Một cách nhìn về sự phát triển của hành chính và cải cách hành chính - Pdf 13

MỘT CÁCH NHÌN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HÀNH CHÍNH
VÀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

Th.s. Nguyễn Khắc Hùng
Th.s. Phạm Đức Toàn
Khái lược:
Đã có nhiều tác giả trong nước và trên thế giới viết về sự tiến hoá của hành chính với tư
cách là một ngành khoa học, một nghệ thuật và một nghề. Có nhiều cách lập luận khác nhau
và, do vậy, dẫn tới những quan điểm rất khác nhau về vấn đề này. Tuy vậy, lịch sử phát
triển của loài người cho thấy có những quy luật nhất định tác động tới mọi phương diện đời
sống chính trị, kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia. Hành chính cũng không nằm ngoài quy
luật tiến hoá đó. Loạt bài viết này mong muốn đóng góp thêm một cách nhìn mới vào sự vận
động này. Tác giả sẽ bắt đầu từ hành chính với tư cách làm một lĩnh vực chung, tới sự vận
động của hành chính gắn với các yêu cầu biến đổi hành chính làm cho nó phù hợp hơn với
quá trình phát triển. Qua việc đánh giá các mối quan hệ biện chứng giữa các vấn đề lý luận
và khái niệm, kết hợp với các kinh nghiệm cải cách hành chính ở Phương Tây, tại các nước
đang phát triển và các nước đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt ở Trung
Quốc và Việt Nam, có thể rút ra một con đường nhất định. Chắc chắn sẽ còn nhiều điểm còn
gây nên tranh luận trong loạt bài này, song tác giả sẽ đi từ những lập luận của mình để dẫn
tới một số kết luận liên quan tới việc đổi mới nền hành chính nhà nước và công cuộc cải
cách hành chính nhà nước ta hiện nay.
Sự vận động của hành chính
Theo nhiều học giả (ví dụ: Lynn, 1996; Vũ Huy Từ và Nguyễn Khắc Hùng, 1998), khái
niệm “hành chính” xuất hiện từ lâu đời, cùng với sự hình thành nhà nước. Có thể lấy Ai Cập
cổ đại làm một minh chứng, khi quốc gia này sử dụng bộ máy hành chính của mình để điều
tiết thuỷ lợi từ dòng chảy của sông Nin, tới việc xây dựng nên các kim tự tháp nổi tiếng.
Triều đại nhà Hán ở Trung Quốc (từ năm 206 trước Công nguyên tới năm 220 sau Công
nguyên) đã vận dụng Khổng giáo vào việc tuyển lựa quan lại, theo đó chính quyền phải do
những người được chọn ra bằng phẩm chất và năng lực chứ không phải do thiên bẩm. Ở
Châu Âu các quốc gia La Mã, Hy Lạp và Tây Ban Nha cổ đại cũng được xem là các vương
triều hành chính, được trung ương điều hành bằng các quy định và luật lệ. Tại Pháp vào thế

