BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
==============
“NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG MỚI
PHỤC VỤ BẢO VỆ BỜ CỬA SÔNG, VEN BIỂN THỊ TRẤN GÀNH HÀO,
HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU”
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
HÀ NỘI
-1-
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XÓI BỒI & GIẢI PHÁP CHỈNH TRỊ BẢO VỆ BỜ
CỬA SÔNG VEN BIỂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG.
1.1-Tổng quan tình hình sạt lở các cửa sông ven biển ĐBSCL 3
1.1.1-Tình hình bồi xói các cửa sông, ven biển ĐBSCL 4
1.1.2- Nguyên nhân bồi xói các cửa sông, ven biển ĐBSCL 19
1.2. Giải pháp chỉnh trị, bảo vệ bờ cửa sông ven biển 21
1.2.1-Giải pháp phi công trình 21
1.2.2-Giải pháp công trình 22
1.2.3- Công trình xây dựng bảo vệ bờ 23
Kết luận chương 28
CHƯƠNG II
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH BẢO VỆ BỜ
CHƯƠNG III
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MỚI PHỤC VỤ BẢO VỆ BỜ
CỬA SÔNG, VEN BIỂN THỊ TRẤN GÀNH HÀO – BẠC LIÊU
3.1- Tiến bộ khoa học công nghệ và công trình bảo vệ bờ 70
3.1.1- Những tiến bộ về vật liệu 70
3.1.2- Những tiến bộ về kết cấu công trình 76
3.2- Ứng dụng công nghệ phục vụ bảo vệ bờ cửa sông ven biển thị trấn Gành Hào 87
3.2.1- Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ bảo vệ bờ 89
3.2.2- Lựa chọn kết cấu công trình bảo vệ bờ 92
3.2.3- Ứng dụng công nghệ cự BTCT dự ứng lực 96
3.2.4- Ứng dụng công nghệ bê tông mảng mềm bảo vệ mái bờ 101
3.2.5- Ứng dụng công nghệ mảng mềm bảo vệ mái bờ và lòng sông 108
3.2.6 -Ứng dụng công nghệ tạo mái bờ và lòng sông 115
3.2.7 -Ứng dụng công nghệ thi công đóng cọc chiều dài lớn 120
3.2.8 -Ứng dụng vật liệu tơi dời xây dựng đê ngầm, đê chắn sóng 122
3.2.9 -Ứng dụng công nghệ Stabiplage xây dựng đê phá sóng, nuôi bãi 126
3.2.10 -Ứng dụng giải pháp chống xói mòn bảo vệ mái đê bằng cỏ Vetiver 131
3.2.11- Quản lý vận hành và khai thác 133
Kết luận chương 134
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Tài liệu tham khảo.
-3-
MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nước ta là một quốc gia có bờ biển dài 3,300km, hạ lưu của rất nhiều con sông
lớn chảy qua lãnh thổ đổ ra biển. Những năm gần đây khái niệm” Approach the sea-
tiến ra biển” đã trở lên phổ biến, đặc biệt với cửa sông ven biển khu vực có nhiều tiềm
năng cho phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Đồng bằng sông Cửu Long
với các cửa sông đổ ra biển là tiền đề phát triển cho khu vực này nhưng tình hình sạt
lở, bồi lấp có những diễn biến phức tạp, vấn đề cần nghiên cứu xây dựng các giải pháp
ven biển khu vực thị trấn Gành Hào, tỉnh Bạc Liêu.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Từ điều tra thực tiễn công trình, phân tích, đánh giá các điều kiện liên quan đến vấn đề
quy hoạch, chỉnh trị các cửa sông ven biển ở Đồng Bằng sông Cửa Long.
Tiếp cận thành tựu khoa học công nghệ mới trong quy hoạch, chỉnh trị cửa sông
ven biển trên thế giới; cập nhật các mô hình tính toán; các phương pháp tính toán, các
tài liệu kỹ thuật, các thông tin về công nghệ mới về vật liệu, giải pháp thi công trong
xây dựng công trình bảo vệ bờ cửa sông ven biển trên thế giới.
Tiếp cận các giải pháp KHCN đã và đang phát triển ứng dụng trong chỉnh trị cửa sông
ven biển ở trong nước, phân tích đánh giá những tồn tại, hạn chế, qua đó lựa chọn giải pháp
hợp lý, hoàn thiện để phổ biến ứng dụng vào thực tiễn.
Nghiên cứu ứng dụng cho công trình bảo vệ bờ cửa sông ven biển khu vực thị trấn
Gành Hào, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, hướng tiếp cận nghiên cứu ứng dụng cho các cửa
sông ven biển vùng Đồng Bằng sông Cửa Long.
V. KẾT QỦA ĐẠT ĐƯỢC .
- Bức tranh tổng quan về sạt lở và các giải pháp chỉnh trị bảo vệ bờ ở Đồng bằng Sông Cửu
Long.
-Xây dựng được giải pháp tiếp cận nghiên cứu quy hoạch, chỉnh trị cho cửa sông ven biển thị
trấn Gành Hào, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
- Ứng dụng cho xây dựng công trình bảo vệ bờ cửa sông ven biển khu vực thị trấn Gành Hào,
huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
-5-
-6-
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XÓI BỒI & GIẢI PHÁP BẢO VỆ BỜ
CỬA SÔNG VEN BIỂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG.
