Vấn đề đổi mới công nghệ trong các Doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước ở VN - Pdf 12

Đề án môn học Quản lý kinh tế 40A
Mở bài
Qua thực tiễn phát triển kinh tế xã hội với những thành công và không
thành công, cả thế giới đều thức tỉnh một điều: công nghệ là chìa khoá để làm
chủ sự phát triển kinh tế. Ai nắm đợc công nghệ ngời đó sẽ làm chủ đợc tơng
lai. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công nghệ, em đã chọn đề tài: Vấn đề
đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc ở Việt
Nam".
Đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản
phẩm, tạo ra sản phẩm mới, ngành nghề mới, thay đổi cơ cấu kinh tế.v.v... nhằm
phát triển kinh tế, hôi nhập với kinh tế thế giới là một nhu cầu tất yếu khách
quan. Đối với nớc ta cũng nh các nớc đang phát triển, việc đầu t đổi mới công
nghệ phải là một việc làm đơn giản và dễ dàng. Ngời ta đã ví công nghệ là trò
chơi của ngời giầu, ớc mơ của ngời nghèo và là chìa khoá của ngời khôn ngoan.
Chúng ta muốn và rất muốn công nghệ là chìa khoá để chúng ta mở cửa hội
nhập, theo kịp với thế giới. Điều mong muốn tốt đẹp ấy chỉ là thực tế khi các
doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc phải coi đổi mới công nghệ là biện pháp chủ
yếu hàng đầu để phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh -
dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trờng.
Nội dung chủ yếu của đề tài gồm 3 vấn đề:
Ch ơng I : Phơng pháp luận vấn đề đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp
Ch ơng II : Tình hình đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công nghiệp Nhà n-
ớc Việt Nam trong thời gian qua.
Ch ơng III : Một số ý kiến đề suất thúc đẩy đổi mới công nghệ ở các doanh
nghiệp công nghiệp Nhà nớc.
Do các điều kiện về thông tin và trình độ nhận thức về đề tài còn nhiều
hạn chế nên trong bài viết còn nhiều thiếu sót cần khắc phục, em rất mong sự
chỉ bảo tận tình của thầy để những bài viết sau đợc tốt hơn.
Qua đây em gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo Ths. Phạm Vũ
Thắng đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em hoàn thành bài viết này.
Ngô Thị THanh

Ngô Thị THanh
2
Đề án môn học Quản lý kinh tế 40A
2- Thành phần của công nghệ:
Qua những khái niệm về công nghệ, ta thấy có thể nói công nghệ làm
tăng khả năng cơ bắp và trí tuệ của con ngời trong quá trình chinh phục thiên
nhiên và sự phát triển kinh tế - xã hội tất nhiên, muốn tác động có hiệu quả th-
ờng phải thông qua các phơng tiện vật chất, công cụ lao động,... Vì vậy, khi nói
tới công nghệ chúng ta phải xem xét cả hai khía cạnh gọi là "phần mềm" và
"phần cứng". Phần cứng là biểu hiện của máy móc, trang bị, công cụ, năng lực,
nguyên vật liệu. Phần này giúp tăng năng lực cơ bắp (máy móc thiết bị), tăng trí
lực của con ngời (tin học). Phần mềm là vấn đề kỹ năng, thông tin tổ chức quản
lý.
Theo quan điểm phổ biến hiện nay thì công nghệ bao gồm 4 thành phần
cơ bản tác động qua lại với nhau để tạo ra bất kỳ sự biến đổi nào:
- Một là, công nghệ hàm chữa trong máy móc, trang bị, công cụ, nguyên
vật liệu. Phần này gọi là phần lỹ kỹ thuật của công nghệ (Technoware), biểu thị
phơng tiện vật chất, làm tăng thêm sức mạnh cơ bắp và sức mạnh trí tuệ của con
ngời.
- Hai là, công nghệ hàm chữa trong con ngời nh kỹ năng, kinh nghiệm
tính sáng tạo, sự khôn ngoan, gia truyền, khả năng lãnh đạo, đạo đức kinh
doanh, tính cần cù, trực cảm tài nghệ... Phần này gọi là phần con ngời công nghệ
(Humanware), biểu thị năng lực của con ngời, tạo ra sự vận hàng và duy trì hoạt
động của mọi phơng tiện biến đổi.
- Ba là, công nghệ hàm chứa trong tài liệu nh dữ kiện, thiết kế, khái niệm,
phơng pháp, kế hoạch, các định mức, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, các hớng dẫn
nghiệp vụ, các bí quyết kỹ thuật (Know - how). Phần này gọi là phần thông tin
của công nghệ (Inforware), biểu thị những vấn đề đã đợc t liệu hoá, tồn trữ các
tri thức đã đợc tích luỹ để rút ngắn thời gian, hoạt động của con ngời.
- Bốn là, công nghệ hàm chứa trong thể chế nh: thẩm quyền trách nhiệm,

