Hoá liệu pháp ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_________ VŨ VĂN VŨ HÓA LIỆU PHÁP
UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ
GIAI ĐOẠN TIẾN XA Chuyên ngành: PHẪU THUẬT ĐẠI CƯƠNG
Mã số: 3 01 21

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

TP. Hồ Chí Minh _ Năm 2006


1 Vũ Văn Vũ, Đặng Thanh Hồng và cộng sự (2003), Ung thư
phổi không phải tế bào nhỏ có tràn dòch màng phổi – xử
trívà tiên lượng. Y học Thành phố Hồ Chí Minh – Số đặc
biệt chuyên đề Ung bướu học. Trường ĐHYD TPHCM.
Phụ bản số 4, tập 7, 2003: trang 239 -249.
2. Vũ Văn Vũ, Đặng Thanh Hồng và cộng sự (2004), Hóa
liệu pháp ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa
tại Bệnh viện Ung Bướu TPHCM 2001 – 2002. Y học
Thành phố Hồ Chí Minh – Số đặc biệt chuyên đề Ung
bướu học. Trường ĐHYD TPHCM. Phụ bản số 2, tập 8,
2004: trang 154 –169.

1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Đặt vấn đề
Ung thư phổi nguyên phát (UTPNP) là một trong
những ung thư hàng đầu về xuất độ và tử suất trên phạm vi

giá hiệu quả lâm sàng của hóa liệu pháp trên UTPKTBN
giai đoạn tiến xa sẽ mở ra hướng áp dụng kỹ thuật điều trò
này một cách có ích lợi nhất cho việc điều trò và chăm sóc
bệnh nhân.
3. Những đóng góp mới của luận án
Nghiên cứu áp dụng một phương pháp điều trò còn mới
cho UTPKTBN giai đoạn tiến xa là một bệnh cảnh lâm sàng
nan giải thường gặp ở nước ta.
Xác lập các yếu tố có liên quan đến kết quả điều trò
của hóa liệu pháp nhằm đề xuất được cách sử dụng hóa liệu
pháp có hiệu quả nhất
4. Bố cục của luận án: luận án gồm 110 trang. Ngoài phần
mở đầu và kết luận còn có bốn chương, bao gồm: tổng quan
36 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 9 trang, kết
quả 27 trang, bàn luận 33 trang. Có 24 bảng, 14 biểu đồ, 7
hình, 132 tài liệu tham khảo (tiếng Việt 9, tiếng Anh 123).
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Vai trò của hóa liệu pháp trong điều trò UTPKTBN
giai đoạn tiến xa vẫn còn nhiều điều gây tranh cãi. Có nhiều
vấn đề liên quan đến hóa liệu pháp UTPKTBN đã và đang

3
được giải quyết từng phần qua các công trình nghiên cứu
suốt ba thập niên qua.
1. 1. Hiệu quả của hóa liệu pháp trên thời gian sống còn so
với điều trò nội khoa đơn thuần.
Độ đáp ứng với hóa liệu pháp thường kèm theo gia tăng thời
gian sống còn nhưng trong UTPKTBN giai đoạn tiến xa, tác
động của hóa liệu pháp trên thời gian sống còn còn rất
khiêm tốn. Một số công trình tiền cứu, so sánh ngẫu nhiên

17 – 36%, trung vò thời gian sống còn từ 6,9 – 10,9 tháng, tỉ
lệ bệnh nhân sống qua một năm từ 27 – 46% và không ghi
nhận sự khác biệt có ý nghóa thống kê nào của các thông số
này trong từng nghiên cứu.
1. 4. Lựa chọn phối hợp thuốc hóa liệu pháp UTPKTBN giai
đoạn tiến xa
Các thuốc mới dùng đơn chất hoặc phối hợp đem lại
sự cải tiến bộ mặt hóa liệu pháp UTPKTBN giai đoạn tiến
xa với hiệu quả tăng tỉ lệ đáp ứng, kéo dài thời gian sống
còn, tăng tỉ lệ sống trên một năm, cải thiện triệu chứng và
tăng chất lượng sống của bệnh nhân do ít tác dụng phụ.
Tuy vậy câu trả lời cho vấn đề phối hợp thuốc nào là phối
hợp có hiệu quả nhất không phải dễ dàng được xác lập dù đã
có nhiều công trình thiết kế nhằm so sánh trực tiếp các phối
hợp thuốc mới này

