Lời mở đầu
Ngày nay, khi đề cập đến giá trị của một doanh nghiệp, các nhà kinh tế học
không chỉ xét đến các yếu tố nh: công nghệ, nhà xởng, vốn, nguồn nhân lực,... mà
còn rất quan tâm đến một yếu tố mới, một yếu tố cực kỳ quan trọng, đợc đánh giá
là có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp - đó chính là văn
hóa doanh nghiệp.
Văn hoá doanh nghiệp là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành
viên trong doanh nghiệp học đợc cách giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn
đề với môi trờng xung quanh. Một nền văn hóa doanh nghiệp luôn luôn là mục tiêu
mà các doanh nghiệp cần phải hớng tới.
Văn hoá doanh nghiệp không thể hình thành ngày một, ngày hai mà sự
phát triển của nó là cả một quá trình lịch sử lâu dài. Văn hoá doanh nghiệp là ngôi
nhà mà sự xây dựng và hình thành văn hóa của mỗi thành viên chính là các viên
gạch để xây nên ngôi nhà đó. Văn hóa doanh nghiệp hình thành nhanh hay chậm,
tác động tích cực hay tiêu cực đến sự phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào sự
cố gắng phấn đấu, nỗ lực của mỗi thành viên trong doanh nghiệp đó.
Lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới cũng đã cho thấy: nếu không có
một giá trị văn hoá riêng, bản sắc riêng thì một doanh nghiệp không thể đứng vững,
phát triển và không thể tạo đợc dấu ấn của mình đối với nền kinh tế của mỗi quốc
gia nói riêng và đối với nền kinh tế thế giới nói chung.
Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin trình bày khái quát về văn hoá doanh
nghiệp và đặc biệt là việc phát huy vai trò của nó trong quá trình đổi mới, cụ thể
hơn là tại Công ty Tài Chính Dầu Khí PVFC.
1
chơng 1
Tổng quan về văn hoá doanh nghiệp
1- Văn hoá doanh nghiệp là gì?
Văn hoá là tổng thể tổng hợp bao gồm kiến thức, tín ngỡng, nghệ thuật, đạo
đức, luật pháp, thói quen và bất kỳ năng lực hành vi nào khác mà mỗi cá nhân với t
cách thành viên của xã hội đạt đợc.
Theo nghĩa rộng, văn hoá là bao gồm tất cả những gì con ngời đã tạo ra.
2.1 Cái nhìn chung về VHDN trên thế giới
Cạnh tranh trên quy mô toàn cầu cùng với tác động to lớn của công nghệ
thông tin đang là áp lực to lớn đối với phát triển kinh tế của nớc ta hiện nay. Chính
phủ cam kết tạo môi trờng thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển và chính các doanh
cũng xuất hiện các nhu cầu phải thay đổi tổ chức của mình. Hiện nay, vấn đề xây
dựng văn hóa tổ chức nói chung và văn hoá DN nói riêng đợc đề cập đến cả về mặt
lý thuyết lẫn thực tiễn.
Văn hoá tổ chức là loại quy ớc cơ bản mà một nhóm ngời nhất định nói ra, phát
hiện ra hay xây dựng nên để giải quyết những vấn đề về sự thích ứng bên ngoài và
sự hoà nhập với bên trong và những quy ớc này phải đợc coi là có hiệu lực và là
chuẩn mực để các thành viên mới của tổ chức thấm nhuần và tuân thủ. Văn hoá tổ
chức bao gồm các yến tố:
- Yếu tố giá trị: Giá trị là sự tin tởng vào những gì là tốt nhất cho một tổ chức
và loại thái độ nào là cần thiết: sự minh bạch, sự hoàn thành trách nhiệm, sự
sáng tạo, năng động.
- Yếu tố chuẩn mực: là những quy tắc không thành văn hớng dẫn cách c xử.
Những chuẩn mực này chỉ thẻ hiện bằng lời nói hoặc bằng thái độ và nếu vi
3
phạm những chuẩn mực này thì cũng bị xử lý: vi phạm những tiêu chuẩn
công việc đã đợc phê chuẩn, cách c xử của sếp đối với nhân viên, đạo đức
nghề nghiệp...
- Yếu tố đồ tạo tác: là những khía cạnh hữu hình của một tổ chức mà ngời ta
có thể nghe đợc, nhìn thấy hoặc cảm thấy: môi trờng làm việc, giọng nói,
ngôn ngữ sử dụng trong các bức thông điệp, cách giao tiếp trong các cuộc mít
tinh...
- Không khí của tổ chức: là khái niệm đợc sử dụng để phản ánh sự làm việc
thoải mái ở mức độ cao: nhân viên cấp dới đợc tin tởng ở mức độ nào, tổ
chức có chấp nhận rủi ro hay nó giữ ở mức an toàn nhất, thái độ thân thiện
hay thù ghét giữa các thành viên, xung đột trong tổ chức có đợc giải quyết
hay lờ đi...
những đặc tính riêng của văn hoá DN mình trong kinh doanh. VHDN khác nhau
dẫn đến sự khác nhau trong việc lựa chọn những biện pháp quản lý khác nhau. Đặc
biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế nh hiện nay khiến sự xuất hiện của các công ty
đa quốc gia, công ty liên doanh với nớc ngoài ngày một nhiều kèm theo đó là những
đụng độ giữa các nền văn hoá khác nhau. Không quan tâm đến điều này sẽ ảnh h-
ởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Ví nh sự va chạm giữa
một số ít nhà quản lý nớc ngoài với ngời lao động nớc ta trong một số doanh nghiệp
liên doanh do những nét khác biệt về văn hóa không đợc quan tâm lắm.