1.1-Tổng quan tình hình xói bồi các cửa sông, ven biển ĐBSCL.
Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng trực tiếp của dòng chảy sông Mê
Kông, Sông Mêkông khi vào Việt Nam, chia thành 2 nhánh: bên phải là Hậu Giang -
sông Hậu và bên trái là Tiền Giang - sông Tiền, cả hai đều chảy vào khu vực đồng
[6]
Vào mùa khô, khi lưu lượng của dòng chảy từ sông nhỏ, lượng bùn cát vận
chuyển từ sông ra biển là không đáng kể, thì sóng và dòng triều chiếm vai trò chủ đạo
chi phối diễn biến hình thái tại cửa biển. Dòng triều trong giai đoạn này chiếm ưu thế
so với dòng chảy từ sông nên một lượng lớn bùn cát được dòng triều đưa vào trong
cửa, các cồn ngầm chắn cửa được sóng và dòng triều, dòng chảy dọc bờ sắp xếp lại và
dịch chuyển vào sát bờ, theo hướng sóng thịnh hành. Các doi cát ở cửa phát triển kéo
dài và được mở rộng trong giai đoạn này theo hướng của dòng vận chuyển bùn cát dọc
bờ chiếm ưu thế. Cửa biển bị thu hẹp và nông dần cho tới khi xuất hiện lũ trên sông.
Nếu sau 2,3 năm liên tiếp mà trên sông không xuất hiện lũ lớn thì khả năng bồi lấp
cửa, tạo ra các doi cát chắn cửa sông xảy ra là rất lớn.
Vào mùa mưa, khi trên lưu vực sông xuất hiện lũ, dòng chảy lũ trở thành yếu tố
động lực chiếm ưu thế so với dòng triều. Bùn cát ở các bãi sông, lòng sông và ở các
doi cát hai bên cửa bị đào xói, cuốn trôi và đẩy ra biển. Một phần bùn cát lắng đọng lại
ở các cồn ngầm chắn cửa, một phần bồi tích ở các bãi biển lân cận cửa. Cửa biển trong
giai đoạn này thường được mở rộng. Có thể thấy rõ mối tương quan giữa chiều rộng
của cửa với sự xuất hiện của lũ lớn trên sông. Qua phân tích trong thời đoạn dài cho
thấy, những năm không xuất hiện lũ lớn là những năm có chiều rộng cửa thay đổi
không đáng kể, thậm chí bị thu hẹp lại vào mùa khô kế tiếp. Để minh chứng cho điều
này có thể thấy qua bức tranh tình hình xói bồi các cửa sông, ven biển khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long.
1.1.1- Tình hình bồi xói các cửa sông ven biển Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Để phục vụ cho việc xây dựng phương pháp luận và cơ sở tính toán phục vụ luận văn,
tác giả đã điều tra tình hình xói bồi các cửa sông: Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa
Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên, Cửa Cung Hầu, Cửa Định An, Cửa Trần Đề, Cửa Gành
Hào.
1.1.1.1- Cửa Tiểu.
Cửa Tiểu nằm trong tỉnh Tiền Giang, thuộc hai huyện Gò Công Đông và Gò
Công Tây. Qua quá trình điều tra nghiên cứu những năm vừa qua trên đoạn sông dài
khoảng 26km từ xã Long Vĩnh huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang ra đến cửa biển.
10°10'
10°10'
10°20'
10°20'
106°30'
106°30'
106°40'
106°40'
106°50'
106°50'
N
Khu vực bồi lắng tốc độ 0 - 2 m/năm
Khu vực bồi lắng tốc độ hơn 2 m/năm
Khu vực sạt lở tốc độ 2 - 4 m/năm
Khu vực sạt lở tốc độ 4 - 7 m/năm
Sông, biển Đông
CHÚ THÍCH:
THƯỚC TỶ LỆ:
0 7 14 21 Kilometers
Hình 1.1- Hiện trạng sạt lở, bồi lắng Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cửa Ba Lai
* Phía bờ tả : Đi từ xã Long Bình, Bình Tân, Phước Trung, Tăng Hòa và ra đến
xã Tân Thành - huyện Gò Cơng Đơng cho thấy tại khu vực đỉnh cong xã Long Bình và
xã Phước Tân có một vài nơi bị xói lở do dòng chảy ép sát vào bờ, đoạn bờ xã Tăng
Hòa là bãi bồi và còn khu vực ấp Đèn Đỏ xã Tân Thành là khu vực gần cửa biển cũng
bị xói lở trên lớp đất mặt do sóng trong mùa gió chướng còn lại bờ sơng là dải rừng
ngập mặn được bao bọc bởi các loại cây ngập mặn như cây bần, đước tạo nên vành đai
gây bồi chống sóng rất hiệu quả. Hiện nay, tại khu vực ấp Đèn Đỏ, Nhà nước cho phép
đầu tư xây dựng cơng trình kè bảo vệ bờ, cơng trình đã xây dựng xong đầu năm 2006.
* Phía bên bờ hữu: Đi từ xã Phú Thạnh, Phú Đơng, Phú Tân ra đến cửa sơng.
