Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – K2I
LỜI MỞ ĐẦU
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập, có chức năng tái
sản xuất tài sản cố định cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân , nó tạo
nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế và quốc phòng của đất nước.
Vì vậy một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và tích luỹ nói riêng
cùng với vốn đầu tư từ nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực đầu tư Xây dựng
cơ bản. Bên cạnh đó đầu tư xây dựng cơ bản luôn là một “lỗ hổng” lớn làm thất
thoát nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Vì vậy, quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ
bản đang là một vấn đề cấp bách nhất trong giai đoạn hiện nay.
Tổ chức hạch toán kế toán, một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ
thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính có vai trò tích cực trong việc quản lý,
điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Quy mô sản xuất xã hội ngày càng
phát triển thì yêu cầu và phạm vi công tác kế toán ngày càng mở rộng, vai trò và
vị trí của công tác kinh tế ngày càng cao.
Với sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh
tế thị trường, của nền kinh tế mở đã buộc các doanh nghiệp mà đặc biệt là các
doanh nghiệp xây dựng cơ bản phải tìm ra con đường đúng đắn và phương án
sản xuất kinh doanh tối ưu để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường,
dành lợi nhuận tối đa, cơ chế hạch toán đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng cơ
bản phải trang trải được các chi phí bỏ ra và có lãi. Đáp ứng các yêu cầu trên,
các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất phải tính toán được các chi phí sản
xuất bỏ ra một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời. Hạch toán chính xác chi phí là
cơ sở để tính đúng, tính đủ giá thành. Từ đó giúp cho doanh nghiệp tìm mọi cách
hạ thấp chi phí sản xuất tới mức tối đa, hạ thấp giá thành sản phẩm – biện pháp
tốt nhất để tăng lợi nhuận.
Trong các doanh nghiệp sản xuất vật chất, khoản mục chi phí nguyên vật
liệu chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí của doanh nghiệp, chỉ cần một
biến động nhỏ về chi phí nguyên vật liệu cũng làm ảnh hưởng đáng kể đến giá
thành sản phẩm, ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp. Vì vậy, bên cạnh
- 1 -
Em xin chân thành cảm ơn!
- 2 -
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – K2I
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của nguyên vật liệu.
1.1.1 Khái niệm:
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động thể hiện dưới dạng vật hoá trong
các doanh nghiệp. Nguyên vật liệu được sử dụng phục vụ cho việc sản xuất
chế tạo sản phẩm, hoặc thực hiện lao vụ - dịch vụ hay sử dụng cho bán hàng
quản lý doanh nghiệp.
1.1.2 Đặc điểm của nguyên vật liệu:
o Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kì kinh doanh.
o Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh chúng bị tiêu hao
toàn bộ hoặc bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo thành
hình thái sản xuất vật chất của sản phẩm.
o Nguyên vật liệu thuộc TSLĐ, giá trị NVL thuộc vốn lưu động dự
trữ và thường chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất cũng như
trong giá thành sản phẩm.
1.1.3: Vai trò của nguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh:
- Trong các doanh nghiệp sản xuất: nguyên vật liệu là đối tượng lao động,
là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia
trực tiếp và thường xuyên vào quá trình sản xuất sản phẩm và ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng sản phẩm đầu ra.
- Nguyên vật liệu cũng là một trong những tài sản lưu động của doanh
nghiệp, đồng thời cũng là một yếu tố chi phí.
- 3 -
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – K2I
- Nguyên vật liệu được coi là yếu tố hàng đầu không thể thiếu của bất kỳ
quá trình tái sản xuất nào đặc biệt là quá trình chế tạo sản phẩm mới trong doanh
không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà kết hợp với vật liệu chính làm
thay đổi hình dáng bề ngoài,màu sắc, hoặc dùng để bảo quản. Các loại vật liệu
này không cấu thành lên thực thể sản phẩm.
- Nhiên liệu: thực chất là một loại vật liệu phụ có tác dụng cung cấp nhiệt
lượng cho quá trình sản xuất. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, như xăng, dầu;
ở thể rắn như các loại than đá, than bùn, và ở thể khí như gas…
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: là loại phụ liệu phục vụ cho hợp
đồng xây dựng tái tạo TSCĐ
- Phế liệu: là các loại vật liệu bị loại trừ từ quá trình sản xuất, phế liệu thu
hồi từ thanh lý TSCĐ, chúng có thể được sử dụng hoặc được bán ra ngoài như
gỗ, sắt, thép vụn…
- Vật liệu khác: là loại vật liệu không được xếp vào loại kể trên.