2.2 Quá trình đổi mới với văn hoá doanh nghiệp Việt Nam
Nghiên cứu VHDN là khuynh hớng đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam và đã
đo đếm đợc hiệu quả của nó.
VHDN Việt Nam đợc hình thành là một phần quan trọng của VH Việt Nam
đợc lu truyền và bồi đắp từ thế hệ này đến thế hệ khác. Nó tiếp thu những nhân tố
văn hóa trong kinh doanh hình thành qua nhiều năm của các nền kinh tế hàng hoá
5
trên thế giới, đồng thời tiếp thu và phát huy những tinh hoa văn hoá trong kinh
doanh của ông cha, vận dụng phù hợp với đặc điểm ngày nay, đó là hiện đại hóa
truyền thống đi đôi với truyền thống hoá hiện đại. Chỉ có nh vậy, mới kết hợp đợc
tốt truyền thống và hiện đại, đó là sự kết hợp có chọn lọc và nâng cao, từng bớc
hình thành VHDN mang bản sắc Việt Nam.
2.2.1 Một số đặc điểm nổi bật của VHDN Việt Nam:
- Từ công cuộc đổi mới đã hình thành mục đích kinh doanh mới, đó là kinh
doanh vì lợi ích của mỗi doanh nghiệp và lợi ích cả dân tộc. Tối đa hoá lợi
nhuận là động cơ thúc đẩy ý chí cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, cần đặc
biệt quan tâm, không vì nhấn mạnh mục lợi ích chung mà coi nhẹ mục đích
kinh doanh của mỗi cá nhân. Mục đích ấy đang đợc thể hiện ngày càng rõ
nét trong chiến lợc phát triển của mỗi doanh nghiệp đặc biệt là DN có hàng
hoá đợc ngời tiêu dùng bình chọn đạt chất lợng cao trong những năm gần
đây. Tuy nhiên, mục đích kinh doanh của mỗi doanh nhân ở nớc ta hiện nay
cũng rất đa dạng về tính chất: có những ngời chỉ mong kiếm đợc nhiều tiền,
giao tiếp.
- Gây ảnh hởng hoặc bị ảnh hởng bởi chiến lợc và cơ cấu tổ chức.
Và chúng ta cũng phải đối mặt với câu hỏi: Văn hoá dân tộc mạnh, yếu ở điểm nào,
ảnh hởng của nó tới VHDN hiện nay ra sao? Không quan tâm tới vấn đề này, chúng
ta sẽ không thành công trong mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Trong quan hệ kinh doanh với đối tác nớc ngoài, văn hoá kinh doanh càng trở nên
quan trọng cho thành công của doanh nghiệp. Ngoại ngữ là cơ sở để tiếp cận nền
văn hoá của các đối tác và cũng là phơng tiện giao tiếp hàng đầu đối với doanh
nghiệp. Trình độ ngoại ngữ cần phải đạt đợc là ngoại ngữ kinh doanh, vợt trên trình
độ phổ thông để phân biệt chính xác và tinh tế trong biểu đạt, sự chính xác của hợp
đồng. Trong các ngôn ngữ khác nhau, có ngôn ngữ đã phát triển ngôn ngữ kinh
7
doanh và đạt đợc trình độ chính xác về khoa học, công nghệ hay thơng mại, phải rất
thận trọng và tìm cách biểu đạt chuẩn xác nhất trong hợp đồng.
Thái độ và phong cách giao tiếp là cánh cửa trong quan hệ hợp tác với các
đối tác. Ngoài trình độ giáo dục cơ bản, sự lịch thiệp và tôn trọng đối tác, cần học
hỏi những kiến thức cơ bản về phong tục, tập quán của đối tác. Sự đúng giờ, chào
hỏi lịch sự, trang phục, thái độ niềm nở, ngôn ngữ cơ thể bao gồm thái độ, sự đi lại,
cử chỉ là những điều phải chú ý trong quan hệ đối tác ở từng nớc với nền văn hóa
khác nhau. Ngời Nhật thích tặng và nhận quà và hay xin lỗi, ngời Mỹ thích nói
thẳng và hay nói chuyện khôi hài, ngời Trung Quốc thích màu vàng và màu đỏ,
thích chữ song hỷ, hay chữ phúc, trong khi ngời Arập thích màu xanh da trời, rất
tôn trọng kinh Koran... Tôn giáo và tín ngỡng có tầm quan trọng khác nhau, tuỳ
theo từng nền văn hoá . Trong một nền tôn giáo đa văn hoá, cần hết sức tế nhị và
nhạy bén để biết tôn giáo chính và những tôn giáo phụ khác. Điều quan trọng là
không đợc mắc bất kỳ sai lầm thô bạo nào, dẫn đến hiểu lầm về tôn giáo trong kinh
doanh.
Trong khi phải hiểu biết, tôn trọng và thích nghi văn hoá của đối tác, phải
kiên định nền văn hoá dân tộc, những giá trị bền vững của văn hóa dân tộc trong
giao tiếp kinh doanh, kiên trì những yếu tố giá trị kinh doanh của dân tộc mình..
là thờng hay có khoảng cách đáng kể giữa những điều tốt đẹp đợc nói ra
trong tuyên bố về nhiệm vụ vói thực tế của hành vi quản lý của DN. Tình
trạng mập mờ này sẽ khiến nhân viên rơi vào lúng túng hoặc tự phát hành
động. Tính thống nhất của DN sẽ bị hạn chế.
3. Có các hoạt động tích cực phù hợp với các giá trị mới, các thủ tục mới
- Tuyển chọn nhân viên gắn với định hớng giá trị của tổ chức là điều cần đợc
khẳng định. Sự tuyển chọn không chỉ là kiến thức và kỹ năng phù hợp với vị
trí mà DN cần, mà còn phải có sự phù hợp giữa định hớng giá trị của DN và
9