Quản trị công ty đại chúng và tính thanh khoản: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Trung Quốc - Pdf 11

TÓM TẮT ĐỀ TÀI
o Lý do chọn đề tài
Một trong những đặc trưng quan trọng nhất của thị trường chứng khoán là tính
thanh khoản. Tính thanh khoản cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào mức độ bất cân xứng
thông tin trên thị
trường
tài chính. Khi đối mặt với thông tin bất cân xứng, nhà đầu tư
không thể xác định các dự án làm gia tăng giá trị doanh nghiệp vì họ khó phân biệt
được giữa các cơ hội đầu tư tốt và xấu. Họ phải đối mặt với rủi ro lựa chọn bất lợi.
Vấn đề làm thế nào để tăng tính thanh khoản của cổ phiếu đã được thảo luận bởi giới
học thuật, chuyên gia phân tích tài chính và các nhà điều hành. Đặc biệt trong khoảng
thời gian gần đây có nhiều tranh luận về tác động của cơ chế quản trị công ty đại chúng
ảnh
hưởng
đến tính thanh khoản. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại nhiều thị
trường
khác nhau trên thế giới chỉ ra một mối
tương
quan tích cực giữa quản trị công ty
đại chúng và tính thanh khoản. Việc nâng cao chất
lượng
quản trị doanh nghiệp làm
giảm tình trạng bất cân xứng thông tin, từ đó tăng
cường
niềm tin của nhà đầu tư và cải thiện tính thanh khoản của thị
trường
chứng
khoán. Bên cạnh đó, quản trị công ty tốt hơn cũng góp phần làm tăng giá trị doanh
nghiệp.
Hiện nay, quản trị công ty đại chúng là vấn đề nóng đang được quan tâm trên thế giới,
tuy nhiên số

o
Phương
pháp nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu mối quan hệ thực nghiệm giữa quản trị công ty
đại chúng tổng hợp và tính thanh khoản của các cổ phiếu trên thị trường chứng
khoán Việt Nam, nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng dựa
trên ý
tưởng
bài nghiên cứu “Quản trị công ty đại chúng và tính thanh khoản: Bằng
chứng từ thị trường chứng khoán Trung Quốc” của hai tác giả Ke Tang và
Changyun Wang (2011).
Giả thuyết chính trong bài nghiên cứu này nhằm khẳng định chất lượng quản trị
công ty đại chúng tốt hơn sẽ làm giảm bất cân xứng thông tin, tăng
cường
lòng tin
của nhà đầu
tư,
và có
tương
quan cùng chiều với tính thanh khoản của công ty.
Chúng tôi sử dụng hồi quy ảnh
hưởng
cố định (fixed effect panel regression) để
kiểm định tác động của quản trị công ty đến tính thanh khoản theo phương trình
sau:
n
LQT
i,t
= α + β CGI
i,t−1

đoạt quyền sở hữu của cổ đông thiểu số, Quy trình tuyển chọn và
cấu trúc ban quản trị, Quy trình tuyển chọn và cấu trúc ban giám sát, cấu trúc sở
hữu và tín công khai, minh bạch của tình hình tài chính gồm tổng cộng 14 chỉ tiêu.
LQT là các tỷ số đo
lường
tính thanh khoản của cổ phiếu. Các biến kiểm soát được
đưa vào nhằm giải quyết vấn đề nội sinh khi xem xét mối quan hệ giữa quản trị
công ty đại chúng và tính thanh khoản.
Ngoài ra, để kiểm tra tính phù hợp và thuyết phục của mô hình nghiên cứu, chúng
tôi tiến hành chạy các kiểm định F-test và kiểm định Hausman cũng
như
xây dựng
chỉ số phụ của quản trị công ty đại diện cho Hội đồng quản trị (BOARD) và Cơ cấu
sở hữu (OWNERSHIP) để kiểm định tính bền vững của giả thuyết.
o Nội dung nghiên cứu
Đối với hồi quy mà tỷ số turnover đóng vai trò là biến phụ thuộc đại diện cho tính
thanh khoản, hệ số
ước
lượng của CGI là 0.14 (t = 2.18) khi tất cả các biến kiểm
soát đều được đưa vào
phương
trình. Điều này có nghĩa là trung bình cứ 1% tăng
của chỉ số CGI (tổng là 100%), tỷ số turnover tính theo tháng (hoặc theo năm) của
công ty sẽ tăng 0.14% một tháng (1.68% một năm) trong năm tiếp theo.
Khi hồi quy tỷ số Amihud (đại diện cho tính thiếu thanh khoản) theo chỉ số CGI, hệ
số
ước lượng
cho CGI là -27.004 (t= -2.63) khi tất cả các biến kiểm soát
được
đưa