Việc phân loại như trên có rất nhiều ưu điểm: là giúp người quản lý thấy
rõ vai trò tác dụng của từng loại nguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh. Qua
đó đưa ra quyết định về quản lý và hạch toán từng loại nhằm nâng cao hiệu quả
huy động và sử dụng nguyên vật liệu.
Bên cạnh những ưu điểm thì việc phân loại này còn bọc lộ một số nhược
điểm như: Rất khó phân loại ở công ty có những lúc nguyên vật liệu chính như
nguyên vật liệu phụ.
1.2.1.2 Phân loại nguyên vật liệu theo nguồn cung cấp.
- Vật liệu mua ngoài: là vật liệu mà công ty mua ngoài thị trường.
- 5 -
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – K2I
- Vật liệu tự chế biến: là vật liệu do doanh nghiệp sản xuất ra và sử dụng
như là nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm.
- Vật liệu thuê ngoài gia công: là vật liệu mà doanh nghiệp không tự sản
xuất, cũng không phải mua ngoài mà thuê các cơ sở ra công.
- Nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh: là nguyên vật liệu do các bên
liên doanh góp vốn theo thoả thuận trên hợp đồng liên doanh.
- Nguyên vật liệu được cung cấp: là nguyên vật liệu do đơn vị cấp trên cấp
- TH5: Vật tư được cấp
- TH6: Vật tư được tặng thưởng viện trợ.
- 7 -
Giá thành sản xuất
thực tế
=
Giá TT vật tư xuất
gia công chế biến
+
CPPS liên quan đến
gia công chế biến
Vật tư thuê ngoài
gia công chế biến
=
Giá TT vật tư xuất
thuê gia công chế
biến
+
CPPS liên quan đến
gia công chế biến
Giá TT vật tư nhận
góp liên doanh
=
Giá đánh giá của
hội đồng góp vốn
+
CPPS liên quan đến
quá trình tiếp nhận
Giá thực tế vật tư
được cấp
- 8 -
+
Giá thực tế
nguyên vật liệu
xuất kho
=
Đơn giá xuất
kho bình quân
=
Trị giá thực tế tồn kho đầu kỳ + giá trị tồn
kho trong kỳ
Số lượng tồn kho đầu kỳ + số lượng giá trị
nhập trong kỳ
số lượng
nguyên vật liệu
xuất kho
Đơn giá xuất kho
bình quân
x
Đơn giá xuất
kho sau mỗi lần
nhập
Trị giá thực tế tồn kho đầu ký + giá trị vật tư
trong kỳ
Số lượng trong kho + số lượng vật tư nhập
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – K2I
Phương pháp này đáp ứng được kịp thời yêu cầu của thông tin kế toán
nhưng đòi hỏi công sức thời gian và tính toán.
c)Phương pháp bình quân cuối kỳ trước
Phương pháp này đáp ứng được nhu cầu kịp thời của thông tin kế toán
của từng lần nhập kho, giả thiết lô nguyên vật liệu nào được nhập trước sẽ được
xuất dùng trước. Sau đó căn cứ vào số lượng xuất kho tính ra giá thực tế xuất
kho theo nguyên tắc hàng xuất trước được tính theo đơn giá thực tế nhập của
hàng thuộc lần nhập trước, số hàng còn lại của lần xuất trước (nếu có) được tính
theo đơn giá thực tế lần nhập tiếp theo. Do vậy giá trị vật liệu tồn tại kho cuối kỳ
sẽ là giá trị thực tế của số vật liệu mua vào sau cùng. Phương pháp này chỉ áp
dụng với điều kiện giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm.
h)Phương pháp giá hạch toán:
Trong thực tế việc hạch toán nguyên vật liệu theo giá thực tế là một việc
hết sức phức tạp, khó khăn, mất nhiều công sức vì thường xuyên phải tính lại giá
thực tế của mỗi thứ vật liệu sau mỗi lần nhập kho hoặc cuối tháng. Để đơn giá
cho công tác hạch toán nguyên vật liệu hàng ngày có thể sử dụng phương pháp
tính giá nguyên vật liệu xuất kho theo giá hạch toán để ghi sổ kế toán.
Giá hạch toán là giá tạm tính được sử dụng ổn định thống nhất trong thời
gian dài, giá hạch toán được tạm dùng để ghi chép tính giá nguyên vật liệu xuất
kho.