Đoạn xã Phú Thạnh sạt lở xảy ra trước đoạn sơng cong xã Long Bình và sau đoạn sơng
sông Bình Châu đến cửa sông Cửa Đại là những vùng rừng ngập mặn sinh thái vừa có
khả năng bảo vệ bờ và bảo vệ môi trường một cách hữu hiệu.
Hình 1.3- Ảnh bồi tụ khu vực cửa Đại ( Bình Đại – Bến Tre)
Tuy nhiên việc xuất hiện các bãi bồi tại vùng cửa sông cũng đãlàm cho vấn đề
giao thông thủy hiện nay gặp rất nhiều trở ngại, nhất là trong các tháng mùa kiệt. Vùng
cửa sông nhất là từ cù lao Bà Nở ra đến cửa do xu thế bồi ở phần cuối cù lao nên đuôi
cù lao Bà Nở càng ngày càng dài thêm ra mỗi năm theo ước tính cù lao này được bồi
dài thêm hàng chục mét và nhiều cồn mới nổi ở phần đuôi cù lao đang có xu thế kết
nối lại với nhau làm cho sông Cửa Trung càng ngày càng dài thêm và trong tương lai
có thể sẽ trở thành một nhánh sông độc lập với nhánh sông Cửa Đại.
1.1.1.3-Cửa Ba Lai.
Sông Ba Lai (tên cũ Kiến Hòa), là một nhánh của sông Tiền chảy qua hai huyện
Bình Đại và Ba Tri phía bắc tỉnh Bến Tre ra cửa Ba Lai.
Vùng cửa sông Ba Lai được xem như bắt đầu từ cống đập ra giáp với biển, chiều
dài khoảng 21km. Do vị trí địa lý của hai bờ nên bờ tả bị xói lở và biến đổi, còn bờ
hữu thì bồi lắng tạo thành các bãi cát lớn dọc theo bờ và gần cửa sông thì tốc độ bồi
lắng càng mạnh và tạo thành các cồn mới nổi, trong đó một số nơi các loại cây ngập
-11-
Khu vực cửa Đại
mặn đã bắt đầu mọc. Chiều dài bị xói lở phía bờ tả là khoảng 3km, còn phía bờ hữu thì
hầu như không bị sạt lở.
Bờ sông đa phần thoải, những đoạn bờ sông nguyên thủy thường thấp và bị ngập
nước khi triều cường. Đoạn bờ sông ở vùng cửa sông chưa ổn định, đây là đoạn bờ
mới hình thành và hàng năm được kéo dài thêm ra biển do sự bồi lắng phù sa của sông
Ba Lai và một phần do lượng bùn cát theo dòng ven bờ mang vào trong các mùa gió
Đông Bắc và Tây Nam.
Hình 1.4-Bãi bồi bờ tả cửa sông Ba Lai - xã Thới Thuận
Hình 1.5-Sạt lở bờ tả cửa sông Ba Lai, xã Bảo Thuận và ấp 3 xã Thới Thuận.
Đặc điểm lòng sông mở rộng từ 500m đến 600m, đoạn cửa sông rộng tới 1.500
ûa
C
u
n
g
H
a
à
u
Ba Tri
Thạnh Phú
Cầu Ngang
Mỏ Cày
Châu Thành
Trà Cú
Giồng Trôm
Bình Đại
Duyên Hải
Càng Long
TX.
TRÀ VINH
Tiểu Cần
BẾN TRE
TRÀ VINH
C
ư
ûa
H
106°40'
106°40'
106°50'
106°50'
4 0 4 8 12 16 Kilometers
THƯỚC TỶ LỆ:
Khu vực cồn mới, đang nổi
Khu vực bồi lắng tốc độ 0 - 2 m/năm
CHÚ THÍCH:
Khu vực bồi lắng tốc độ hơn 2 m/năm
Khu vực sạt lở tốc độ 2 - 4 m/năm
Khu vực sạt lở tốc độ 4 - 7 m/năm
Khu vực sạt lở tốc độ 7 -10 m/năm
Sông, biển Đông
N
Hình 1.6- Hiện trạng sạt lở, bồi lắng Cửa Hàm Lng, Cửa Cổ Chiên, Cửa Cung Hầu
Vùng cửa sơng Hàm Lng được điều tra bắt đầu từ cù lao Đất thuộc xã An
Hiệp, huyện Ba Tri đến cửa sơng thuộc các xã An Thủy, huyện Ba Tri (bờ tả) và xã
Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú (bờ hữu) có chế độ thủy văn, thủy lực rất phức tạp, nên
các hoạt động xói lở bờ và bồi lắng tại đây xảy ra rất mạnh mẽ và đan xen lẫn nhau,
đặc biệt là trong mùa gió chướng, triều cường và trong mùa lũ một số đoạn bị lở mạnh,
nhưng một số đoạn khác thì bồi và tốc độ xói, bồi mạnh như nhau, đặc biệt tại vùng
cửa sơng thì cả hai bên bờ hàng năm được được bồi mạnh và nhiều cù lao đang được
hình thành do tác động bồi.
Từ cù lao Đất đến cửa sơng, lòng sơng khá rộng khơng có đoạn cong nhưng có
rất nhiều kênh rạch lớn nhỏ cắt ngang, trong đó có những rạch tương đối lớn như rạch
Giàm Rỗng, Băng Cung (phía bờ hữu), rạch Mương Đào, Ba Tri (phía bờ tả), ngồi ra
có khá nhiều rạch nhỏ chiều rộng khoảng 30m dọc theo hai bên bờ sơng.