5
1. 5. Hiện trạng hóa liệu pháp UTPKTBN giai đoạn tiến xa
– tóm tắt:
Vào thời điểm hiện nay, hóa liệu pháp là một
phương pháp điều trò có hiệu lực cho những bệnh nhân muốn
được điều trò và hiểu được giới hạn của hóa liệu pháp. Chỉ
đònh và phương cách điều trò phải cụ thể hóa theo từng
trường hợp bệnh nhân và nên dành cho những bệnh nhân có
thông số hoạt động cơ thể tốt. Nhóm bệnh nhân được chọn
lọc này sẽ có nhiều cơ hội để đạt được lợi ích của hóa liệu
pháp cũng như tránh được các độc tính của thuốc. Các phối
hợp thuốc mơí cho kết quả khá hơn các phối hợp chuẩn còn
sử dụng cho đến tận những năm đầu thập niên 1990. Tuy
vậy, bên cạnh sự nâng cao về tỉ lệ đáp ứng vẫn chưa có sự

Từ các nhận đònh trên, việc điều trò UTPKTBN giai
đoạn tiến xa rất cần thiết phải có các hướng mới trong
nghiên cứu và áp dụng lâm sàng để nâng cao hơn nữa hiệu
quả điều trò và chăm sóc bệnh nhân.

Chương 2
: ĐỐI TƯNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
: Các trường hợp bệnh nhân được
chẩn đoán UTPKTBN giai đoạn tiến xa điều trò tại Khoa
Nội I Bệnh viện Ung Bướu TPHCM từ 30/6/2001 đến
30/6/2002.
Tiêu chuẩn chọn bệnh:

7
- có xác đònh giải phẫu bệnh lý hoặc tế bào học
- tuổi: mọi tuổi, cả hai giới
- không có những rối loạn chức năng nặng kèm theo
- có chỉ số hoạt động cơ thể theo Karnofski từ 60 trở lên
- có tổn thương đo được (tối thiểu theo hai chiều không
gian)
- có điều kiện theo dõi được tình trạng bệnh và sống còn
cho đến ngày kết thúc ghi nhận (30/7/2003).
- bệnh nhân chưa từng được điều trò đặc hiệu bằng các
phương pháp tại chỗ như phẫu thuật hoặc xạ trò trước đó
ngoại trừ phẫu thuật mổ đặt ống dẫn lưu màng phổi
- bệnh nhân được điều trò bằng hóa liệu pháp hoặc chăm
sóc điều trò nội khoa triệu chứng theo chỉ đònh lâm sàng
2.2. Phương pháp nghiên cứu
:

Chúng tôi ghi nhận các dữ kiện của cả hai nhóm
bệnh nhân được và không được điều trò bằng hóa liệu pháp.
Việc đánh giá đáp ứng và độc tính của hóa liệu pháp được
tiến hành theo các tiêu chuẩn của Tổ chức Sức khỏe Thế
giới WHO. Thời gian sống còn được tính toán theo Kaplan
Meier, các yếu tố tương quan được xác đònh bằng các
phương pháp kiểm đònh thống kê.
2.2.2. Phương pháp đánh giá hoạt động cơ thể sử dụng cách
đánh giá theo chỉ số Karnofsky (KPS) từ 100 xuống
đến 0