Để xác định được giá thực tế thì cuối kỳ phải đổi giá trị nguyên vật liệu từ
giá hạch toán sang giá thực tế. giá hạch toán thường được xác định bằng cách
lấy giá nguyên vật liệu xuất kho theo giá hạch toán như sau:
• Bước 1: Hàng ngày ghi nhập xuất kho cho nguyên vật liệu kế toán
ghi theo giá hạch toán cho từng vật liệu theo công thức:
- 10 -
Giá hạch toán
nguyên vật liệu
nhập kho
=
số lượng vật
liệu nhập xuất
kho
Đơn giá hạch
Ghi cuối tháng
Hệ số giá
=
Trị giá thực tế vật tư tồn tại đầu kỳ + giá trị vật tư
trực tiếp nhập trong kỳ
Giá hạch toán vật tư tồn tại trong kho + giá hách toán
vật tư ngoài kỳ trong kỳ
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – K2I
- Ở kho: thủ kho theo dõi về mặt số lượng, căn cứ vào phiếu nhập kho,
phiếu xuất kho thủ kho tiến hành nhập xuất vật tư sau đó ghi vào thẻ kho, mỗi
chứng từ được ghi một dòng, mỗi danh điểm vật tư mở một thẻ kho định kỳ,
hoặc hàng ngày phải chuyển phiếu nhập kho, phiếu xuất kho cho kế toán vật tư,
phải thường xuyên đối chiếu về mặt số liệu giữ thẻ kho với số lượng thực tế
trong kho với số liệu kế toán theo dõi trên sổ chi tiết vật tư.
- Ở phòng kế toán: hàng ngày hoặc định kỳ khi nhận được phiếu nhập kho,
phiếu xuất kho do thủ kho chuyển đến, kế toán ghi đơn giá tính thành tiền sau đó
ghi vào sổ chi tiết vật liệu, định kỳ họp cuối tháng phải đối chiếu số liệu thủ kho,
cuối tháng căn cứ vào sổ chi tiết vật tư lập bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn của
vật liệu, số liệu trên bảng này được đối chiếu với số liệu trên sổ kế toán tổng
hợp.
- Nhận xét: phương pháp thẻ song song đơn giản, dễ kiểm tra đối chiếu
nhưng việc ghi chép còn nhiều trùng lặp vì thế chỉ thích hợp với doanh nghiệp
có quy mô nhỏ, số lượng nghiệp vụ ít, trình độ nhân viên kế toán chưa cao.
1.3.2 Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.
- Ở kho: thủ kho theo dõi về mặt số lượng, căn cứ vào phiếu nhập kho,
phiếu xuất kho thủ kho tiến hành nhập xuất vật tư sau đó ghi vào thẻ kho, mỗi
- 12 -
Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếu
Ghi cuối tháng
Phiếu nhập kho
Phiếu xuất kho
Sổ số dư
Kế toán tổng hợp
Phiếu giao nhận chứng từ nhập
Phiếu giao nhận chứng từ xuất
Bảng luỹ kế nhập,
xuất, tồn kho vật tư
Ghi định kỳ
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – K2I
sở đó lập phiếu giao nhận chứng từ nhập – xuất, phiếu này nhập xong được
chuyển cho kế toán cùng với phiếu nhập kho – xuất kho. Cuối tháng căn cứ vào
thẻ kho đã được kế toán kiểm tra, ghi số lượng vật liệu tồn kho theo từng danh
điểm vào sổ số dư, sổ số dư do kế toán mở theo từng kho và mở cho cả năm, và
giao cho thủ kho trước ngày cuối tháng, trong sổ số dư, các danh điểm vật liệu
được in sẵn, sổ số dư thủ kho ghi xong được chuyển cho kế toán kiểm tra và tính
thành tiền.
- Ở phòng kế toán: sau khi nhận được các chứng từ nhập kho – xuất kho,
phiếu giao nhận chứng từ, kế toán kiểm tra hoàn chỉnh sau đó tính giá trị các
chứng từ, tổng hợp số tiền các chứng từ nhập kho – xuất kho theo từng nhóm,
từng danh điểm, từng loại vật tư và ghi vào cột số tiền trên phiếu giao nhận
chứng từ. Số liệu trên phiếu giao nhận chứng từ làm căn cứ lập bảng luỹ kế nhập
– xuất – tồn. Căn cứ vào sổ số dư do thủ kho chuyển đến, kế toán ghi đơn giá
hạch toán của từng nhóm vật tư trên sổ số dư và tính thành tiền, số liệu trên sổ
số dư được đối chiếu với bảng nhập – xuất – tồn, số liệu trên bảng luỹ kế nhập –
xuất – tồn được đối chiếu với sổ kế toán tổng hợp.
