lý
dừ liệu, đánh giá thiệt hại, tư vấn ứng phó khẩn cấp sự cổ tràn dầu và đặc biệt
là kết quả tính toán được trình diễn và phân tích ngay cả trong thời gian đang
tính toán, giúp cho các nhà khoa học và các nhà quản lý có thể đưa ra những
quyết định kịp thời ứng phó với sự cố tràn dầu xảy ra.
Ở nước ta, dựa trên phân tích một số hệ thống quan trắc ô nhiễm dầu
trên biển hiện đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới, các nhà khoa học đã đề
xuất mô hình quan trắc ô nhiễm dầu bằng viễn thám siêu cao tần cho Việt
Nam. Hệ thống được đề xuất nhằm thực hiện một sổ mục tiêu chính sau: Phát
hiện kịp thời các vết dầu loang trên biển Việt Nam và biển Đông; Phân loại
các vết dầu và dự báo khả năng gây ô nhiễm; Thông báo đến các cơ quan liên
quan qua hệ thống mạng máy tính, các phương tiện thông tin liên lạc khác như
fax, thư điện tử, điện thoại thông tin về tình hình ô nhiễm dầu tại các vùng
trọng yếu. Các hợp phần của hệ thống bao gồm thu nhận tư liệu viễn thám siêu
cao tần vệ tinh; Xử lý nhận dạng vết dầu; Hệ thống cảnh báo sớm.
Tuy nhiên, để hệ thống mô hình này ứng dụng được trong việc tìm kiếm
nguyên nhân dầu tràn trên biển ở Việt Nam, cần phải tiến hành kiểm nghiệm
lại các mô hình thông qua những thông tin, số liệu chi tiết về điều kiện khí
tượng, thủy văn và các thông tin về các vụ tràn dầu đã xảy ra ở Việt Nam.
PALSAR được phân tích đế xác định vị trí của khu vực biển bị ô nhiễm. Các
mô hình toán được áp dụng bao gồm mô hình MM5 được áp dụng để tính các
trường khí tượng (gió, nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển bề mặt); mô
hình PSQIS (Viện Khí tượng thuỷ văn và Môi trường) được áp dụng để giải
bài toán ngược, bước đầu định vị nguồn gây ô nhiễm khi đã có sự cố ô nhiễm
tại vị trí ven biển Việt Nam; Mô hình IMHEN-OilSpill (Viện Khí tượng thuỷ
văn và Môi trường) được xây dựng và áp dụng đe tính lan truyền và phong hóa
dầu.
Cục Kiêm soát ô nhiêm
- 1 8-
X ây dự ng phương pháp luận, phư ơng pháp nghiên cứu xà quy trình dự báo, điểu tru, đánh
giá sự cô tràn dầu trên biên và ven biển Việt Num
Bộ mô hình nêu trên đã được áp dụng đê tính toán xác định nhanh và
tính toán chi tiết quá trình vận chuyển và phong hóa dầu để xác định nguồn
gây ô nhiễm dầu khu vực Biên Đông của Việt Nam trong đợt ô nhiễm năm
2007. Phương pháp này có thể được sử dụng để phát triển một hệ thống hỗ trợ
ra quyết định trong các trường hợp ô nhiễm dầu: xác định các nguồn gây ô
nhiễm dầu, dự báo sự vận chuyền và phong hóa của dầu và đánh giá nguy cơ ô
nhiễm dầu ở các khu vực ven biên khác nhau.
2.6. Phuong pháp phân tích hoá học
Dầu mỏ có thành phần phức tạp, dễ thay đổi nhất là khi tiếp xúc với môi
trường nước biển, có nhiều phương pháp phân tích mẫu dầu tràn trong nước
biến khác nhau. Các phương pháp phân tích phổ biến hiện nay được dùng để
xác định hàm lượng dầu trong nước bao gồm: trọng lượng, đo quang phổ
(hồng ngoại, cực tím và huỳnh quang), sắc ký (sắc kí khí, sắc ký lỏng cao áp
và sắc ký khối phổ).
a) Phưong pháp trọng lưọng
Phương pháp này thường dùng để xác định tổng hàm lượng dầu bằng
cách cân phần hữu cơ chiết được bằng dung môi hữu cơ từ một thể tích mẫu
nước xác định. Phần chiết được cho bay hơi để đuổi dung môi và cân phần còn