9
2.2.3. Phương pháp đánh giá đáp ứng hóa liệu pháp: chúng
tôi áp dụng cách đánh giá đáp ứng khách quan với
hoá trò liệu của WHO gồm 4 mức độ đáp ứng: hoàn
toàn, một phần, không thay đổi (bệnh ổn đònh) và
bệnh tiến triển (bảng 2.11). Đáp ứng chủ quan được
xem như có khi thuyên giảm triệu chứng liên quan
bướu trong thời gian ít nhất 4 tuần.
2.2.4. Phương pháp đánh giá độc tính: theo tiêu chuẩn đánh
giá độc tính của WHO gồm 5 mức độ (grad) từ 0
(không độc tính) cho đến 5 (độc tính nặng nhất)
(Bảng 2.12)

Chương 3
: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chúng tôi thu thập được tổng cộng 257 trường hợp
UTPKTBN giai đoạn tiến xa được điều trò và theo dõi tại
Khoa Nội 1 Bệnh viện Ung Bướu TPHCM từ 30/6/2001 đến
30/6/2002.

không đáp ứng, do bệnh tiếp tục tiến triển hoặc do độc
tính của thuốc. Tương tự, tỉ lệ bệnh nhân chuyển sang
hóa liệu pháp liệu bước ba và bốn là 7,2% và 1,6%
(Bảng 3.15)
Tổng số chu kỳ hóa liệu pháp cũng thay đổi trong
khoảng từ 3 đến 14 với số chu kỳ trung bình là 6,1. Phần
nhiều (45,2%) bệnh nhân được điều trò từ 4 – 6 chu kỳ.
Có 36,3% bệnh nhân được điều trò hơn 6 chu kỳ và
13,7% hơn 8 chu kỳ.

11
Đại đa số (96,3%) bệnh nhân được dùng hóa liệu pháp
phối hợp trong lần đầu tiên (bước một) và chỉ có 3,7%
bệnh nhân được dùng hóa liệu pháp đơn chất. Tuy nhiên
tỉ lệ bệnh nhân được dùng hóa liệu pháp đơn chất có
khuynh hướng tăng dần trong các bước hóa liệu pháp
liệu tiếp theo (13,3% ở bước ba và 28,6% ở bước bốn)
(Bảng 3.16)
Về các phối hợp thuốc sử dụng, phối hợp cisplatin (hoặc
carboplatin) và etoposide được dùng nhiều nhất như là
phối hợp đầu tay (bước một) với tỉ lệ 67,7%. Có 26,6%
bệnh nhân được sử dụng các phối hợp “thuốc mới”
(paclitaxel hoặc gemcitabine) trong hóa liệu pháp bước
một. Các phối hợp khác như CAP (Cyclophosphamide,
Adriamycine, Cisplatin), MIC (Mitomycin C,
Ifosfamide, Cisplatin) hay các phối hợp khác có
Ifosfamide thường được dùng bước hai sau phối hợp
platin/etoposide ở bước một (Bảng 3.17).

3.3. Độc tính của thuốc dùng trong hóa liệu pháp

nhân)
2,4 (/124 bệnh
nhân)

3.4. Kết quả hóa liệu pháp
:
3.4.1. Các tỉ lệ đáp ứng
: (Bảng 3.20)
Bảng 3.20. Các tỉ lệ đáp ứng
Loại đáp ứng Số ca Tỉ lệ %
Đáp ứng chủ quan
Đáp ứng khách quan
 đáp ứng hoàn toàn
 đáp ứng một phần
 không thay đổi
 bệnh tiến triển
Thời gian đáp ứng (tháng)
 trung bình
 lệch chuẩn
92

2
38
69
15

5,1
2,9
74,2


2 – 24
10

25
3,65
1 – 17
4

4,5
Thời gian tới khi bệnh tiến triển (time to progression –
TTP) ghi nhận: trung bình 6,4 tháng (lệch chuẩn 3,21)
(Biểu đồ 3.2)

302724211815129630
1.0
.8
.6
.4
.2
0.0
tháng
Biểu đồ 3.1. Thời gian sống còn toàn bộ của hai nhóm bệnh
nhân có và không hóa liện pháp