trường
chứng khoán.
Đối với kết quả hồi quy chỉ số phụ, hệ số hồi quy của BOARD đối với tỷ số
AMIHUD là âm và có ý nghĩa lớn hơn 10% ở tất cả các mô hình, trong khi hệ số
hồi quy của BOARD đối với tỷ số TURNOVER là dương và có ý nghĩa lớn hơn
10% ở hầu hết các mô hình. Do đó, cấu trúc thành viên HĐQT có ảnh
hưởng
tích
cực lên tính thanh khoản của cổ phiếu. Cụ thể, khi cơ cấu HĐQT đáp ứng được
càng nhiều các tiêu chuẩn quản trị công ty
như
tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, quy
mô HĐQT, tách biệt chủ tịch HĐQT và CEO…, số điểm BOARD càng lớn thì tỷ số
AMIHUD càng nhỏ, tỷ số TURNOVER càng lớn, và tính thanh khoản của cổ phiếu
tăng lên.
Hệ số hồi quy của OWNERSHIP đối với tỷ số AMIHUD là âm và có ý nghĩa lớn
hơn 1% ở tất cả các mô hình, còn với tỷ số TURNOVER là
dương
và có ý nghĩa lớn
hơn 10% ở hầu hết các mô hình. Vì vậy, có thể thấy cấu trúc sở hữu cũng có ảnh
hưởng
lên tính thanh khoản của cổ phiếu. Dựa vào kết quả này, một công ty có thể
tăng chỉ số quản trị công ty, từ đó cải thiện tính thanh khoản, bằng một trong những
cách sau: thoát khỏi sự nắm giữ của cổ đông kiểm soát là nhà nước, tăng tỷ lệ cổ
phần của nhà đầu

tổ chức, HĐQT và BGĐ nắm giữ số
lượng
cổ phiếu lớn hơn…
Kết quả kiểm định F-test và Kiểm định Hausman đều cho thấy Mô hình ảnh hưởng

ư
ơng
pháp khác
như:
chênh lệch giá mua – bán (quoted bid – ask
spread), chỉ số chất lượng thị trường (market quality index), tác động lên
giá (price impact) xác suất giao dịch dựa trên thông tin (probability of
information-based trading)… để phù hợp với từng trường hợp nghiên cứu
và bộ dữ liệu có sẵn.
- Thứ hai là hướng đề xuất về cơ chế quản trị công ty đại chúng. Quản trị
công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng
cường
khả năng tiếp cận của
doanh nghiệp với các nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực vào việc
tăng
cường
giá trị doanh nghiệp, tăng
cường
đầu tư và phát triển bền vững
cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Do đó, có thể phát triển hướng nghiên
cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty đại chúng và giá trị doanh nghiệp.
MỤC LỤC
TÓM TẮT ĐỀ TÀI i
MỤC LỤC vi
DANH MỤC BẢNG – HÌNH VẼ x
TÓM TẮT xi
CHƯƠNG
1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN
CỨU
1

27
3.2.2. Các phương pháp đo lường tính thanh
khoản
30
3.2.3. Mô tả biến kiểm soát 31
3.2.4. Mô tả mẫu dữ liệu 32
3.3.
Phương
pháp kiểm định mô hình 33
3.3.1. Kiểm định tính bền vững của cơ sở lý thuyết bằng
cách

hồi
quy tính thanh
khoản theo hai chỉ số phụ đại diện cho
hai

nhóm
nhân tố quan trọng của
quản trị công ty đại chúng bằng mô hình ảnh hưởng cố định 33
3.3.2. Kiểm định F-test (Redundant Fixed Effect) so sánh mô hình ảnh
hưởng cố định (fixed effect model) với mô hình panel (pooled) OLS 34
3.3.3. Kiểm định Hausman (Correlated Random Effects) so sánh mô hình ảnh
hưởng cố định (fixed effect model) so với mô hình ảnh hưởng
ngẫu nhiên (random effect model) 34
CHƯƠNG
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẠT
ĐƯ
ỢC