Tryvelyan nổi tiếng (Wheaton, 1968). Bản báo cáo này được viết ra năm 1854 và khuyến
nghị rằng “cần lưạ chọn kỹ lưỡng những người trẻ tuổi vào các ngạch bậc thấp để thực thi
công vụ” thông qua “việc lập nên một hệ thống thi tuyển thoả đáng trước khi bổ nhiệm”.
Đây chính là khuyến nghị đầu tiên nhằm bãi bỏ chế độ bảo trợ và thay vào đó là việc tổ chức
các cuộc thi tuyển cạnh tranh công khai với sự giám sát của một hội đồng tuyển dụng ở
trung ương; tổ chức lại các cơ quan ở ttrung ương để thực hiện công tác trí tuệ và công tác
cơ học riêng rẽ nhau; và sử dụng khái niệm “công tích” cho các chức danh cao cấp thuộc bộ
máy thư lại.
Ngay như ở nước ta, các ý tưởng về đổi mới một số phương diện hoạt động của bộ máy
quan lại cũng đã có từ lâu. Ngay từ thời nhà Đinh lập nên một quốc gia Việt Nam độc lập, tự
chủ, tới các triều đại nhà Lê, Trần, cho tới triều nhà Nguyễn sau này, đã tiến hành nhiều kỳ
thi tuyển các quan lại làm việc cho bộ máy do nhà Vua đứng đầu. Việc thi tuyển hoàn toàn
căn cứ vào tài năng và sự học hành của các sĩ tử, một người nghèo khó, không có vai vế và
địa vị gì trong xã hội, nếu qua kỳ thi tuyển này, lập tức được bổ nhiệm làm quan. Các triều
đại còn có các qui định cụ thể và chặt chẽ về các hành vi và những việc các quan không
được làm như người làm quan tại vùng nào thì không được mua điền trạch tại đó, hoặc
không được đưa vợ con vào làm trong công sở của mình v.v.
Có ấn tượng sâu sắc vì cải cách diễn ra tại Anh, Luật công vụ Mỹ (Luật Pendeleton) đã được
ban hành năm 1883 và thành lập ra hội đồng công vụ thuộc cả hai đảng. Luật này qui định
bốn điều chủ yếu: (i) tổ chức thi tuyển cạnh tranh cho tất cả những người nào đăng ký vào
nền công vụ được phân loại; (ii) bổ nhiệm những người nào đạt điểm cao nhất qua kỳ thi
tuyển này vào công vụ; (iii) qui định thời hạn tập sự trước khi người đó được chính thức bổ
nhiệm; và (iv) bổ nhiệm tính theo tỷ lệ dân cư tại địa bàn của bang hay các vùng chủ yếu của
các bang (Gladden, 1972, do Hughes trích dẫn, 1998). Sau này, Tổng thống đời thứ 28 của
Mỹ là Woodrow Wilson vào đầu thế kỷ 20, do không ủng hộ chế độ thải loại
1
nên đã đưa ra
nhiều biện pháp cải cách hành chính như bãi bỏ chế độ này và tạo dựng nên chế độ công tích
(Muhataba, 1989).
Việc cải cách tại Anh và Mỹ, kết hợp với mô hình bộ máy thư lại toàn diện hơn tại châu lục

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, việc hàng loạt các nước thuộc thế giới thứ ba dành được
độc lập vào cuối thập kỷ 1940, 1950 đã tạo nên một trào lưu mới cho cải cách hành chính.
Trên thực tế, vào thời điểm đó thì các nước mới dành được độc lập là“những nước cần cải
cách hành chính nhất thì lại ít được chuẩn bị nhất”, do họ “không thể dựa vào các nhà hành
chính nước ngoài và các phương pháp hành chính do họ áp đặt nữa mà phải xây dựng nên
nền hành chính của riêng mình, vừa vay mượn từ phía các nhà cai trị mới rút đi, vừa phải tự
mình ứng biến với tình thế” (Caiden, 1991). Chính phủ các nước này, cùng với các quốc gia
lâu đời và các tổ chức quốc tế, bắt đầu dành thời gian để tìm ra phương cách để làm cho các
hệ thống hành chính của mình có thể ứng phó tốt hơn với hoàn cảnh. Kết quả là từ các nỗ
lực của họ đã phát sinh ra một phong trào mới là “hành chính phát triển”, một phân nhánh
của ngành học hành chính rộng hơn (Hammergren, 1983; Bhambhri, 1985; Caiden, 1991).
Trong khi khái quát các tác phẩm về sự phát triển và cải cách hành chính trong giai đoạn sau
chiến tranh thế giới lần thứ hai, Hammergren (1983, tr. 5-15) đã chia thành hai giai đoạn.
Ông lập luận rằng vào thời kỳ đầu (khoảng từ 1950-1970) cải cách là thay đổi chính sách và
đó cũng là chủ đề chính. Phần lớn các tác phẩm đều mang tính kê đơn bốc thuốc và chú
trọng vào việc tìm ra các vấn đề chung và các giải pháp để xử lý các vấn đề chung đó. Cụ
thể hơn, (i) có hàng loạt các bài nghiên cứu về chính trị của việc tổ chức lại hành chính và
các chiến lược khác nhằm hợp lý hoá các bố máy thư lại; (ii) các nghiên cứu mang tính lịch
sử về các trào lưu cải cách cụ thể tập trung vào các lực lượng chính trị tạo ra chúng; và (iii)
thử đánh giá các chương trình cải cách tại một số nước đang phát triển nhằm đưa ra các
khuyến nghị cải tiến. Đến thập kỷ 1960 thì có một bước chuyển thay đổi tình hình. Sau vài
năm, các tác giả bắt đầu phê phán và chú trọng tới việc đưa ra các giải pháp cải cách và đưa
ra các phương thức tiếp cận nhằm cải tiến việc thực thi hành chính. Các xu hưóng mới xây
dựng trên cơ sở các phê phán trước đó, cố giải quyết yêu cầu xây dựng nên các hệ thống và
tổ chức hành chính thích họp với các xã hội và nền văn hoá cụ thể. Các nỗ lực khi đó là
nhằm thông qua thay đổi chung về cấu trúc và thể thức hành chính để cải tiến việc thực hiện.
3
Như vậy, sự chú trọng của “hành chính phát triển” là về bối cảnh cải cách, các quá trình và ý
nghĩa của cải cách hành chính, cũng như nhiều bài nghiên cứu tình huống về các cuộc cải
cách tại các nước đang phát triển. Các ý tưởng về phong trào này được tuyền bá thông qua