nhiên và xác lập nên nền văn minh nông nghiệp. Đến cuối thế kỷ XVIII, công
nghệ cơ khí, máy móc với máy dệt, máy hơi nớc, máy điện... đã làm tăng năng
xuất lao động lên gấp bội, công nghệ khai thác mỏ với than đá, dầu khí đã góp
phần thắp sáng cuộc cách mạng công nghiệp, làm xuất hiện nền văn minh công
nghiệp.
Ngô Thị THanh
4
Đề án môn học Quản lý kinh tế 40A
Nh vậy, công nghệ không sinh ra nh một vật tự nó mà bắt nguồn từ nhu
cầu nhận thức và cải tạo thế giới của xã hội loài ngời. Trong thế giới hiện đại, từ
nhà kinh doanh muốn dành u thế trong cạnh tranh đến các nhà lãnh đạo quốc gia
muốn đa đất nớc ra khỏi nghèo nàn lạc hậu đều phải tìm câu trả lời trong những
chính xác cụ thể và phát triển công nghệ. Mối quan hệ giữa công nghệ và quá
trình biến đổi xã hội trở nên vô cùng phức tạp, thúc đẩy lẫn nhau và bao trùm
rộng khắp các lĩnh vực hoạt động của con ngời.
Cùng với sự phát triển của công nghệ, con ngời từ chỗ bắt trớc đã tiến tới
thách đố với tự nhiên. Từ hoàn thiện công nghệ khai thác kim cơng tự nhiên, con
ngời đã tìm ra phơng pháp chế tạo kim cơng nhân tạo ở quy mô công nghiệp.
Gần 200 năm qua, công nghệ - thơng mại - dịch vụ đã tạo nên một trục
quan trọng trong xã hội công nghiệp với một lực lợng sản xuất hàng hoá hùng
hậu, trong một thị trờng sống động và cũng đầy sự phân chia, giành giật khốc
liệt ...
Ngày nay, khi nói về vai trò của công nghệ đối với sự biến đổi và phát
phát triển xã hội. Tiến sĩ N.Shrif - Giám đốc trung tâm chuyển giao khu vực
Châu á - Thái Bình Dơng đã nhận xét đại ý nh sau: Kinh nghiệm phát triển của
các nớc trên thế giới chỉ ra rằng, quy mô dân số và tài nguyên thiên nhiên không
thể đảm bảo cho sự thành công kinh tế của nhân tố rất quyết định khả năng của
một quốc gia để tiến nhanh hơn với mục tiêu kinh tế - xã hội. Trong thế giới
ngày nay công nghệ mang lại lòng tin, niềm hy vọng và giá trị của cả nhân loại.
Với sự cách biệt ngày càng lớn giữa ngời giàu và ngời nghèo, vai trò quyết định

