NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG VÀ TÍNH THANH KHOẢN CỦA CỔ PHIẾU - Pdf 13

i

TÓM TẮT ĐỀ TÀI
o Lý do chọn đề tài
Một trong những đặc trƣng quan trọng nhất của thị trƣờng chứng khoán là tính
thanh khoản. Tính thanh khoản cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào mức độ bất cân
xứng thông tin trên thị trƣờng tài chính. Khi đối mặt với thông tin bất cân xứng, nhà
đầu tƣ không thể xác định các dự án làm gia tăng giá trị doanh nghiệp vì họ khó
phân biệt đƣợc giữa các cơ hội đầu tƣ tốt và xấu. Họ phải đối mặt với rủi ro lựa
chọn bất lợi. Vấn đề làm thế nào để tăng tính thanh khoản của cổ phiếu đã đƣợc
thảo luận bởi giới học thuật, chuyên gia phân tích tài chính và các nhà điều hành.
Đặc biệt trong khoảng thời gian gần đây có nhiều tranh luận về tác động của cơ chế
quản trị công ty đại chúng ảnh hƣởng đến tính thanh khoản. Các kết quả nghiên cứu
thực nghiệm tại nhiều thị trƣờng khác nhau trên thế giới chỉ ra một mối tƣơng quan
tích cực giữa quản trị công ty đại chúng và tính thanh khoản. Việc nâng cao chất
lƣợng quản trị doanh nghiệp làm giảm tình trạng bất cân xứng thông tin, từ đó tăng
cƣờng niềm tin của nhà đầu tƣ và cải thiện tính thanh khoản của thị trƣờng chứng
khoán. Bên cạnh đó, quản trị công ty tốt hơn cũng góp phần làm tăng giá trị doanh
nghiệp.
Hiện nay, quản trị công ty đại chúng là vấn đề nóng đang đƣợc quan tâm trên thế
giới, tuy nhiên số lƣợng nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty đại chúng
và tính thanh khoản của cổ phiếu tại Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Với mong muốn
tìm kiếm những biện pháp làm tăng tính thanh khoản của cổ phiếu doanh nghiệp nói
riêng và thị trƣờng chứng khoán Việt Nam nói chung, nhóm nghiên cứu xin đƣợc
tìm hiểu về mối quan hệ giữa quản trị công ty đại chúng và tính thanh khoản của cổ
phiếu tại thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, để từ đó bằng các cách cải thiện chất
lƣợng quản trị công ty đại chúng sẽ giúp góp phần làm tăng tính thanh khoản của cổ
phiếu. Đồng thời, bài nghiên cứu cũng đề cao tầm quan trọng của quản trị công ty
đại chúng trong giai đoạn hiện nay.
o Mục tiêu nghiên cứu
ii

X
j,t
+ 
i
n
j=2
+ 
t

LQT
i,t
là phƣơng thức đo lƣờng tính thanh khoản của công ty i trong năm t (Tỷ số
Turnover hoặc Tỷ số Amihud)
iii

CGI
i,t-1
là chỉ số quản trị công ty đại chúng (CGI) của công ty i trong năm t-1
X
j,t
là các biến kiểm soát: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, độ lệch chuẩn TSSL
và tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trƣờng.
Trong đó, CGI là chỉ số quản trị công ty tổng hợp đƣợc xây dựng dựa trên 5 nhóm
nhân tố: Sự tƣớc đoạt quyền sở hữu của cổ đông thiểu số, Quy trình tuyển chọn và
cấu trúc ban quản trị, Quy trình tuyển chọn và cấu trúc ban giám sát, cấu trúc sở
hữu và tín công khai, minh bạch của tình hình tài chính gồm tổng cộng 14 chỉ tiêu.
LQT là các tỷ số đo lƣờng tính thanh khoản của cổ phiếu. Các biến kiểm soát đƣợc
đƣa vào nhằm giải quyết vấn đề nội sinh khi xem xét mối quan hệ giữa quản trị
công ty đại chúng và tính thanh khoản.
Ngoài ra, để kiểm tra tính phù hợp và thuyết phục của mô hình nghiên cứu, chúng