Cải cách hành chính tại các quốc gia lâu đời ở châu Âu và Mỹ - nơi được coi là động lực cho
trào lưu cải cách (theo Chapman (1989) và Caiden (1969, 1984, 1991), có thể chia làm hai
giai đoạn lớn. Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ đầu thứ kỷ mười tám trong bối cảnh chuyển
dịch từ xã hội truyền thống sang cách mạng công nghiệp, chuyển đổi các công cụ đơn giản
và không phân biệt của nhà nước thành bộ máy nhà nước công nghiệp phức tạp. Trong giai
đoạn này, nhà nước chỉ tham gia tối thiểu vào việc điều chỉnh các hoạt động của công dân và
chưa xuất hiện nhu cầu cần một nhà nước lớn. Do vậy, các chính phủ có thể hoạt động với
bộ máy hành chính nhỏ và tương đối đơn giản. Trong giai đoạn hai bắt đầu từ đầu thế kỷ hai
mươi, việc đảm bảo cho bộ máy nhà nước hoạt động một cách hiệu lực và hiệu quả được
quan tâm và nhà nước hành chính được mở rộng nhanh chóng, thông qua các cuộc chiến
tranh và phúc lợi.
4
Khi đề cập đến các phương pháp cải cách hiệu quả được các quốc gia lâu đời áp dụng,
Mutahaba cho rằng cần chia ra ba loại nhóm nước (1989, tr: 28). Nhóm thứ nhất bao gồm
các nước như Pháp và Nga sử dụng chủ yếu các phương pháp cách mạng (Cách mạng Pháp
và các cuộc chiến của Na-pô-lê-ông tại Pháp và năm 1905; Cách mạng 1917 tại Nga) trong
thực hiện các cuộc cải cách: cải cách hành chính được coi là bộ phận cơ bản của các cuộc cải
cách tổng thể trong chính thể. Nhóm nước thứ hai bao gồm Liên hiệp vương quốc Anh và
Bắc Ailen, và Phổ tiến hành cải cách hệ thống hành chính theo cách thức phát triển tuần tự.
Ví dụ, Anh mất một thế hệ để chấp nhận các đề xuất Northcote-Trevelyan. Hầu hết các cuộc
cải cách của họ mang tính chất nhân nhượng để chế độ còn tồn tại được trong chiến tranh và
cách mạng. Các cuộc cải cách của họ mang tính thực dụng và theo lối kinh nghiệm, thiếu
động cơ hệ tư tưởng. Nhóm nước thứ ba có thể lấy Mỹ làm đại diện bắt đầu với một nhà
nước mới, có cơ hội xây dựng tổ chức mới, áp dụng các phương pháp mới nhất và chú trọng
đến các tiêu chuẩn hoạt động cao nhất
1
.
Các nhà nước lâu đời cũng trải qua một kiểu cải cách hành chính khác hẳn với cuộc cải cách
trong giai đoạn trước. Kiểu cải cách hành chính mới này phần lớn bắt nguồn từ trào lưu quản
lý khoa học do các kỹ sư cuối thế kỷ mười chín xây dựng. Trào lưu này đã đưa ra nhiều gợi