và sử dụng.
Ngời ta ví: Công nghệ là trò chơi của ngời giàu, ớc mơ của ngời nghèo, và
chìa khoá của ngời khôn ngoan. Biết vậy nhng tiếp cận công nghệ mới, sử dụng
để đạt mục tiêu kinh tế xã hội và môi trờng là vấn đề khó khăn đối với chính phủ
và với doanh nghiệp.
Nh vậy, thực tế đã ghi nhận sự đổi mới và phát triển công nghệ và yêu cầu
bức xúc của cuộc sống trong thế giới hiện đại. Bởi vậy, việc làm rõ phạm vi,
mức độ, bớc đi, nội dung và mục tiêu cần đạt tới về mặt công nghệ trong từng
giai đoạn phát triển của một quốc gia không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, ph-
ơng pháp luận mà còn có tác động trực tiếp tới hoạt động thực tiễn. Điều này
Ngô Thị THanh
6
Đề án môn học Quản lý kinh tế 40A
đặc biệt quan trọng đối với các nớc đang phát triển, bởi lẽ do hoàn cảnh lịch sử
để lại, các nớc đang phát triển cũng là những nớc lạc hậu về công nghệ, các yếu
tố lịch, truyền thống, nếp nghĩ, cách làm không phải là quá trình tự đến để thích
nghi rồi phát triển đợc.
2. Đánh giá trình độ công nghệ của sản xuất công nghiệp :
Đánh giá công nghệ bắt nguồn từ điểm giao nhau của hai quan điểm:
Công nghệ thích hợp và những quyết định khoa học, xuất phát từ nhận thức cho
rằng không phải tất cả các công nghệ hay đổi mới đều mang lại văn minh cho
một xã hội: Đánh giá công nghệ là cơ sử để đa ra các quyết định về chính sách
công nghệ, về kế hoạch phát triển và từ đó để đổi mới lựa chọn công nghệ thích
hợp nhằm phục vụ cho chiến lợc phát triển kinh tế xã hội của đất nớc.
Đến nay mục tiêu của đánh giá công nghệ đợc mở rộng, không những chỉ
nhằm ngăn chặn sự suy giảm chất lợng cuộc sống về mặt sinh học còn ngăn
chặn ảnh hởng xấu đến hệ sinh thái. Xu hớng mới là tối đa hoá sự ổn định các
ảnh hởng tốt của công nghệ và phát triển công nghẹ phù hợp với môi trờng xung
quanh theo nghĩa rộng. Trên thực tế chỉ có các nớc phát triển mới có điều kiện
để giải quyết vấn đề tối đa hoá các yếu tố tích cực của công nghệ, còn các nớc

cao. Con đờng thứ hai ngắn hơn vốn ít hơn và chịu ít rủi ro hơn (tất nhiên nó chỉ
tiến hành đợc ở thời điểm công nghệ đã phát triển mạnh và có công nghệ đáp
ứng nhu cầu mua). Thật vậy, bằng con đờng nghiên cứu, phát minh, để công
nghiêp hoá đất nớc mình, nớc Anh (đất nớc hùng cờng sớm nhất thế giới đã phải
mất 120 năm; nớc Mỹ cái nôi của những phát hiến khoa học) cũng phải mất
khoảng 80 năm, còn nớc bại chiến trong chiến tranh thế giới lần thứ II) bằng con
đờng công nghệ, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ mua theo cách
riêng của mình chỉ mất khoảng 60 năm. Các con Rồng Châu á nh Nam Triều
Tiên, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông,... học theo Nhật Bản, tận dụng thế
mạnh của các nớc công nghiệp hoá muộn, bằng con đờng nghiên cứu ứng dụng
phát triển công nghệ mua (nhng khác với Nhật Bản các nớc này tiến hành công
nghiệp hoá trong bối cảnh thuận lợi hơn, công nghệ đang trong cao trào phát
triển, thị trờng công nghệ là yêu cầu tất yếu, mang lại lợi nhuận cao cho cả đôi
bên), họ chỉ mất 20 năm! Còn chúng ta, có lẽ còn thuận lợi hơn nữa - xét về mặt
thời cơ - học tập kinh nghiệp của các nớc, trớc hết là các nớc trong khu vực, để
nhanh chóng công nghiệp hoá đất nớc.
Ngô Thị THanh
8
Đề án môn học Quản lý kinh tế 40A
3.2. Vấn đề đặt ra trong việc đổi mới công nghệ bằng cách chuyển giao
từ một nguồn nào đó của nớc ngoài:
Vấn đề đổi mới công nghệ phải mang tính mởi mẻ, sáng tạo và để thực
hiện đổi mới phải trả qua nhiều giai đoạn, chịu nhiều chi phí và rủi ro.
a- Khó khăn, thuận lợi của bên cung cấp công nghệ
* Về những rủi ro:
- Bất lợi thứ nhất là tạo thêm cạnh tranh. Khi chuyển giao công nghệ cho
các nớc đang phát triển ở Châu á, mỗi chủ công nghệ đều trù tính cẩn thận, rà
lại các chiến lợc kinh tiêu và thị trờng. Nếu cảm nhận có thể với tới thị trờng thế
giới thì họ làm ngay vì nh vậy lợi nhuận sẽ lớn hơn.
- Bất lợi thứ hai là cách ly với khách hàng. Nếu ngời cung cấp công nghệ