cực lên tính thanh khoản của cổ phiếu. Cụ thể, khi cơ cấu HĐQT đáp ứng đƣợc
càng nhiều các tiêu chuẩn quản trị công ty nhƣ tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, quy
mô HĐQT, tách biệt chủ tịch HĐQT và CEO…, số điểm BOARD càng lớn thì tỷ số
AMIHUD càng nhỏ, tỷ số TURNOVER càng lớn, và tính thanh khoản của cổ phiếu
tăng lên.
Hệ số hồi quy của OWNERSHIP đối với tỷ số AMIHUD là âm và có ý nghĩa lớn
hơn 1% ở tất cả các mô hình, còn với tỷ số TURNOVER là dƣơng và có ý nghĩa lớn
hơn 10% ở hầu hết các mô hình. Vì vậy, có thể thấy cấu trúc sở hữu cũng có ảnh
hƣởng lên tính thanh khoản của cổ phiếu. Dựa vào kết quả này, một công ty có thể
tăng chỉ số quản trị công ty, từ đó cải thiện tính thanh khoản, bằng một trong những
cách sau: thoát khỏi sự nắm giữ của cổ đông kiểm soát là nhà nƣớc, tăng tỷ lệ cổ
phần của nhà đầu tƣ tổ chức, HĐQT và BGĐ nắm giữ số lƣợng cổ phiếu lớn hơn…
Kết quả kiểm định F-test và Kiểm định Hausman đều cho thấy Mô hình ảnh hƣởng
cố định là hiệu quả và thuyết phục.
o Đóng góp của đề tài
Đây có thể xem là một trong những nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên về mối quan
hệ giữa quản trị công ty đại chúng và tính thanh khoản của cổ phiếu ở thị trƣờng
chứng khoán Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu góp phần vào việc đề ra một số
giải pháp nhằm nâng cao tính thanh khoản của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
v

Đồng thời, tầm quan trọng của cơ chế quản trị công ty đại chúng cũng cần đƣợc
nhận thức đúng đắn trong các nghiên cứu khoa học và trong việc điều hành doanh
nghiệp, trong bối cảnh những tác động tạo ra giá trị doanh nghiệp của cơ chế quản
trị công ty đại chúng có xu hƣớng bị đánh giá thấp.
o Hƣớng phát triển của đề tài
Một số hƣớng mở rộng nghiên cứu, phát triển đề tài:
- Thứ nhất, về phƣơng pháp đo lƣờng tính thanh khoản, có thể sử dụng thêm
một số phƣơng pháp khác nhƣ: chênh lệch giá mua – bán (quoted bid – ask
spread), chỉ số chất lƣợng thị trƣờng (market quality index), tác động lên

2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa quản trị công ty đại
chúng và tính thanh khoản của cổ phiếu 13
CHƢƠNG 3 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1. Mô tả nghiên cứu 23
3.2. Mô hình nghiên cứu 26
3.2.1. Xây dựng chỉ số quản trị công ty đại chúng tổng hợp CGI 27
3.2.2. Các phương pháp đo lường tính thanh khoản 30
vii

3.2.3. Mô tả biến kiểm soát 31
3.2.4. Mô tả mẫu dữ liệu 32
3.3. Phƣơng pháp kiểm định mô hình 33
3.3.1. Kiểm định tính bền vững của cơ sở lý thuyết bằng cách hồi quy
tính thanh khoản theo hai chỉ số phụ đại diện cho hai nhóm nhân tố quan
trọng của quản trị công ty đại chúng bằng mô hình ảnh hưởng cố định 33
3.3.2. Kiểm định F-test (Redundant Fixed Effect) so sánh mô hình ảnh
hưởng cố định (fixed effect model) với mô hình panel (pooled) OLS 34
3.3.3. Kiểm định Hausman (Correlated Random Effects) so sánh mô
hình ảnh hưởng cố định (fixed effect model) so với mô hình ảnh hưởng
ngẫu nhiên (random effect model) 34
CHƢƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẠT ĐƢỢC 36
4.1. Thực trạng quản trị công ty đại chúng tại Việt Nam 36
4.2. Thống kê mô tả dữ liệu 38
4.2.1. Thống kê mô tả các biến 38
4.2.2. Ma trận tương quan 43
4.3. Kết quả mô hình ảnh hƣởng cố định (FEM) kiểm định mối quan hệ
giữa quản trị công ty đại chúng tổng hợp (CGI) và tính thanh khoản 44
4.3.1. Kết quả mô hình ảnh hưởng cố định (FEM) kiểm định mối quan
hệ giữa tỷ số TURNOVER và chỉ số CGI 44
4.3.2. Kết quả mô hình ảnh hưởng cố định kiểm định (FEM) mối quan