1
Quan điểm này cũng được Caiden khởi xướng và ủng hộ (1969, 1984).
5
xảy ra trong các cuộc cải cách trước đó. Các nghiên cứu về những nỗ lực cải cách hành
chính gần đây tại các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) như Hood,
1995; Lane, 1996; Kickert, 1997 cho thấy mức độ thành công của các cuộc cải cách này là
không cao. Anh và Niu Di-lân là một trong những trường hợp này.
2.4 Những cuộc cải cách hiện nay:
2.4.1 Các nhà phê bình mô hình hành chính công truyền thống và sự ra đời của thuyết quản
lý nhà nước mới:
Có thể khẳng định rằng mô hình hành chính công truyền thống đề cập phần trên là một bước
tiến lớn so với các mô hình trước đó. Tuy vậy, những nhược điểm của loại hình quản lý nhà
nước này hiện đang xuất hiện. Cùng với ý tưởng về các cấu trúc thứ bậc của mình, học
thuyết hành chính cổ điển của Max Weber hiện nay dường như không còn cần thiết cho các
tổ chức hiệu quả nhất, đặc biệt về mặt đối chiếu giữa đầu ra và đầu vào. Nhiều học giả
(Kickert, 1997; Minogue et. al., 1998) tranh luận rằng bộ máy hành chính có thể là đủ đối
với việc kiểm soát nhưng không cần thiết cho việc quản lý. Bộ máy hành chính bao hàm sự
chắc chắn nhưng thường xuyên cứng nhắc và chậm phát triển. Công việc có thể được chuẩn
hoá, nhưng tính linh hoạt, chủ động và sáng tạo lại bị mất đi. Hơn nữa, thuyết tách biệt tuyệt
đối giữa chính trị và hành chính của Wilson trong thập kỷ 1880 "không hề thực tế và, ngay
trong quê hương của mình, cũng không thực sự được thực hiện" (Hughes, 1998, tr: 39). Mô
hình kiểm soát chính trị thường gặp vướng mắc trong việc đảm bảo tính trách nhiệm đích
thực bởi vì nguyên tắc trung lập chính trị hay dẫn đến ý tưởng đặt "sự phục vụ cho quốc gia"
lên trên những tư vấn và việc thực hiện các mong muốn của cấp lãnh đạo do dân cử. Điều
này dẫn đến một thực tế là các công chức không do dân cử có thể thực hiện những việc họ
muốn thay cho những nhiệm vụ mà các nhà chính trị muốn họ thực thi.
Tiếp đó, các nhà phê bình mô hình hành chính công truyền thống đưa ra một thuyết mới có
tên gọi "sự lựa chọn của công chúng" do các nhà kinh tế thị trường bảo thủ giới thiệu
(Friedman and Friedman, 1980; Dunleavy, 1986). Hai yêu sách của các học giả này dẫn đến
nhu cầu giảm kích cỡ và phạm vi hoạt động của chính phủ. Lý lẽ thứ nhất là bộ máy hành

diện này chú trọng đến: (i) bối cảnh chính trị của hệ thống hành chính; (ii) các mối liên hệ
mang tính tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc việc xây dựng và triển khai các chính
sách; (iii) Sự thành công, thất bại và giải pháp mong muốn của các chính sách thực tế, và từ
đó gắn các cơ chế thực hiện với các kết quả; và (iv) khái niệm trung ương của "nhà nước" -
điều thiết yếu cho việc hiểu mối quan hệ giữa hệ thống chính trị và hệ thống hành chính, và
giữa chính trị, kinh tế và xã hội. Phương diện thứ hai, quản lý công, bám chắc vào các
nguyên tắc kinh tế tân cổ điển, xem xét kích cỡ, các vai trò và các cơ cấu của các khu vực
công ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Khu vực công bị cho là không có khả năng
làm động lực cho sự phát triển quốc gia ở nhiều nước, và thậm chí là sự cản trở chính cho
sự phát triển ở một số nước. Theo phương diện này, các nhà hành chính công không đủ năng
lực trong việc quản lý một cách hiệu quả và cung cấp các dịch vụ công một cách hiệu suất;
nền công vụ quá cứng nhắc để thích ứng với thay đổi. Khu vực tư ngày càng "được nhìn
nhận là có năng lực quản lý, sự linh hoạt và khả năng cạnh tranh - đủ các điều kiện thiết yếu
cho việc thực hiện hiệu quả và hiệu suất nhiều hoạt động trước đây được coi là lĩnh vực của
khu vực công" (Đã dẫn. tr: 3). Bảng dưới đây tóm lược nội dung cốt lõi các mô hình này.
Hành chính công Quản lý công Chính sách công
Các cơ cấu/các thể chế
Tổ chức
Thực hiện
Rà soát
Bộ máy hành chính/hệ thống
thứ bậc
Các cấu trúc
Tổ chức
Hành vi
Các hệ thống
Tính hiệu suất/hợp lý/thị
trường
Quy trình
Các quyết định