Từ cù lao Đất đến cửa sơng có khá nhiều cồn ngầm đang nổi và một số các bãi
bên đã và đang được hình thành nhất là đoạn ngang cù lao Đất (về phía bờ huyện Ba
Cù lao Thủ chia vùng cửa sông Cổ Chiên thành hai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu
tại đoạn cách biển Đông khoảng 23km.
Hình 1.8a- Ảnh sạt lở, bồi lắng Cửa Cổ Chiên( Thạnh Phú – Bến Tre)
Hình 1.8b- Ảnh sạt lở, bồi lắng Cửa Cổ Chiên( Thạnh Phú – Bến Tre)
Theo những điều tra mới nhất thì hiện nay có 2 cồn ngầm, khi mực nước ròng có thể
nhìn thấy rất rõ và 2 cù lao mới các loại cây bần, đước đã bắt đầu mọc. Các cù lao này
có xu hướng kết nối lại với nhau, tạo thành một cù lao rất dài chạy ra đến tận cửa biển,
chiều dài ước tính khoảng hơn 12km. Việc hình thành và kết nối các cù lao cùng với
tình hình xói bồi tại vùng ven biển, cửa sông Cổ Chiên đã làm cho vấn đề giao thông
thủy và thoát lũ càng trở nên phức tạp.
1.1.1.6- Cửa Cung Hầu.
-15-
Khu vực đầu cù lao Thủ nhiều cù lao lớn, nhỏ mới được hình thành ở giữa sông
trong khoảng 10 năm trở lại đây như các cù lao Nóc, cù lao Lác và cù lao Năng.
Hình 1.9- Bãi bồi vùng cửa Cung Hầu, đoạn từ thị trấn Mỹ Long đến
sông Bến Chùa thuộc huyện Cầu Ngang - Trà Vinh (bờ hữu).
Vùng cửa Cung Hầu là một trong ba vùng cửa có sóng rất mạnh trong tất cả các
cửa thuộc hệ thống sông Cửu Long. Tuy nhiên do tác dụng của dải rừng ngập mặn ven
bờ nên hàng năm bãi bồi lại phát triển thêm hàng kilômét.
Vùng cửa Cổ Chiên và Cung Hầu tình hình xói lở và bồi lắng diễn biến rất
phức tạp. Vì cửa sông rất rộng (8÷9km) nên chịu sự tác động mạnh của sóng biển, nhất
là vào các mùa gió Đông Bắc và Tây Nam, đặc biệt là trong mùa gió chướng. Do hai
bên bờ vùng cửa sông, kể cả bờ trên các cù lao, các loại cây chịu mặn mọc rất dày, cho
nên có tác dụng giảm sóng gây bồi lắng.
Mặt khác do lượng phù sa từ thượng nguồn đổ về trong mùa lũ kết hợp bùn cát
do dòng triều vào tạo nên vùng giao thoa rất lớn giữa hai nguồn nước nên đã làm cho
vùng cửa sông được bồi lắng rất nhiều, các cồn ngầm, cù lao mới được hình thành
trong khoảng chục năm gần đây.
-16-
Việc hình thành các cù lao đã làm tăng thêm diện tích đất liền vùng cửa sông
Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, đoạn đuôi cù lao Dung. Vùng ngoài cửa Định An và Trần
Đề là vùng giao thoa giữa từng cặp dòng phú sa và bùn cát, một do gió mùa Đông Bắc,
một do gió mùa Tây Nam và một do phù sa từ thượng nguồn sông Hậu đổ về trong
-17-
mùa lũ, cho nên cửa Định An hàng năm được bồi lắng bởi một khối lượng rất lớn bùn
cát và phù sa làm cho tàu bè lớn rất khó khăn khi ra vào cảng Cần Thơ. Hàng năm Nhà
nước đã đầu tư rất lớn kinh phí để nạo vét tuyến luồng, nhưng vẫn chưa có giải pháp
nào thực sự hữu hiệu để ngăn chặn bồi lắng vùng cửa sơng này.
BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SẠT LỞ, BỒI LẮNG CỬA ĐỊNH AN, TRẦN ĐỀ
Tỷ lệ: 1/500.000
N
5 0 5 10 15 20 Kilom eters
THƯỚC TỶ LỆ:
P.5
P.8
P.7
P.4
P.3
P.10
P.9
P.6
C
ư
ûa
Đ
ò
n
h
A
I
E
Å
N
Đ
O
Â
N
G
9 20' 9 30' 9 40' 9 50'
oooo
9 20'9 30'9 40'9 50'
o o o o
106 00' 106 10' 106 20'
ooo
106 00' 106 10' 106 20'
ooo
Khu vực bồi lắng tốc độ hơn 2 m/năm
Sông, biển Đông
CHÚ THÍCH:
Khu vực sạt lở tốc độ 2 - 4 m/năm
Khu vực sạt lở tốc độ 4 - 7 m/năm
Khu vực sạt lở tốc độ 7 - 10 m/năm
Hình 1.10- Hiện trạng sạt lở, bồi lắng Cửa Định An, Cửa Trần Đề
1.1.1.8- Cửa Trần Đề.