HSX – Sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh
FEM – Mô hình ảnh hƣởng cố định (fixed effect model)
REM – Mô hình ảnh hƣởng ngẫu nhiên (random effect model)
CGI – Chỉ số quản trị công ty đại chúng (Corporate Governance Index)
BOARD – Chỉ số phụ quản trị công ty đại diện cho Hội đồng quản trị
OWNERSHIP – Chỉ số phụ quản trị công ty đại diện cho Cơ cấu sở hữu
HĐQT – Hội đồng quản trị
BCTC – Báo cáo tài chính
BCTN – Báo cáo thƣờng niên
TSSL – Tỷ suất sinh lợi
x

DANH MỤC BẢNG – HÌNH VẼ
Bảng 3.1 – Thƣớc đo chỉ số quản trị công ty đại chúng tổng hợp
Bảng 3.2 – Mô tả cách tính và kỳ vọng tƣơng quan với biến phụ thuộc của các biến
kiểm soát
Bảng 4.1 – Thống kê mô tả các biến trong mô hình
Bảng 4.2 – Thống kê tình hình biến động của các biến trong mô hình trong giai
đoạn 2008-2012
Bảng 4.3 – Ma trận hệ số tƣơng quan giữa các biến trong mô hình
Bảng 4.4a – Mối tƣơng quan giữa tỷ số TURNOVER và CGI
Bảng 4.4b – Mối tƣơng quan giữa tỷ số AMIHUD và CGI
Bảng 4.5a – Mối tƣơng quan giữa tỷ số TURNOVER và BOARD
Bảng 4.5b – Mối tƣơng quan giữa tỷ số AMIHUD và BOARD
Bảng 4.6 – Kết quả kiểm định F-test vớiTURNOVER là biến phụ thuộc
Bảng 4.7 – Kết quả kiểm định Hausman với TURNVOVER là biến phụ thuộc
Hình 1 – Tình hình quản trị công ty đại chúng trong giai đoạn 2008-2012
Hình 2 – Biến động tính thanh khoản thể hiện qua tỷ số Turnover
Hình 3 – Phản ứng của giá chứng khoán đối với khối lƣợng giao dịch thể hiện qua
tỷ số Amihud

tới chi phí sử dụng vốn (Diamond và Verrecchia (1991)). Tuy nhiên, tính thanh
khoản lại phụ thuộc vào mức độ bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng tài chính.
Khi đối mặt với thông tin bất cân xứng, nhà đầu tƣ không thể xác định các dự án
làm gia tăng giá trị doanh nghiệp vì họ khó phân biệt đƣợc giữa các cơ hội đầu tƣ
tốt và xấu. Họ phải đối mặt với rủi ro lựa chọn bất lợi. Vấn đề làm thế nào để tăng
tính thanh khoản của cổ phiếu đã đƣợc thảo luận bởi giới học thuật, các chuyên gia
phân tích tài chính và các nhà điều hành. Chẳng hạn, họ tranh luận rằng cơ chế quản
trị công ty đại chúng có thể giúp cải thiện tính thanh khoản thông qua làm giảm bất
cân xứng thông tin. Có bằng chứng đáng kể cho thấy rằng các quy tắc quản trị
doanh nghiệp hoặc các hoạt động quản trị ở các cấp độ quốc gia có tƣơng quan với
sự phát triển và sức mạnh của thị trƣờng tài chính, cụ thể là, các mức độ cao hơn
của quản trị công ty tƣơng quan với thị trƣờng chứng khoán lớn hơn, các đợt IPO
thƣờng xuyên hơn, chi phí của các khoản tài trợ bên ngoài thấp hơn, và giá trị cao
hơn của cổ đông thiểu số (Theo La Porta và cộng sự (1997, 1998, 2000, 2002);
Berkowitz và cộng sự (2001); Lambardo Pagano (2000); Gompers và cộng sự
(2002); và Beck và cộng sự (2003)).
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng sự thay đổi trong các hoạt
động quản trị công ty tại mỗi quốc gia có ảnh hƣởng đến giá trị doanh nghiệp.
Black (2001) tìm thấy một mối tƣơng quan mạnh mẽ giữa chỉ số quản trị công ty
đại chúng và giá cổ phiếu của các công ty Nga. Black và cộng sự (2005) báo cáo
rằng quản trị công ty đại chúng là một yếu tố quan trọng giải thích sự thay đổi trong
2