Các dẫn chứng được sử dụng rộng rãi nhất cho sự phát triển của cải cách quản lý công là các
nghiên cứu đánh giá của OECD (1990, 1993). Một nghiên cứu gần đây của tổ chức này kết
luận rằng mặc dù các cuộc cải cách khác nhau về nội dung, quy mô và cách tiếp cận, một
chương trình chung đã xây dựng nên "một mô hình quản lý công đã xuất hiện nhằm thúc đẩy
một văn hoá hướng vào hoạt động trong một khu vực công ít phân quyền" (OECD, 1995).
Theo OECD, mô hình quản lý công này có các đặc tính như sau:
Bảng 2.2 Đặc tính của mô hình quản lý công mới
__________________________________________________________________
- Chuyển giao thẩm quyền, cung cấp - Cải tiến việc quản lý các nguồn nhân
lực
- Đảm bảo việc thực thi, sự kiểm soát, tính trách nhiệm - Tận dụng công nghệ
thông tin
- Tạo nên sự cạnh tranh và lựa chọn - Nâng cao chất lượng các quy chế
- Cung cấp dịch vụ đáp ứng được nhu cầu khách hàng - Tăng cường chức năng
chỉ đạo ở trung ương
________________________________________________________________
Nguồn: OECD (1995), được Kickert trích dẫn (1997, tr: 18).
Mô hình thầu khoán - khái niệm hoá một xu hướng áp dụng thị trường vào nhà nước được
Osborne và Gaebler (1992) chứng minh qua mười nguyên tắc sau:
1. Lái thuyền, chứ không chèo thuyền
2. Mở rộng quyền lực cho cộng đồng, hơn là đơn thuần cung cấp dịch vụ
3. Khuyến khích cạnh tranh, chứ không độc quyền
4. Lấy công việc chứ không lấy các quy chế làm mục tiêu
5. Tài trợ cho kết quả đầu ra chứ không phải các đầu vào
6. Đáp ứng nhu cầu của khách hàng chứ không phải của cơ quan hành chính
7. Chú trọng vào các nguồn thu, không chỉ chi tiêu
8. Đầu tư vào việc phòng ngừa hơn là chữa trị
9. Phân quyền
8
10. Giải quyết các vấn đề bằng cách sử dụng thương trường

Bảng 2.3 Tổng chi tiêu của chính phủ tính theo phần trăm của GDP 1970-94
1970 1975 1980 1985 1990 1991 1992 1993 1994
Úc - 31 32 37 35 37 38 34 38
Áo 38 45 48 51 49 50 50 53 52
Bỉ 42 51 59 62 55 56 56 57 55
Canada 34 38 39 45 46 49 50 50 48
Đan mạch 41 48 56 59 59 59 61 63 63
Phần lan 30 38 38 44 45 54 59 61 59
Pháp 39 43 46 52 50 51 52 55 55
Đức 38 48 48 47 45 48 47 48 49
Hy lạp 24 29 31 44 47 46 46 48 49
Aixơlen - 31 28 31 34 35 36 - -
Ai-len - - 49 52 41 42 43 43 43
Ý 33 42 42 51 53 54 54 56 56
9
Nhật 19 27 32 32 32 31 32 34 35
Hà lan 41 51 55 56 54 54 55 56 55
Na-uy 40 45 48 45 54 55 57 57 57
Bồ Đào Nha 22 30 26 43 43 50 53 53 53
Tây Ban Nha 22 24 32 41 42 44 45 47 46
Thuỵ điển 43 48 60 63 59 61 67 72 67
Thuỵ sĩ 32 39 40 43 43 43 - - -
Thổ Nhĩ Kỳ - - 21 18 - - - - -
Anh 37 44 43 44 40 41 43 44 43
Mỹ 31 33 32 33 33 34 35 34 34
__________________________________________________________________
Nhóm chủ yếu thứ hai về các yêu cầu liên quan đến “chất lượng” do Minogue đưa ra (cùng
các tác giả khác, 1998, tr: 20). Điều này được phản ánh theo một cách thức trong đó công
chúng được nhìn nhận như là các công dân, người sử dụng dịch vụ và hiện nay là khách
hàng. Các công dân bây giờ mong muốn các dịch vụ tốt hơn với chi phí thấp hơn, tự xem