3.5. Ảnh hưởng của một số yếu tố tiên lượng
:
Khảo sát một số yếu tố tiên lượng ảnh hưởng đến thời
gian sống còn của nhóm bệnh nhân hóa liệu pháp ghi
nhận:
Có hóa liệu pháp

Số bước hóa liệu pháp 0,072 (Pearson) Không tương quan
Số chu kỳ điều trò 0,622 (Pearson) Tương quan mức 0,01

Chương 4: BÀN LUẬN
4.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
:
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp quan sát mở
tiền cứu. Chỉ đònh điều trò không theo phân bố ngẫu
nhiên của từng cặp bệnh nhân mà căn cứ vào tất cả các
yếu tố lâm sàng, bệnh lý, hoàn cảnh kinh tế xã hội của
từng bệnh nhân cụ thể. Tuy không là nghiên cứu ngẫu

15
nhiên nhưng có sự phân bố khá đồng đều về số lượng và
những đặc điểm về dân số học, lâm sàng, bệnh học của
hai nhóm nên chúng tôi cho rằng việc nhận đònh và phân
tích, so sánh kết quả cũng có thể mang lại những kết
luận hữu ích.
4.2. Kỹ thuật hóa liệu pháp
:
4.2.1. Chỉ đònh
:
Dựa và những nhận đònh và khuyến cáo rút ra từ các
nghiên cứu đã công bố, đăng tải trên y văn, bệnh nhân
thường được giải thích và dùng hóa liệu pháp khi có
những điều kiện thuận lợi như: tổng trạng tốt, chỉ số hoạt
động cơ thể tốt, không có những rối loạn chức năng cơ
quan nghiêm trọng, điều kiện chăm sóc tốt, có khả năng
kinh tế
4.2.2. Chọn lựa thuốc

cũng như sự tốn kém trong chi phí điều trò và chăm sóc,
việc chuyển sang các bước sau hơn chỉ có thể thực hiện
được ở một tỉ lệ nhỏ bệnh nhân (53,2% sang bước hai,
7,2% sang bước ba và 1,6% sang bước bốn)
4.2.4. Các biện pháp điều trò chăm sóc nâng đỡ
:
Hóa liệu pháp thường được tiến hành trong một thời gian
dài đòi hỏi nhiều biện pháp chăm sóc điều trò nâng đỡ
thích đáng đi kèm.
17
4.3. Độc tính của thuốc dùng trong hóa liệu pháp:
Tỉ lệ giảm bạch cầu hạt grad 3 hoặc 4 được ghi nhận
trong y văn thay đổi trong khoảng rất rộng từ 10 đến
60% số chu kỳ hoá liệu pháp UTPKTBN giai đoạn tiến
xa. Tỉ lệ giảm bạch cầu hạt grad 3 hoặc 4 ghi nhận được
trong loạt khảo sát của chúng tôi ở mức độ thấp (4,6% số
chu kỳ) do dùng liều thấp. Tuy nhiên đây lại là nguyên
nhân chính dẫn đến tử vong liên quan đến điều trò. (5/6
bệnh nhân tử vong liên quan điều trò).
Độc tính trên tiểu cầu và hồng cầu ít gặp và không là
vấn đề nghiêm trọng trong hóa liệu pháp UTPKTBN
giai đoạn tiến xa. Nhiều yếu tố khác như tình trạng chán
ăn, nôn ói, đau nhức, tâm lý lo lắng của bệnh nhân
cũng có thể ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng và góp
phần gây thiếu máu.
Độc tính ngoài hệ tạo huyết gặp chủ yếu là tình trạng
nôn ói nặng xảy ra trong khoảng 8% số chu kỳ hóa liệu

hóa liệu pháp bước một với các phối hợp “thuốc cũ” và
“mới”, chúng tôi ghi nhận không có sự khác biệt mang ý
nghóa thống kê (30,7% cho nhóm thuốc cũ so với 36,3% của
nhóm thuốc mới, p > 0,05). Điều này có thể giải thích do số
lượng bệnh nhân được sử dụng nhóm thuốc mới không nhiều
và liều lượng thuốc sử dụng thường ở mức thấp, không cao.
Đáp ứng chủ quan được ghi nhận trong 74,2% bệnh nhân.
Đây cũng là điều liên quan trực tiếp đến khái niệm “ích lợi
lâm sàng” của hóa liệu pháp mà các tác giả hay đề cập đến.