giá trị thị trƣờng của các công ty đại chúng Hàn Quốc. Cheung và các cộng sự
(2008) cung cấp tài liệu về một mối quan hệ tích cực giữa chỉ số quản trị công ty đại
chúng và các biện pháp khác nhau đo lƣờng chất lƣợng công ty tại thị trƣờng chứng
khoán Hồng Kông.
Từ đó có thể thấy đƣợc tầm quan trọng của cơ chế quản trị công ty đại chúng đến
các khía cạnh nâng cao giá trị công ty, đặc biệt là giúp cải thiện tính thanh khoản
của cổ phiếu. Mối tƣơng quan dƣơng giữa quản trị công ty đại chúng và tính thanh

khoản của cổ phiếu bằng cách thực hiện theo các tiêu chuẩn quản trị công ty đại
chúng mà làm giảm vấn đề bất cân xứng thông tin và ngăn chặn các giao dịch nội
bộ.
Bài nghiên cứu của Ke Tang và Changyun Wang (2011) về mối quan hệ thực
nghiệm giữa quản trị công ty đại chúng và tính thanh khoản của cổ phiếu của các
công ty phi tài chính Trung Quốc trong giai đoạn 1999 – 2004. Các tác giả đã tính
toán chỉ số CGI thể hiện chất lƣợng quản trị công ty đại chúng dựa trên 5 nhóm
thông tin liên quan đến quản trị công ty đại chúng: sự tƣớc đoạt quyền lợi của các
cổ đông thiểu số, cấu trúc và quy trình của hội đồng quản trị, cấu trúc và quy trình
của ban kiểm soát, cấu trúc sở hữu, tính minh bạch và công khai tài chính, và 5
nhóm này bao gồm 17 chỉ tiêu để từ đó có thể tính toán chỉ số CGI. Kết luận đƣợc
rút ra là: có một mối tƣơng quan dƣơng giữa quản trị công ty đại chúng và tính
thanh khoản, một sự gia tăng 1% trong chỉ số quản trị công ty đại chúng đi kèm với
1.2% gia tăng trong số vòng quay giao dịch hàng năm của công ty.
Bài nghiên cứu của Majdi Karmani và Aymen Ajina (2012) về mối quan hệ quản
trị công ty đại chúng và tính thanh khoản của cổ phiếu, bằng cách phân tích dữ liệu
chéo của 155 công ty phi tài chính Pháp trong giai đoạn 2008-2009. Các tác giả
không xây dựng thành một chỉ số chất lƣợng quản trị công ty nhƣ một số bài nghiên
cứu trƣớc đó mà lấy các đặc điểm của HĐQT và tổ chức kiểm toán làm chỉ tiêu
đánh giá chất lƣợng quản trị. Tính thanh khoản của cổ phiếu đƣợc đại diện bởi:
chênh lệch giá mua-bán, khối lƣợng giao dịch và tỷ số AMIHUD. Kết luận đƣợc
4

đƣa ra: Số lƣợng thành viên của HĐQT, mức độ độc lập và khả năng chuyên sâu về
tài chính của HĐQT, và số lƣợng các cuộc họp HĐQT có tƣơng quan dƣơng với
tính thanh khoản của cổ phiếu. Tuy nhiên, cấu trúc đơn nhất của HĐQT (việc CEO
đồng thời là chủ tịch HĐQT) không có tác động tiêu cực tới tính thanh khoản.
1.3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu đƣợc thực hiện nhằm giải quyết các câu hỏi sau:
 Quản trị công ty đại chúng tổng hợp có tác động nhƣ thế nào đến tính thanh