quan giữa OWNERSHIP với
AMIHUD và TURNOVER 49
4.4.2. Kết quả kiểm định F-test (Redundant Fixed Effect) 52
4.4.3. Kiểm định Hausman (Correlated Random Effects) 53
CHƯƠNG
5 KẾT LUẬN VÀ GỢI
Ý
55
5.1. Kết quả nghiên cứu 55
5.1.1. Kết quả đạt được 55
5.1.2. Hạn chế của kết quả nghiên cứu 56
5.1.3. Đề xuất hướng nghiên cứu mở rộng của đề tài 57
5.2. Đề xuất
h
ư
ớng
nâng cao chất
lượng
quản trị công ty đại
chúng

tại
Việt Nam
58
5.2.1. Về mặt quản lý nhà nước 58
5.2.2. Về mặt thể chế 58
5.2.3. Đề xuất đối với các doanh nghiệp 59
KẾT
LUẬN
60

Bảng 3.2 – Mô tả cách tính và kỳ vọng
tương
quan với biến phụ thuộc của các biến
kiểm soát
Bảng 4.1 – Thống kê mô tả các biến trong mô hình
Bảng 4.2 – Thống kê tình hình biến động của các biến trong mô hình trong giai
đoạn 2008-2012
Bảng 4.3 – Ma trận hệ số
tương
quan giữa các biến trong mô hình
Bảng 4.4a – Mối
tương
quan giữa tỷ số TURNOVER và
CGI
Bảng
4.4b – Mối
tương
quan giữa tỷ số AMIHUD và CGI
Bảng 4.5a – Mối
tương
quan giữa tỷ số TURNOVER và BOARD
Bảng 4.5b – Mối
tương
quan giữa tỷ số AMIHUD và BOARD
Bảng 4.6 – Kết quả kiểm định F-test vớiTURNOVER là biến phụ thuộc
Bảng 4.7 – Kết quả kiểm định Hausman với TURNVOVER là biến phụ thuộc
Hình 1 – Tình hình quản trị công ty đại chúng trong giai đoạn 2008-2012
Hình 2 – Biến động tính thanh khoản thể hiện qua tỷ số Turnover
Hình 3 – Phản ứng của giá chứng khoán đối với khối
lượng

quản trị công ty phụ là chỉ số về cấu trúc thành
viên hội đồng quản trị (BOARD) và Cấu trúc sở hữu (OWNERSHIP) với tính thanh
khoản của cổ phiếu. Kết quả của nghiên cứu góp phần vào việc đề ra một số giải
pháp nhằm nâng cao tính thanh khoản và cải thiện chất
lượng
quản trị công ty đại
chúng ở Việt Nam.
CHƯƠNG
1
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do chọn đề tài
Một trong những đặc trưng quan trọng nhất của thị trường là tính thanh khoản.
Trong bài nghiên cứu “How best to supply liquidity to a securities market” (1996),
Handa và Schwartz cho rằng: “Nhà đầu tư mong muốn 3 điều từ thị trường: thanh
khoản, thanh khoản và thanh khoản”. Thực vậy, tính thanh khoản của cổ phiếu có
tác động quyết định lên chính sách tài trợ của các công ty niêm yết vì nó ảnh hưởng
tới chi phí sử dụng vốn (Diamond và Verrecchia (1991)). Tuy nhiên, tính thanh
khoản lại phụ thuộc vào mức độ bất cân xứng thông tin trên thị trường tài chính.
Khi đối mặt với thông tin bất cân xứng, nhà đầu tư không thể xác định các dự án
làm gia tăng giá trị doanh nghiệp vì họ khó phân biệt
được
giữa các cơ hội đầu tư
tốt và xấu. Họ phải đối mặt với rủi ro lựa chọn bất lợi. Vấn đề làm thế nào để tăng
tính thanh khoản của cổ phiếu đã
được
thảo luận bởi giới học thuật, các chuyên gia
phân tích tài chính và các nhà điều hành. Chẳng hạn, họ tranh luận rằng cơ chế quản
trị công ty đại chúng có thể giúp cải thiện tính thanh khoản thông qua làm giảm bất
cân xứng thông tin. Có bằng chứng đáng kể cho thấy rằng các quy tắc quản trị
doanh nghiệp hoặc các hoạt động quản trị ở các cấp độ quốc gia có