- Những ràng buộc có lợi. Cùng chuyển giao công nghệ đôi khi họ có thể
bán đợc vật liệu, thiết bị cho bên tiếp nhận công nghệ. Ngoài ra họ còn có thể
cung cấp các dịch vụ liên quan đến việc chuyển giao.
- Tạo uy tín với khách hàng qua việc bên nhận công nghệ bắt đầu sản xuất
và bán các sản phẩm của bên cung cấp công nghệ trong nớc và cả nớc láng
giềng với dang nghiệp "sản xuất theo lixăng của..." hoặc theo "nhãn hiện của...".
3.2. Khó khăn, thuận lợi của bên nhận công nghệ
* Những rủi do:
- Tiến bộ kỹ thuật đi đôi với sự lệ thuộc vào bên cung cấp cho tới giai
đoạn hoàn toàn làm chủ đợc công nghệ đó. Vì vậy, bên nhận công nghệ phải cố
gắng loại trừ mọi cản trở có thể xẩy ra trong thực tế hoặc do hợp đồng, nh không
chấp nhận bất cứ sự hạn chế nào đối với nghiên cứu và triển khai của bên nhận...
- Có thể rủi ro, thất bại về mặt kỹ thuật của việc chuyển giao, thậm chí có
thể dẫn tới chấm dứt quá trình chuyển giao nếu bên nhận công nghệ không đánh
giá đầy đủ năng lực và các điều kiện tiếp nhận của họ, cả việc tìm hiểu những u
nhợc điểm của bên cung cấp công nghệ. Không nắm đợc, không thích nghi đợc
công nghệ nhập, nhất là sau khi chuyên gia nớc ngoài rút đi thì tất yếu sẽ dẫn tới
thất bại.
Ngô Thị THanh
10
Đề án môn học Quản lý kinh tế 40A
- Những rủi ro xuất phát từ bản thân bên cung cấp công nghệ và kiến
thức, kinh nghiệm, kỹ năng của chính công nghệ chuyển giao.
- Do thiếu kinh nghiệm (và kiến thức), lại không sử dụng các cố vấn và
luật sự (sự tốn tiền) nên thờng chấp nhận đàm phán và hợp đồng với những điều
kiện bất lợi khi nhận công nghệ.
* Những thuận lợi.
- Khi nhận công nghệ, bên nhận thu đợc kiến thức kỹ thuật mà không
phải chi phí tốn kém và mất thời gian cho hoạt động nghiên cứu - triển khai
- Tạo ra sự tiến bộ đáng kể về thơng mại và kỹ thuật thông qua nhận công

ởng kinh tế với tốc độ cao.
- Khoảng cách về khoa học và công nghệ ngày càng lớn giữa các nớc phát
triển và các nớc đang phát triển. Trong khi đó nớc đang phát triển lại bị hạn chế
về nguồn lực (thiếu tiền, thiếu đội ngũ có kiến thức và kinh nghiệm, quản lý
kém...).
- Quản lý, trớc hết là quản lý vĩ mô, còn quá yếu và kém hiệu lực. Đối với
công nghệ phải gắn liền với hoàn thiện quản lý thì mới phát triển nhanh và vững
chắc.
- Do không có kinh nghiệm trong việc chuyển giao công nghệ, nên có thể
có nhiều trờng hợp không kiểm tra, đánh giá đợc đầy đủ mức độ phù hợp hay
không phù hợp với công nghệ nhập.
Mặt khác, do vị thế bất lợi khi nhận công nghệ nớc ngoài nên có thể kéo
theo những rủi ro, tác động xấu không chỉ đối với bản thân nhà kinh doanh mà
cả đối với lợi tích quốc gia (thể hiện trong các hợp đồng chuyển giao công nghệ
không có lợi cho bên nhận đối với cán cân thành toán, chỉ só nhập và xuất
khẩu...).
* Những thuận lợi của các n ớc đang phát triển:
- Không phải tự sáng tạo ra những gì cần thiết. bằng chuyển giao công
nghệ, các nớc đang phát triển có thể nhanh chóng nâng cao năng lực công nghệ
của mình trong nhiều ngành kinh tế mà không mất nhiều thời gian và ít gặp rủi
ro.
- Có thể chọn một số công nghệ mới đẩy mạnh phát triển, sớm khắc phục
sự lạc hậu về công nghệ.
Ngô Thị THanh
12
Đề án môn học Quản lý kinh tế 40A
- Có thể rút kinh nghiệm bài học thành công và thất bại của một số nớc đi
trớc.
- Trong việc chuyển giao công nghệ có thể tranh thủ đợc những thuận lợi
nh tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập ngoại tệ chủ động trong việc sử