,
+ 


=
+ 


LQT
i,t
là phƣơng thức đo lƣờng tính thanh khoản của công ty i trong năm t (Tỷ số
Turnover hoặc Tỷ số Amihud)
CGI
i,t-1
là chỉ số quản trị công ty đại chúng (CGI) của công ty i trong năm t-1
X
j,t
là các biến kiểm soát: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, độ lệch chuẩn TSSL
và tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trƣờng.
Trong đó, CGI là chỉ số quản trị công ty tổng hợp đƣợc xây dựng dựa trên 5 nhóm
nhân tố: Sự tƣớc đoạt quyền sở hữu của cổ đông thiểu số, Quy trình tuyển chọn và
cấu trúc hội đồng quản trị, Quy trình tuyển chọn và cấu trúc ban giám sát, cấu trúc
sở hữu và tính công khai, minh bạch của tình hình tài chính gồm tổng cộng 14 chỉ
tiêu. LQT là các tỷ số đo lƣờng tính thanh khoản của cổ phiếu. Các biến kiểm soát
đƣợc đƣa vào nhằm giải quyết vấn đề nội sinh khi xem xét mối quan hệ giữa quản
trị công ty đại chúng và tính thanh khoản.
Ngoài ra, để kiểm tra tính phù hợp và thuyết phục của mô hình nghiên cứu, chúng
tôi tiến hành chạy các kiểm định F-test và kiểm định Hausman cũng nhƣ xây dựng
chỉ số phụ của quản trị công ty đại diện cho Hội đồng quản trị (BOARD) và Cơ cấu
sở hữu (OWNERSHIP) để kiểm định tính bền vững của giả thuyết.

Nội dung chính đƣợc nghiên cứu trong bài là mối quan hệ giữa chất lƣợng quản trị
công ty đại chúng và tính thanh khoản của cổ phiếu, những khía cạnh chƣa đƣợc
nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. Vì vậy nhóm nghiên cứu xin đƣợc trình bày một số
lý thuyết kinh điển về quản trị công ty đại chúng cũng nhƣ tính thanh khoản của cổ
phiếu.
Catherine M. Daily, Dan R. Dalton và Albert A. Cannella Jr. (2003) đã định nghĩa
quản trị công ty đại chúng là quyết định triển khai nguồn lực nào của công ty và giải
quyết mâu thuẫn giữa vô số ngƣời tham gia vào công ty (cổ đông và nhà quản lý).
Hoặc cụ thể hơn, theo định nghĩa của investopedia.com thì quản trị công ty đại
chúng là hệ thống các quy tắc, phƣơng pháp và quy trình mà theo đó công ty đƣợc
điều hành và kiểm soát. Quản trị công ty đại chúng liên quan cơ bản đến việc cân
bằng lợi ích của các bên liên quan trong một công ty - bao gồm các cổ đông, các
nhà quản lý, khách hàng, nhà cung cấp, ngƣời cho vay, chính phủ và cộng đồng. Vì
quản trị doanh nghiệp cũng đƣa ra khuôn khổ để đạt đƣợc mục tiêu của công ty, nó
bao gồm tất cả các lĩnh vực quản lý, từ kế hoạch hoạt động và kiểm soát nội bộ đến
đo lƣờng hiệu quả hoạt động và mức độ công bố thông tin của công ty. Quản trị
công ty đã trở thành một vấn đề cấp bách sau sự ra đời của Đạo luật Sarbanes-Oxley
năm 1992 tại Mỹ, đạo luật này đƣợc đƣa vào nhằm khôi phục lại niềm tin của công
chúng vào các công ty và thị trƣờng sau sự kiện các công ty danh tiếng bị phá sản vì
gian lận kế toán nhƣ Enron và WorldCom.
Quan điểm lý thuyết chiếm ƣu thế áp đảo đƣợc áp dụng trong các nghiên cứu quản
trị công ty đại chúng là Lý thuyết đại diện (Dalton, Daily, Ellstrand, &Johnson
(1998) Shleifer & Vishny (1997)). Jensen và Meckling (1976) đề xuất lý thuyết đại
8

diện nhƣ một lời giải thích làm thế nào các công ty đại chúng có thể tồn tại, đƣa ra
giả thiết rằng các nhà quản lý quan tâm đến lợi ích cá nhân, và trong bối cảnh mà
những ngƣời quản lý đó không chịu ảnh hƣởng về vật chất bởi các quyết định của
mình. Đây là lời giải thích đạt yêu cầu đầu tiên về công ty đại chúng kể từ khi Berle
và Means (1932) chỉ ra một số vấn đề quan trọng trong việc tách biệt giữa quyền sở