Điều tra hiện trạng bồi lấp, xói lở cửa Trần Đề từ xã Đại Ân, hai bên bờ phải và
xã Đại Ân Một bên bờ trái thuộc huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng ra đến cửa sơng.
Chiều rộng lòng sơng đoạn này khoảng 1,6 km và cách bờ biển khoảng 15km. Hai bên
bờ sơng tương đối thoải dọc bãi là dải rừng ngập mặn như: bần, mắm, đước, chà là,
cho q trình bồi tụ phát triển.
1.1.1.9-Cửa sơng, ven biển thị trấn Gành Hào.
Gía Rai
Đầm Dơi
BẠC LIÊU
CÀ MAU
Cửa sông Gành Hào
B
I
E
Å
N
Đ
O
Â
N
G
S. Gành Hào
9 00' 9 10'
o o
9 00'9 10'
oo
105 20' 105 30'
oo
105 20' 105 30'
oo
BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SẠT LỞ CỬA SÔNG GÀNH HÀO - TỈNH BẠC LIÊU
Tỷ lệ: 1/200.000
N
Sạt lở đã lấn sâu vào chân tường Nhà máy Đông lạnh. Nhiều vết nứt đã xuất
hiện ở nhiều khu vực của thị trấn như khu vực trung tâm chợ, khu công an, khu Nhà
máy đông lạnh.
Cùng với hiện tượng sạt lở bờ sông Gành Hào, bờ biển khu vực thị trấn Gành
Hào trong vòng 30 năm lại đây cũng đã bị sạt lở nghiêm trọng, diện tích mất đất trung
bình hàng năm đến 5 ha.[6]
Các đợt sạt lở trong mùa gió chướng đầu năm 1999 diễn ra rất mạnh và với qui
mô lớn: bờ biển đã bị lấn thêm vào từ 10÷15 m, khu vực cửa sông đã mở rộng, nhà
cửa nhân dân xung quanh đã sụp đổ xuống sông và Trạm kiểm soát biên phòng đã
phải di dời nhiều lần. Vì vậy năm 1999 Nhà nước đã đầu tư xây dựng một bờ kè bằng
rọ đá dài khoảng 350m bắt đầu từ Trạm kiểm soát biên phòng chạy dài theo cửa sông
thuộc khu vực I, thị trấn Gành Hào. Việc xây dựng cũng đã mang lại những tác dụng
nhất định cho khu vực cửa sông kể từ năm 1999 đến năm 2001. Tuy nhiên trong những
năm qua khi những đợt sóng rất lớn trùng với những ngày triều cường đã tràn qua cả
phần bờ kè đá và lôi ra ngoài nhiều tảng đá lớn và những tấm bêtông của bờ kè, trong
đó có những tấm nặng trên 1 tấn. Trong những năm 2004, 2005 có thêm một đợt sạt lở
với qui mô lớn tại khu vực chợ Gành Hào, gần 100m đoạn bờ sông tập trung động dân
cư hất đã bị sụp xuống sông. Khu vực này trước đây đã từng bị sạt lở nhưng sau đó
người dân đóng cọc và làm nhà tạm tại ngay vị trí sạt lở đó. Phía bờ bên kia thuộc
huyện Đầm Rơi tỉnh cà Mau bị sạt lở tại cửa kênh Xáng làm cho cửa kênh ngày càng
được mở rộng thêm.
-21-
Hình 1.14- Sạt lở bờ sông khu vực Nhà máy Đông lạnh Gành Hào
1.1.2- Nguyên nhân bồi xói các cửa sông, ven biển ĐBSCL.
Sạt lở là kết quả của sự tương tác qua lại giữa dòng chảy và lòng sông, sự biến
đổi biên độ triều, sóng ảnh hưởng đến sự thay đổi hình thái và sự an toàn của bờ
sông, bờ biển.
Đối với hệ thống các cửa sông Cửu Long xu thế bồi chiếm ưu thế rõ rệt tại đoạn
đường bờ giáp biển tại tất cả các cửa sông. Các cồn cát (bãi cát) được hình thành chắn
ngang các cửa sông cùng với nó là đường bờ sông có xu thế kéo dài ra phía biển Đông.