19
Tuy tỉ lệ đáp ứng khách quan không cao (20 – 40%) nhưng
một tỉ lệ quan trọng bệnh nhân (60 – 80%) được giảm nhẹ
các triệu chứng như khó thở, đau ngực, khó chòu trong một
thời gian nhờ hóa liệu pháp. Sự giảm nhẹ các triệu chứng
này do hóa liệu pháp đem lại có tính lâu bền hơn so với
hiệu quả của các biện pháp điều trò chăm sóc nâng đỡ và
làm tăng thêm chất lượng sống của bệnh nhân một cách rõ
rệt.
4.4.2. Thời gian sống còn
:
Nhóm bệnh nhân được điều trò hóa liệu pháp có trung vò thời
gian sống còn toàn bộ dài hơn nhóm không can thiệp một
cách có ý nghóa thống kê (9,87 tháng so với 4,71 tháng,
p<0,05). Tỉ lệ bệnh nhân sống qua một năm của nhóm hóa
liệu pháp là 25% so với 4,5% của nhóm không can thiệp.
Kết quả ghi nhận này cũng phù hợp với nhiều công trình so
sánh ngẫu nhiên giữa hóa liệu pháp và điều trò nội khoa
nâng đỡ.
Kết quả trung vò thời gian sống còn của chúng tôi là 9,8

 có hóa liệu pháp (mức tương quan 0,01)
 đáp ứng với hóa liệu pháp bước một tốt (mức tương
quan 0,01)
 có số chu kỳ điều trò nhiều, phù hợp (mức tương
quan 0,01)
 chỉ số hoạt động cơ thể tốt (mức tương quan 0,05)

21
 không có CEA/máu cao (mức tương quan 0,05)
 không ở hai “đầu mút” của nhóm tuổi (mức tương
quan 0,05)
Nhiều tác giả cho rằng giới là một yếu tố tiên lượng quan
trọng trong UTPKTBN giai đoạn tiến xa, theo đó nữ giới có
thời gian sống còn tốt hơn. Tuy vậy có tác giả cho rằng bản
thân giới tính chỉ là yếu tố tiên lượng phụ bên cạnh tình
trạng sụt cân và giảm chỉ số hoạt động cơ thể. Bệnh nhân
nam thường bò sụt cân nhanh và nhiều hơn nữ, và có lẽ chính
tình trạng sụt cân này mới là yếu tố tiên lượng chính.
Theo nhận đònh của nhiều tác giả thì tuổi tác không phải là
yếu tố tiên lượng quan trọng trong UTPKTBN qua các phân
tích đa biến (Soquet (1993), Non Small Cell Lung Cancer
Cooperative Group (1995), Thomas (1998), …). Chỉ số hoạt
động cơ thể và giai đoạn lâm sàng mới là các yếu tố quan
trọng nhất. Bên cạnh thể hiện đặc tính sinh học ít ác tính của
bướu, chỉ số hoạt động cơ thể tốt chứng tỏ tình trạng không
có xáo trộn chức năng và điều này thuận lợi cho hóa liệu
pháp sử dụng các phối hợp thuốc với mức liều đủ và số chu
kỳ nhiều hơn.
Đa số các tác giả đều cho rằng giai đoạn lâm sàng là yếu tố
tiên lượng rất quan trọng trong UTPKTBN giai đoạn tiến xa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status