Đề án môn học Quản lý kinh tế 40A
ơng ứng. Cùng với việc đào tạo một đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật và
chuyên gia tài giỏi, phải chú trọng đúng mức công tác giáo tiền dục và nâng cao
dân trí. Xu hớng phát triển công nghệ phải nhanh chóng tiến lên sử dụng công
nghệ cao.
2- Quản lý khoa học và công nghệ ở Hàn Quốc:
Nhận thức rõ vai trò của khoa học và công nghệ, Hàn Quốc rất quan tâm
đến chính sách và vai trò của khoa học và công nghệ. Nhà nớc coi khoa học và
công nghệ là công cụ quan trọng trong chính sách phát triển quốc gia từ đầu
thập kỷ 60. Chiến lợc khoa học và công nghệ để hỗ trợ công nghiệp hoá đợc
thực hiện trong ba giai đoạn:
- Giai đoạn đầu vào những năm 60, với mục tiêu phát triển và đặt nền cho
công nghiệp hoá đất nớc thông qua việc thất nghiệp lập các ngành công nghiệp
thay thế nhập khẩu, chiến lợc khoa học và công nghệ là đẩy mạnh giáo dục khoa
học và kỹ thuật , xây dựng kết cấu hạ tầng công nghiệp và tăng cờng nhập khẩu
công nghệ nớc ngoài. Trong giai đoạn này, các cơ quan quản lý và đào tạo khoa
học công nghệ quan trong đợc thành lập. Bộ khoa học và Công nghệ (MOST),
Viện khoa học và công nghệ (KIST).
- Giai đoạn thứ hai vào thập kỷ 70, khoa học và công nghệ tập trung vào
việc đáp ứng nhu cầu nghiên cứu phục vụ phát triển ngành công nghiệp nặng và
công nghiệp hoá. Nhà nớc ban hàng Luật hỗ trợ các dịch vụ kỹ thuật.
- Giai đoạn thứ ba vào những năm 80, khoa học và công nghệ nhằm vào
việc chuyển hớng cơ cấu công nghiệp sang công nghiệp công nghệ cao, phát
triển đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ trình độ cao bằng cách đào tạo
trong và ngoài nớc, khuyến khích hồi hờng các nhà khoa học hàng đầu, khuyến
khích hợp tác các cơ quan R & D, trờng đại học và các ngành công nghiệp thông
qua dự án quốc gia tiến bộ cao.
3- Kinh nghiệm của Nhật Bản:
Nhật Bản là một nớc nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhng với bí quyết của
một chiến lợc có hiệu quả là nhập và đồng hoá công nghệ nớc ngoài (trớc khi

5- Trong công tác quản lý và kế hoạch hoá khoa học và công nghệ cần kết
hợp giữa Trung ơng với địa phơng. Trung ơng chỉ đạo thống nhất cả nớc về ch-
ơng trình, mục tiêu nghiên cứu, khoa học và công nghệ. Nhng địa phơng phải
vận dụng sáng tạo để phù hợp với điều kiện cụ thể về thiên nhiên, dân c và lao
Ngô Thị THanh
15
Đề án môn học Quản lý kinh tế 40A
động, truyền thống,... và đặc biệt là phù hợp với điều kiện cân đối ngân sách địa
phơng.
Ngô Thị THanh
16

Trích đoạn Về phía các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc. Về phí các cơ quan Nhà nớc cấp trên.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status