- Nhận xét: phương pháp này tránh được sự trùng lặp giữa chỉ tiêu số
lượng, giữa kho và phòng kế toán, làm giảm chi phí kế toán tuy nhiên việc kiểm
tra đối chiếu giữa kho và phòng kế toán gặp khó khăn hơn khi kế toán cần biết
thông tin về số lượng cho một thứ nguyên vật tư nào đó thì xuống trực tiếp kho
Thu hồi vốn đầu tư
TK 412
Khoản chênh lệch do đánh giá tăng
TK 1331
kê tại kho ( thừa trong hoặc ngoài
định mức)
TK 621
Xuất vật liệu để trực tiếp chế
tạo sản phẩm
TK 154
Xuất cho PX sản xuất, cho bán
hàng, cho QLDN, XDCB
TK 222, 223,…
Xuất vật liệu góp vốn
liên doanh, liên kết… (*)
TK 154
Xuất thuê ngoài gia công
chế biến
TK 632, 1381,…
Vật liệu thiếu phát hiện qua
kiểm kê tại kho (trong hoặc ngoài
định mức)
TK 412
Khoản chênh lệch giảm
đánh giá giảm
TK 331, 111, 112
CKTM, GGHM,
TK 331, 111, 333,
112, 141, 311
Tổng
TK 515
TK 151
Giá trị vật liệu đang đi đường
đầu kỳ chưa sử dụng
TK 152
Giá trị vật liệu tồn kho
đầu kỳ chưa sử dụng
TK 411
Nhận vốn góp liên doanh
cấp phát, vốn cổ phẩn
TK 412
Đánh gía tăng vật liệu
TK 111, 112, 331
Giá trị vật liệu mua
vào trong kỳ (chưa có
thuế GTGT)
Thuế GTGT đầu vào
được khấu trừ
TK 1331
Thuế GTGT đầu vào tương ứng
với số chiết khấu thương mại
giảm giá hàng mua, hàng mua
trả lại…
TK 151
Giá trị vật liệu đang đi đường
cuối kỳ chưa sử dụng
TK 152
Giá trị vật liệu tồn cuối kỳ
chưa sử dụng
TK 621
Sổ cái TK 152
(TK 611)
Bảng tổng hợp chi
tiết NVL
Bảng cân đối số
phát sinh
Báo cáo tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – K2I
- Trường hợp đơn vị mở các sổ nhật ký đặc biệt thì hàng ngày căn cứ vào
các hoá đơn giá trị gia tăng, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, phiếu chi, phiếu thu
được dùng làm căn cứ ghi sổ và ghi vào sổ nhật ký mua hàng, sổ nhật ký chi
tiền, sổ nhật ký thu tiền, lấy số liệu để ghi vào sổ cái các TK 152, (TK 611).
- Cuối tháng, cuối quý, cuối năm cộng số liệu trên các sổ cái, TK 152, (TK
611) để lập bảng cân đối số phát sinh. Sau khi đã kiểm tra đối chiếu khớp với số
liệu ghi trên sổ cái TK 152, (TK 611) và lập bảng tổng hợp chi tiết nguyên vật
liệu (được lập từ các sổ, thẻ kế toán chi tiết nguyên vật liệu) được dùng để lập
báo cáo tài chính.
- Về nguyên tắc: Tổng số phát sinh Nợ và tổng số phát sinh Có trên bảng
cân đối số phát sinh phải bằng tổng số phát sinh Nợ và tổng số phát sinh Có trên
sổ nhật ký chung.
- 19 -
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – K2I
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT
LIỆU VỚI VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TẠI
CÔNG TY TNHH BIÊN THÙY.
2.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH Biên Thùy.
2.1.1 Đặc điểm tổ chức kinh doanh QLKD của Công ty TNHH Biên Thùy.
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Biên Thùy.
Giới thiệu doanh nghiệp
Tên doanh nghiệp:
của nền kinh tế thị trường, một nền kinh tế mới năng động bao gồm nhiều
thành phần kinh tế. Công ty TNHH Biên Thùy là một doanh nghiệp trẻ, sức
cạnh tranh còn non yếu. Đây là một thử thách lớn đối với công ty TNHH Biên
Thùy. Trải qua thời gian hoạt động hơn 15 năm qua với sự nhạy bén, chủ
động, sáng tạo và lòng nhiệt huyết với công việc của toàn bộ công nhân viên
trong công ty đã đưa công ty sớm thích ứng với nền kinh tế thị trường đầy mới
mẻ và khẳng định được vị thế của mình trên chiến trường kinh doanh.