Hội đồng quản trị
Cổ đông bầu ra HĐQT để làm việc thay họ, và tới phiên mình, HĐQT kiểm soát các
nhà quản lý cấp cao và phê chuẩn các quyết định quan trọng. Trong những trƣờng
hợp đặc biệt, HĐQT có thể thay thế giám đốc điều hành hoặc các thành viên khác
của ban giám đốc.
Nói chung, HĐQT có vai trò rất quan trọng, nhƣng có một số lý do để nghi ngờ về
tính hiệu quả của nó trong thực tế. HĐQT bao gồm các thành viên điều hành và
thành viên không điều hành, không làm việc cho công ty. Một mặt, sẽ là bất hợp lý
khi kỳ vọng các thành viên điều hành tự giám sát chính bản thân họ. Mặt khác, các
thành viên không điều hành có thể làm không tốt trong việc giám sát vì một số lý do
sau. Đầu tiên, họ có thể không có một lợi ích tài chính đáng kể trong công ty, và vì
thế họ chỉ đạt đƣợc rất ít từ việc cải thiện hoạt động của công ty. Thứ hai, các thành
viên không điều hành là những ngƣời bận rộn (họ có thể đảm nhiệm vị trí ở nhiều
HĐQT khác nhau) và có thể có rất ít thời gian để nghĩ cho vấn đề của công ty, hoặc
thu thập thông tin về công ty – nhiều hơn và trên cả những gì đƣợc cung cấp bởi
ban giám đốc.
Cadbury Report đã đƣa ra một số đề xuất cho việc thay đổi cấu trúc HĐQT: chủ tịch
HĐQT nên là thành viên độc lập, nên có một thủ tục bầu cử chính thức đối với
thành viên HĐQT không điều hành, tiểu ban kiểm toán nội bộ và tiểu ban thù lao
nên có thành viên đa số hoặc hoàn toàn là thành viên không điều hành. Những đề
xuất này có thể cải thiện tính hiệu quả của HĐQT nhƣng không thể giải quyết triệt
để vấn đề đƣợc nhắc đến ở trên.
Các cuộc chiến ủy quyền (proxy fights)
10

Chúng ta đã giả sử rằng các thành viên HĐQT có thể làm không tốt trong việc giám
sát ban giám đốc. Tất nhiên, nếu hoạt động của các thành viên HĐQT là đủ tệ thì cổ
đông luôn có thể thay thế họ. Việc này đƣợc thực hiện theo một phƣơng pháp chuẩn,
thông qua một cuộc chiến ủy quyền: một cổ đông bất đồng ý kiến đƣa ra một danh
sách đề cử các ứng viên để chống lại danh sách của ban giám đốc, và cố gắng thuyết

các cổ đông khác. Ví dụ, một cổ đông lớn có thể thuyết phục ban giám đốc làm
chệch lợi nhuận cho anh ta, ví dụ, bằng việc bán hàng hóa cho một công ty mà cổ
đông đang sở hữu với giá thấp hoặc mua hàng hóa từ một công ty mà cổ đông đang
sở hữu với giá cao. Một khả năng khác là cổ đông lớn sẽ đồng ý để yên cho ban
giám đốc, đổi lại bằng việc cổ phần của anh ta sẽ đƣợc mua lại cao hơn giá quy định.
Cuối cùng, một cổ đông lớn có thể tham gia vào công việc điều hành, chẳng hạn
anh ta có thể điều hành công ty một mình.
Cấu trúc tài trợ
Một phƣơng thức quan trọng khác để kiểm soát các nhà quản lý là cấu trúc tài trợ
của công ty – đặc biệt là lựa chọn nợ của công ty. Nếu một công ty vay nợ, thì điều
này sẽ giới hạn mức độ kém hiệu quả của nhà quản lý, ít nhất là khi ban giám đốc
muốn trả nợ. Ví dụ, khoản nợ sẽ khiến ban giám đốc không bành trƣớng thế lực của
mình quá nhiều bằng cách tái đầu tƣ lợi nhuận không khôn ngoan.
Lƣu ý rằng để nợ là một phƣơng pháp kiểm soát hiệu quả thì nó phải đƣợc hỗ trợ
bởi một thủ tục phá sản hợp lý, chẳng hạn, phải có một “khoản phạt” thích đáng cho
việc vỡ nợ. Một cơ chế phá sản mà “mềm mại” đối với ban giám đốc có thể có đặc
điểm không mong muốn, làm giảm động lực tránh vỡ nợ của ban giám đốc, vì vậy
làm xói mòn vai trò kiểm soát của nợ.
Trên đây là những mô tả và đánh giá của Oliver Hart về các cơ chế quản trị công ty
khác nhau của một công ty đại chúng. Ngày nay, các nghiên cứu về quản trị công ty
đại chúng đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhau chứ không giới hạn trong bốn
cơ chế trên. Các chủ đề chính trong quản trị công ty đại chúng gồm có: Công khai
và minh bạch thông tin; Xử lý mâu thuẫn quyền lợi giữa ngƣời quản lý doanh
nghiệp, HĐQT và cổ đông khác; Xử lý mâu thuẫn giữa cổ đông lớn và cổ đông
12