Minh Thuan
Cua Duong
Tan loc
Phu My
Hoa Dien
TT. Kien Luong
Binh An
TT. Thu Muoi Mot
Phu Tan
Long Di en Dong
Vinh hai
Tan Phu
Đất Mũi
Phu Hai
Thanh Hung
Tan Hoi
Dong Thanh
Vinh Phong
Hoa Hung
Tho Son
Tan Thuan
Bai Thom
Thuy Tay
Tan Hung Tay
Cua Can
Van Khanh
Ho Thi Ky
Vinh hiep
Tan Hung
Son Kien
Luong An Tra
Khanh Binh Tay
Huong Thanh
Ngoc Chuc
Vinh Tuy
Ninh Quoi
Trung Binh
My Quy
Vinh Hoa
Hoa An
Tan Thanh
Tan Bi nh
Tan Duc
An Trach
An Phuc
Lieu Tu
My Tu
Hung My
P.5
Tan Lap
Thanh DongA
Thanh Dong B
Co To
Tan An
Ta An Khuong
Tan Cong Sinh
Tran Phan
Tan HiepB
Hoa Thuan
Vinh Loi
Dong Thai
Ham Ninh
An Xuyen
Thai Tri
Tan Hoa
Hoa Tu 2
My Quoi
Mong Tho A
Long Hoa
Xa Phien
Luong Tam
THoi Dong
Le Tri
Thuan Yen
Thanh Quoi
Hiep Thanh
Phu Huu
Vinh Phuoc A
Vinh Thinh
Phu Dien
Phu Hiep
TT. Phuoc Long
Long Toan
Thanh Loi
Binh Phu
Dinh Hoa
Tan Hiep
Thanh Thang
Binh Thanh
Khanh Hoa
Tri Phai
Dai An
Tan My
Vi Thanh
My Duc
Dinh My
Vong The
Phong Tan
Vinh Phu Tay
My Hoa
Phu Tam
Dong Thuan
Thanh Son
Phuong Binh
Thua Duc
Nhi Truong
Tan Kieu
Vinh Trung
O Lam
Hoa Tien
Vinh Binh
An Truong
Vinh Thuan
Vi Dong
Hung Dien A
Binh Hoa Nam
Long Tan
Thanh My
Phu An
Binh My
Hoa Tan
Vinh Hung
Khanh Tien
Ba Trinh
Vinh An
Phu Hoa
My Quy Tay
Tan Phong
Dan Thanh
Khanh Binh Dong
Vinh Gia
Trung Hung
Thuy Lieu
Hoi An
Trung An
Nhi My
Dong Thoi
Ham Rong
Ban Tan Dinh
Thanh My Tay
Phuoc Long
Thanh Tri
Luong The Tran
Minh Hoa
Long Thoi
An Hiep
Binh Tan
An Tuc
Thanh Hoa
Song Loc
Vinh loi
An Nong
Ke An
Long Son
An Phu Tan
Hung Dien B
Nhon Ninh
Nhon My
An Hoa
Ninh Hoa
Bac Hoa
Quoi An
Vi Tan
Hoa Loi
Vien An
Hung Hoa
Hung Phu
My Thanh Tay
Ngai Tu
P.8
Tuan Tuc
VÜnh T©n
Vinh Chanh
Vong Dong
An Nhon
Chau Thoi
My Tho
Hung Hoi
Long Hung
Binh Hoa Tay
Tan Khanh Hoa
Hoa Binh
Vinh Quoi
Mong Tho B
P.7
Phong Thanh
Nhi Long
Long Thuan
Phu Loc
Nhon NghiaTruong Long Tay
Ke Thanh
My Thanh Bac
Phung Hiep
Binh Hoa Bac
Duc My
Phu Can
Trinh Phu
Ngoc Dong
Binh Hoa Hung
Thoi An Hoi
P.4
Binh Hoa
Phong Thanh Tay
TT. Hon Dat
Bao Thach
Tan Thanh A
My Hiep
My Dong
Chau Dien
Phuong Phu
Long Thang
Ngoc Bien
My Hung
My Quy Dong
Phuoc Thoi
Trung Nghia
Giuc Tuong
Chau Binh
An Binh
Hoa Lac
Vinh Hoa Hung Nam
Tan Hue
Tan Thanh B
An Ninh Tay
Hieu Thuan
Lac Quoi
Truong Thanh
An Lac Tay
Phu Binh
Vinh Xuan
Truong Long
Vinh Hoa Hung Bac
Binh Phong Thanh
Doc Binh Kieu
Dinh Mon
Long Hau
Phuoc Hung
Lang Bien
Tra Con
Tan Nghia
Phuoc Hao
My Lac
Phu son
Ninh Thoi
TT. Cau Ngang
Phu Thanh
TT. Phu Loc
Bao Thuan
My Hanh Bac
Cam Son
P.2
Thuan An
Nguyen Huan
Vi Thang
Tien Thuy
Binh Hoa Dong
Phu Long
Phu Xuan
Ly Van Lam
Truong Khanh
TT.Long Phu
Hoi Loc
My Phu Dong
TT. Minh Luong
Duc Lap Ha
P.3
Tan thanh
Lam Kiet