- 21 -
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – K2I
Phát huy về vốn, máy móc thiết bị và đội ngũ cán bộ công nhân viên có
kinh nghiệm, công ty ngày càng khẳng định mình.
Với sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên trong công ty, Công ty TNHH
Biên Thùy ngày càng đi lên, phát triển bền vững. Công ty đã đầu tư một số
thiết bị máy móc hiện đại được nhập từ nước ngoài để phục vụ đáp ứng yêu
cầu của công việc, làm tăng hiệu quả công việc và đời sống cán bộ anh em
công nhân cũng ngày được cải thiện.
Tuy là một doanh nghiệp mới được thành lập song nhờ có những thuận
lợi nhất đinh như : được tiếp thu và kế thừa khoa học công nghệ hiện đại
trong và ngoài nước, đầu tư trang thiết bị, máy móc công nghệ cao và sự
nhiệt tình của anh em trong công ty đã sớm từng bước đi vào hoạt động ổn
định. Là doanh nghiệp vừa, có nhiều tiềm năng và sức cạnh tranh ngày càng
cao
2.1.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý và tổ chức kinh doanh của Công ty
TNHH Biên Thùy.
Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty.
Kể từ khi thành lập, bộ máy quản lý của Công ty cũng có nhiều thay đổi
về số lượng nhân viên, về cơ cấu cũng như phạm vi quản lý.
Công ty tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu trực tuyến, chức năng được
phân chia thành nhiều cấp quản lý khác nhau. Với cơ cấu tổ chức quản lý hợp
lý, gọn nhẹ và khoa học, có mối quan hệ phân công cụ thể và trách nhiệm rõ
Đội XD số
4
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – K2I
cung cấp thông tin cho Giám đốc ra các quyết định. Phòng này có nhiệm vụ áp
dụng chế độ kế toán hiện hành và tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ sách kế toán,
thực hiện công tác bảo toàn và phát triển được vốn mà Công ty giao, hạch toán
kế toán, lập kế hoạch động viên các nguồn vốn đảm bảo SXXD đúng tiến độ,
kiểm tra thanh toán với các Ngân Hàng, thực hiện báo cáo đúng quy định, tổ
chức kiểm kê thường xuyên theo yêu cầu của cấp trên.
P.Hành chính: Chịu trách nhiệm trước Giám đốc điều hành về công tác tổ
chức nhân sự và tính chính xác trong quá trình thực hiện, quản lý hồ sơ nhân sự,
sắp xếp điều hành nhân sự, soạn thảo văn bản, quyết định, quy định trong phạm
vi công việc được giao, tổ chức thực hiện các việc in ấn tài liệu, tiếp nhận phân
phối văn bản, báo chí hàng ngày, quản lý con dấu của bản thảo, giữ gìn bí mật
thông tin trong công tác SXXD. Ngoài ra còn tham mưu cho Giám đốc trong
XD kế hoạch, tổ chức đào tạo, tuyển dụng lao động, bổ nhiệm tăng lượng, bậc
thợ cho cán bộ công nhân viên, lưu trữ hồ sơ, chuẩn bị các cuộc họp cho Công ty
.
Các đội XD, xưởng sửa chữa, đội cơ giới sửa chữa: Các đơn vị trực thuộc
Công ty gồm có 4 đội XD, 1 xưởng sửa chữa trực tiếp thực hiện việc thi công,
sửa chữa tại các công trình trên khắp các địa bàn khác nhau. Sử dụng các nguồn
vốn có hiệu quả, hàng tháng báo cáo các nguồn vốn mà đội đã sử dụng để phục
vụ hoạt động XD công trình.
Do các công trình có địa điểm thi công khác nhau, thời gian XD và mang
tính chất đơn lẻ nên lực lượng lao động của Công ty được chia thành các đội
XD, mỗi đội phụ trách XD một công trình tùy thuộc vào yêu cấu XD thi công
trong từng thời kỳ mà số lượng các đội XD sẽ thay đổi để phù hợp với hoàn
cảnh cụ thể
2.1.1.3 Tổ chức hệ thống sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
Quá trình được thực hiện trên cơ sở các hợp đồng đã ký với các đơn vị
thi công
Lập phương án thi
công
Thành lập ủy ban chỉ huy công
trường
Tiến hành thi công theo kế hoạch
được duyệt
Tổ chức nghiệm thu khối lượng và
chất lượng công trình
Công trình hoàn thành, quyết toán
bàn giao cho chủ thầu
Lập bản nghiệm thu, thanh
toán công trình