thiểu số; Vai trò của quản trị viên độc lập, các tổ chức kiểm toán độc lập; Chính
sách đãi ngộ với các nhà quản lý; Thủ tục phá sản doanh nghiệp; Quyền tƣ hữu;
Việc thực thi các điều khoản luật và hợp đồng.
2.1.2. Tổng quan về tính thanh khoản của cổ phiếu

phí gắn liền với giao dịch hoặc chi phí để
Các phiên bản khác nhau
của chênh lệch giá mua-
bán
13

việc mua bán diễn ra nhanh chóng
Độ sâu
Khả năng mua hoặc bán một số lƣợng
nhất định của cổ phiếu mà không ảnh
hƣởng đến giá. Một dấu hiệu của tính
thanh khoản kém là tác động thị trƣờng
đối nghịch đến nhà đầu tƣ khi giao dịch
Độ sâu của giá;
Tỷ số giao dịch;
Khối lƣợng giao dịch;
Tỷ số dòng tiền.
Độ đàn
hồi
Khả năng mua hoặc bán một số lƣợng
nhất định cổ phiếu mà có ảnh hƣởng rất
nhỏ lên giá đặt lệnh. Trong khi khía cạnh
độ sâu của giá chỉ liên quan đến khối
lƣợng giao dịch tại mức giá đặt mua và
bán tốt nhất, thì độ đàn hồi xem xét đến
độ co dãn của cung và cầu cổ phiếu
Tỷ suất sinh lợi trong
ngày;
Tỷ lệ phƣơng sai
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa quản trị công ty

thấy rằng chênh lệch giá mua-bán thì thu hẹp ở các quốc gia có quyền cổ đông tốt
hơn. Bacidore và Sofianos (2002) cũng cung cấp tài liệu cho thấy các công ty niêm
yết trên Sở Giao dịch chứng khoán New York mà có trụ sở tại Mỹ thì có tính thanh
khoản cao hơn so với các công ty nằm ngoài nƣớc Mỹ. Attig và cộng sự (2003) thì
thấy rằng việc quyền điều hành chệch đi khỏi quyền sở hữu làm gia tăng chênh lệch
giữa giá mua và giá bán ở thị trƣờng chứng khoán Canada. Brockman và Chung
(2003) cho thấy rằng chi phí thanh khoản thấp hơn đối với các “blue-chip” có trụ sở
tại Hồng Kông hơn cho các công ty đặt tại Trung Quốc, hàm ý rằng việc bảo vệ nhà
đầu tƣ tốt hơn (đối với blue-chip tại Hồng Kông) đi kèm với tính thanh khoản cao
hơn. Gần đây, Chung và cộng sự (2010) xem xét mối quan hệ giữa các thuộc tính
của quản trị công ty có liên quan đến minh bạch và tính thanh khoản trên thị trƣờng
chứng khoán Mỹ, và thấy rằng các công ty có cơ cấu quản trị công ty tốt hơn thì có
chênh lệch giá niêm yết và chênh lệch có hiệu lực nhỏ hơn. Năm 2011, nhóm tác
giả Ke Tang và Changyun Wang đã thực hiện một nghiên cứu về mối quan hệ thực
nghiệm giữa chất lƣợng quản trị công ty tổng thể và tính thanh khoản của cổ phiếu

Trích đoạn Xây dựng chỉ số quản trị công ty đại chúng tổng hợp CGI Kết quả nghiên cứu xuất đối với các doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status