10
Thời xa xưa Hành chính truyền thống 1960 - 1980 Cuối thập kỷ 1980
Khu vực nhà nước
hành chính
(thực hiện hoàn Quản lý công Quản trị tốt
thành công việc)
quản lý
Khu vực tư nhân
Buổi ban đầu, khi khái niệm “hành chính” xuất hiện cùng nhà nước, nó đồng nghĩa với khái
niệm quản lý ở chỗ cả hai đều được xem là “nghệ thuật thực hiện, hoàn thành công việc”.
Dần dần, về sau này, khái niệm “hành chính” được dùng nhiều hơn cho khu vực nhà nước,
trong khi “quản lý” được vận dụng chủ yếu trong khu vực tư nhân. Cả hai hiện tượng này
đều phát triển cùng với sự tiến hoá của xã hội loài người, trở thành các ngành khoa học được
nhiều người nghiên cứu. Đồng thời với quá trình đó, chúng thẩm lậu lẫn nhau, nhiều khi trộn
lẫn vào nhau trong cả hai khu vực nhà nước và khu vực tư nhân. Khu vực tư nhân cũng vận
dụng nhiều ý nghĩa, kỹ thuật và kỹ năng của “hành chính” như sắp xếp tổ chức bộ máy trong
các doanh nghiệp, hệ thứ bậc trong điều hành, các hồ sơ văn bản v.v. Điều đó phần nào lý
giải vì sao có khái niệm “hành chính doanh nghiệp”. Trong khi đó, khu vực nhà nước hấp
thụ rất nhiều từ “quản lý” trong các doanh nghiệp, ví dụ như tính tự chủ trong điều hành
công việc, phân quyền cho cấp dưới, tính hiệu quả, hiệu suất trong công việc, và thậm chí
sau này còn cả việc tư nhân hoá một số hoạt động vốn là thuộc chức năng của bộ máy hành
chính thông qua việc làm hợp đồng với bên ngoài, thuê khoán v.v. Sự thẩm lậu này ngày
càng nhiều cả về chất cũng như về lượng, đi đôi với yêu cầu phải cải cách khu vực nhà
nước, nhất là cải cách hành chính, nên đã đưa đến khái niệm “quản lý công”, hay nhiều cách
gọi khác “quản lý công mới”, “chủ nghĩa quản lý” v.v. trong những thập kỷ 1960, 1970 và
1980 ở nhiều nước trên thế giới. Đến cuối thập kỷ 1980, đầu thập kỷ 1990, do có sự đổ vỡ
của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô cũ, nên khái niệm “quản trị tốt” ra
đời. Hành chính nhà nước vẫn còn tiếp tục vận động và phát triển không ngừng.
Theo lý thuyết kinh tế tân cổ điển (neo-classical economy), hành chính có thể phân tích
trong mối quan hệ tam giác giữa ba tác nhân cơ bản trong phát triển quốc gia, đó là nhà

động đúng đắn theo pháp luật của thị trường và xã hội, chứ không tực tiếp can thiệp thô bạo
vào hoạt động chính đáng của các tác nhân khác. Nhân dân ta ngày nay có trình độ dân trí
cao hơn, hiểu biết tốt hơn về pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, với sự lãnh đạo của
Đảng và sự quản lý của Nhà nước, tiếng nói của nhân dân cả với hai hình thức dân chủ gián
tiếp là thông qua các cơ quan đại diện do dân cử, và trực tiếp có thể nêu chính kiến của
mình, đóng góp vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Hơn nữa, các tổ
chức đoàn thể mang tính cộng đồng ngày nay đang thực hiện rất nhiều chức năng hỗ trợ,
giúp đỡ cho cộng đồng dân cư sở tại trong các vấn đề thiết thực tới cuộc sống và công việc
của người dân. (Xem thêm cuốn "Hành chính học và cải cách hành chính" của GS. Vũ Huy
Từ và Ths. Nguyễn Khắc Hùng, Nxb Chính trị quốc gia, 1998).
2.4.2 Các cuộc cải cách ở Phương Tây:
Xin lấy mốc bắt đầu của cải cách công vụ và hành chính là Bản báo cáo Fulton tại Vương
quốc Anh vào năm 1968. Báo cáo này đã lưu ý các quan tâm về năng lực quản lý của nền
công vụ. Báo cáo này khuyến nghị rằng “hệ thống công vụ cần phải mở cửa, để cho những
người bên ngoài có thể được tuyển dụng vào tất cả các cấp bậc và để dỡ bỏ các rào cản tại
hàng loạt vị trí trong cơ cấu thứ bậc cứng nhắc” (Hughes, 1998, tr: 57). Fulton đã thể hiện
12

Trích đoạn KẾT LUẬN: PHẦN ĐÁNH GIÁ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status