My Thanh
Tan Quoi
Thuong Thoi Tien
Thanh Thoi Thuan
Phu Vinh
Phu Lam
Binh Thanh Trung
Hiep Xuong
Hung Le
An Thanh Trung
Le Chanh
Phuoc Dong
Dai Hoa Loc
Hoa Khanh Tay
Quoi Thien
Long An
Tan Hanh
Hieu Thanh
Hoa Phu
Hoa Long
Minh Duc
Duc Hoa Ha
Hoa Hiep
Chau Hoa
An Dinh
Phuoc Lai
P.10
Long Giang
P.9
Tan Chanh
Luc Sy Thanh
Long Kien
Quoi Son
Lai Son
Chanh An
Trung Hieu
My An Hung B
Duc Tan
Binh Phuoc
Thuong Lac
Tien Long
Vinh Tuong
Vinh Thuan Tay
Hau Thanh Dong
Phu Thuan A
Tan Kim
Binh Thuy
Son D inh
TT. Go Quao
Nhon Hoi
My Hoa Hung
My Luong
Phuong Thanh
Long Hiep
Tan An Hoi
Nhon Phu
Phu Le
Thanh Trung
An Luc Long
Huu Dinh
Song Phung
Hau Loc
Tan Thoi
Tan Thuy
Duc Hoa Thuong
Phu Quoc
Phuong tra
Tan Trach
Tan Khanh Dong
Hoa Ninh
Phu Khanh
Nhut Chanh
Hieu Nghia
Phu Phung
Thanh Phu Long
My Khanh
Phuoc Tuy
Binh Hang Trung
Nhat Tan
Loc Hoa
Dong Binh
TT.My Xuyen
Chau Khanh
Loc Thuan
Sa Rai
Hung Khanh Trung
My Thanh Trung
Tan Hao
Trung Thanh
Long Tuyen
My Hanh Nam
Giao Thanh
Vinh Cong
Tan Tuan Dong
Phu Vang
TT. Tri Ton
Khanh Thanh Tan
Phuoc Ly
TT. Gia Rai
Tan Luoc
Phuoc Vinh Dong
Binh Hang Tay
Nhuan Phu Tan
Vinh Truong
Binh phuoc Xuan
Binh Tinh
Chau Phong
Long Phuoc
Truong Binh
Phuong 6
Thu Thua
Binh Thanh Dong
Tan Long Hoi
Nguyet Hoa
My Xuong
Vinh Hiep
Phuoc Vinh Tay
My Nhon
Luong Phu
Hoi An Dong
TT. An Chau
P. 3
TT. Hau Nghia
Phuong 9
Tan Loi Thanh
Lai Vung
Trung Thanh Tay
Tan Quy Tay
An Phu Trung
Long Trach
Tan Phu Tay
TT. Ngang Dua
Thanh Dong
TT Hiep Hoa
TT.Giong Trom
Long Cang
TT. Mo Cay
Phuoc Hau
Binh Lang
Long Khe
Chau Phu B
Thanh Trieu
Khanh An
My An Hung A
Thuong Thoi Hau B
Phuoc Loi
Thuan Thanh
TT. Ganh Hao
TT. An Phu
Tan Thuan Tay
Phu An Hoa
Tan Thach
Que My Thanh
Truong An
Binh Khanh Dong
TT.Huynh Huu Nghia
Huong Tho Phu
P. 5
Hon Tre
Tuong Da
Tan Thanh Tay
Vinh Hoi Dong
An Son
TT. Dong Thanh
Luong Quoi
Binh Trinh Dong
My Thanh An
Long Phung
TT. Nha Bang
TT. Cho Lach
Giao Long
Hung Loi
Nhon Thanh Trung
Phuoc My Trung
Tan Quy Dong
TT. Cai Von
Phu Nhuan
Tieu Can
TT. Tan Chau
TT. Tan Tru
P. 6
Phu Khuong
TT Chau Thanh
TT. Can Giuoc
An L ac
TT. Cang Long
An Hoi
Vinh Thanh Van
Cửa Tiểu
Cửa Đại
Cửa Ba L ai
Cửa Hàm Luôn g
C
ư
û
a
Cổ Chi e
ân
Cư
û
a
Cu
ng
H
ầu
0
21
s.
kinh ma cau
k.thot not
s.ganh hao
r.hau boi
SONG BAI HAP
sg.ba lai
s.trem trem
K.XA NO
sg.ho cu
k.rgia di lxuye
S.DAM DOI
s.ong doc
k.thap muoi
k.ca mau di BL
r.ca mau
k.vi nh te
rach o mon
song ganh hao
DAM DONG CUNG
R.BAI
r.cai t au
26
r.ben tre
R.ONG THUOC
QUAN LO DI PHUN
K.XANH TO NOI
KINH XA NO
R.XEO CHIT
S.CAN THO
S.DAM CHIM
R.BANG CUNG
RACH LA
R HO CO
xang moi ba the
k.xang phuoc lo
k.bay hap
KINH DONG CUNG
CAI RANG LON
r.my ngai
r.rau dua
S.
Ôn
g T
ran
g
k.tri ton
R.EO LOI
k.song trem
r.mieng vung
bung binh thien
r. ba rang
k. dong tien
k.canh den
27
R.CAI RANG
R.DINH
rach tra noc
R. Tàu
rach cai dam
R.CAI NGAY
k.go gia
rach nha man
RACH GIA
kinh f
R.TRAI LUOI MOI
kinh d
k. vinh te
R.CAI NHAP
S.CAI NUOC
r.thong luong
r.ba sao
rach binh thuy
r.can lo
R.PHONG DIEN
K.XANG NGANG DU
r.bang tang
k.xang huyen
kinh mot
k.ba the moi
lung bau sang
rach can thao
R.CAI BAT
R.DUONG
K.CAI DAU
RACH CAI DOI
K.TRA BAN
R.CANH DEN
R.CAI GUI
r.ban
kinh g
r.ba hut
R.MANG DO
r.giong tra
R.BEN BA
K.THAC LAC O MO
song cu
k.muong khai
r.choi cau
kinh hoa do
r.cay tra
R.GIONG BOM
R.CAI TOAN
r.cai muong
R.SAU
R.XEO LA
kinh tieu
rach ba tri
K.BA KHEO
r.dau la
m.chung kiet
s. doi hang ha
kinh so ba
kinh so bon moi
K.NGA CAY
kinh o mon
r.bon bon
btri di gtr om
R.BA HIEN
NGON DONG CONG
R.CAI CHANH LON
rach cat
K.MAI DAM
R.BAU SEN
rach t ra
r.ba vat
R.NGA BAT
r.trau trang
rach ba mit
ngon diem dien
R.MIEU
S.TREM TREM
k.doc phu hien
muong tieu
r.cau nhiem
R.BA KHUE
RACH LONG
R.VAM THOM
TRUM GONG
K.BAY THUA
rach bo o
r.ngon cai cai
rach nga cay
r.ba hoi
R.CAI CHON NHO
rach r uong
k.ong kho
R.BIEN LE
r.ba vai
K.CA NA BEN
k bach nguu
r.song tien
rach khem
k.giong t rom
r.cai vung
rach cai tre
k.ba cang
R.CAI LANG SAU
rach cai sao
k.cai beo
muong doi
r.muong khai
rach cai xeo
r.mat det tay
ho
r.bien trang
rach cai beo
RACH DAI DUA
Khu bảo tồn
đấ t mũi Năm Căn
Tran Thoi
Viên An
104
104
105
105
106
106
9
9
10
10
dần về phía hạ du; dịch chuyển sang trái - sang phải; Khu vực các cửa sơng Cửu Long:
q trình bồi lắng phát triển các cồn ngầm và cù lao giữa dòng cũng như bồi tụ phát
triển các bãi bên diễn ra phổ biến, mạnh mẽ. Điển hình là cồn ơng Chí khu vực cửa Đại,
cồn ngầm song song với cồn Phụng khu vực cửa Cung Hầu, các bãi bên khu vực cửa
Đại, Hàm Lng, Định An.
-23-
Trong các yếu tố có ảnh hưởng tới diễn biến cửa sơng ven biển biển thì tác
động của thủy triều và dòng triều có chu kỳ tác động ngắn nhất (chu kỳ giờ và trong
một chu kỳ triều), sóng có chu kỳ tác động thay đổi theo chế độ gió mùa; còn dòng
chảy sơng có chu kỳ tác động thay đổi giữa mùa lũ và mùa kiệt trong một năm. Do
mùa lũ thường ngắn (chỉ diễn ra trong bốn tháng) và mùa kiệt kéo dài nên tác động của
dòng chảy lũ chỉ có thể thấy rõ rệt nhất sau khi xảy ra lũ lớn trên sơng. Ngay sau khi
xảy ra lũ, địa hình cửa cho thấy sự ảnh hưởng của yếu tố dòng chảy từ sơng ra, địa
hình cửa và vùng lân cận bị thay đổi lớn do sự phân bố lại bùn cát ở vị trí cửa và vùng
lân cận. Tuy nhiên đây mới chỉ là trận lũ đầu mùa nên hình thái cửa sơng do nó tạo nên
sẽ khơng đại diện cho đặc trưng hình thái của cả mùa lũ.
YẾU TỐ TỰ NHIÊN
Yếu tố lòng dẫn :
- Hoạt động tân kiến
tạo.
- Địa chất, địa mạo.
- Hình thái.
Yếu tố khí tượng thiên
văn :
- Bão, áp thấp nhiện đới
- Gió mùa, nhiệt độ, độ
ẩm
Các yếu tố thủy văn, hải
văn:
- Sóng dòng ven bờ.
đê biển sẽ là một thành phần bắt buộc, nó có thể được sử dụng kết hợp với các giải
pháp, biện pháp khác để thỏa mãn nhiệm vụ bảo vệ chung của vùng bờ cửa sông, ven
biển.
1.2.1- Giải pháp phi công trình.
Đây là giải pháp mang tính xã hội cao, kết hợp các hoạt động nắm bắt thông tin,
theo dõi, dự báo nguy cơ sạt lở bờ, cảnh báo kịp thời từ các cấp quản lý tới nhân dân
trước nguy cơ tai biến của thiên nhiên để kịp thời phòng tránh.
Tiến hành theo dõi sạt lở theo định kỳ về quy mô, cường độ, biên độ, hướng
dịch chuyển kết hợp đo đạc đánh giá bất thường với các tình huống xảy ra.
Xây dựng cơ sở dự liệu số, cập nhật và thông tin, lưu trữ bằng máy tính theo
năm, tháng, ngày, giờ. Kết nối mạng thông tin giữa các cấp cơ quan quản lý với các cơ
quan nghiên cứu khoa học và cộng đồng nhân dân nhằm cập nhật thông tin và có
những quyết định ứng xử kịp thời, phù hợp.
Thông tin kịp thời, chính xác tới nhân dân để họ chủ động tự ứng cứu cho mình.
Phát lệnh cấp báo trong trường hợp khẩn cấp thông qua hệ thống thông tin quản lý,
kiểm soát sạt lở để người dân di dời và phòng tránh nhanh nhất.
Tổ chức xây dựng các kịch bản ứng cứu, lực lượng ứng cứu, phương tiện kỹ
thuật, cơ sở vật chất chủ động, bảo vệ an toàn cho nhân dân khi có sự cố xảy ra.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh, huyện, xã. Phân cấp
mức độ sạt lở để bố trí các khu dân cư, công trình dân sinh, kinh tế. Tổ chức di dời dân
-25-