khoán Hồng Kông.
Từ đó có thể thấy
được
tầm quan trọng của cơ chế quản trị công ty đại chúng đến
các khía cạnh nâng cao giá trị công ty, đặc biệt là giúp cải thiện tính thanh khoản
của cổ phiếu. Mối
tương
quan
dương
giữa quản trị công ty đại chúng và tính thanh
khoản có ý nghĩa quan trọng đối với các học giả. Trong thời gian gần đây, các tác
giả H. Chung, John Elder, và Jang-Chul Kim (2010), Ke Tang và Changyun Wang
(2011), Majdi Karmani và Aymen Ajina (2012) đã cho thấy có mối tương quan
dương
giữa chất
lượng
quản trị công ty đại chúng và tính thanh khoản của cổ phiếu
ở các thị
trường
chứng khoán Mỹ, Trung Quốc và Pháp.
Tại Việt Nam, vào năm 2010, PGS.TS Nguyễn
Trường
Sơn đã thực hiện bài nghiên
cứu “Vấn đề quản trị công ty trong các doanh nghiệp Việt Nam”, xây dựng một
mẫu điều tra gồm 400 doanh nghiệp có địa chỉ khắp cả
nước

đưa
ra những nhận
định về quản trị công ty tại các doanh nghiệp. Tuy nhiên, có thể thấy số lượng

khoản của cổ phiếu bằng cách thực hiện theo các tiêu chuẩn quản trị công ty đại
chúng mà làm giảm vấn đề bất cân xứng thông tin và ngăn chặn các giao dịch nội
bộ.
Bài nghiên cứu của Ke Tang và Changyun Wang (2011) về mối quan hệ thực
nghiệm giữa quản trị công ty đại chúng và tính thanh khoản của cổ phiếu của các
công ty phi tài chính Trung Quốc trong giai đoạn 1999 – 2004. Các tác giả đã tính
toán chỉ số CGI thể hiện chất lượng quản trị công ty đại chúng dựa trên 5 nhóm
thông tin liên quan đến quản trị công ty đại chúng: sự tước đoạt quyền lợi của các
cổ đông thiểu số, cấu trúc và quy trình của hội đồng quản trị, cấu trúc và quy trình
của ban kiểm soát, cấu trúc sở hữu, tính minh bạch và công khai tài chính, và 5
nhóm này bao gồm 17 chỉ tiêu để từ đó có thể tính toán chỉ số CGI. Kết luận được
rút ra là: có một mối
tương
quan dương giữa quản trị công ty đại chúng và tính
thanh khoản, một sự gia tăng 1% trong chỉ số quản trị công ty đại chúng đi kèm với
1.2% gia tăng trong số vòng quay giao dịch hàng năm của công ty.
Bài nghiên cứu của Majdi Karmani và Aymen Ajina (2012) về mối quan hệ quản
trị công ty đại chúng và tính thanh khoản của cổ phiếu, bằng cách phân tích dữ liệu
chéo của 155 công ty phi tài chính Pháp trong giai đoạn 2008-2009. Các tác giả
không xây dựng thành một chỉ số chất
lượng
quản trị công ty
như
một số bài nghiên
cứu trước đó mà lấy các đặc điểm của HĐQT và tổ chức kiểm toán làm chỉ tiêu
đánh giá chất lượng quản trị. Tính thanh khoản của cổ phiếu được đại diện bởi:
chênh lệch giá mua-bán, khối lượng giao dịch và tỷ số AMIHUD. Kết luận được
đưa
ra: Số
lượng

khoán Việt Nam, nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng dựa
trên ý
tưởng
bài nghiên cứu “Corporate Governance and Firm Liquidity: Evidence
from the Chinese Stock” của hai tác giả Ke Tang và Changyun Wang (2011).
Giả thuyết chính trong bài nghiên cứu này nhằm khẳng định chất lượng quản trị
công ty đại chúng tốt hơn sẽ làm giảm bất cân xứng thông tin, tăng
cường
lòng tin
của nhà đầu
tư,
và có
tương
quan cùng chiều với tính thanh khoản của công ty.
Chúng tôi sử dụng hồi quy ảnh
hưởng
cố định (fixed effect panel regression) để
kiểm định tác động của quản trị công ty đến tính thanh khoản theo phương trình
sau:

�����
�,
= +� � �𝐆𝐆
�,��−�
+ �


��
�,𝐆
+

lường
tính thanh khoản của cổ phiếu. Các biến kiểm soát
được
đưa vào nhằm giải quyết vấn đề nội sinh khi xem xét mối quan hệ giữa quản
trị công ty đại chúng và tính thanh khoản.
Ngoài ra, để kiểm tra tính phù hợp và thuyết phục của mô hình nghiên cứu, chúng
tôi tiến hành chạy các kiểm định F-test và kiểm định Hausman cũng
như
xây dựng
chỉ số phụ của quản trị công ty đại diện cho Hội đồng quản trị (BOARD) và Cơ cấu
sở hữu (OWNERSHIP) để kiểm định tính bền vững của giả thuyết.
1.5. Tính mới của đề tài
Để tiến hành nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa quản trị công ty đại chúng và tính
thanh khoản của cổ phiếu, đề tài đã tổng hợp nhiều quan điểm nghiên cứu khác
nhau trên thế giới và xây dựng một chỉ số quản trị công ty đại chúng tổng hợp dựa
trên các thông tin được công bố chứ không dựa vào các bảng khảo sát
như
các
nghiên cứu
trước
đây về quản trị công ty đại chúng tại Việt Nam (Nguyễn Trường
Sơn (2010)). Đây có thể xem là nghiên cứu đầu tiên về chất
lượng
quản trị công ty
đại chúng tổng hợp và tính thanh khoản của cổ phiếu ở thị trường Việt Nam. Kết
quả đạt
được
của đề tài đề xuất rằng các công ty có thể cải thiện tính thanh khoản
của cổ phiếu bằng cách nâng cao chất lượng quản trị công ty thông qua việc chấp
nhận các tiêu chuẩn quản trị công ty trên thế giới và tiêu chuẩn của Ủy ban chứng

Nội dung chính
được
nghiên cứu trong bài là mối quan hệ giữa chất
lượng
quản trị
công ty đại chúng và tính thanh khoản của cổ phiếu, những khía cạnh chưa được
nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. Vì vậy nhóm nghiên cứu xin
được
trình bày một số
lý thuyết kinh điển về quản trị công ty đại chúng cũng
như
tính thanh khoản của cổ
phiếu.
Catherine M. Daily, Dan R. Dalton và Albert A. Cannella Jr. (2003) đã định nghĩa
quản trị công ty đại chúng là quyết định triển khai nguồn lực nào của công ty và giải
quyết mâu thuẫn giữa vô số
người
tham gia vào công ty (cổ đông và nhà quản lý).
Hoặc cụ thể hơn, theo định nghĩa của investopedia.com thì quản trị công ty đại
chúng là hệ thống các quy tắc,
phương
pháp và quy trình mà theo đó công ty được
điều hành và kiểm soát. Quản trị công ty đại chúng liên quan cơ bản đến việc cân
bằng lợi ích của các bên liên quan trong một công ty - bao gồm các cổ đông, các
nhà quản lý, khách hàng, nhà cung cấp,
người
cho vay, chính phủ và cộng đồng. Vì
quản trị doanh nghiệp cũng
đưa
ra khuôn khổ để đạt

hưởng
về vật chất bởi các quyết định của
mình. Đây là lời giải thích đạt yêu cầu đầu tiên về công ty đại chúng kể từ khi Berle
và Means (1932) chỉ ra một số vấn đề quan trọng trong việc tách biệt giữa quyền sở
hữu và kiểm soát, và đây cũng là nền tảng cho các nghiên cứu về quản trị công ty
đại chúng (Jensen (1998))
Sự phổ biến của lý thuyết đại diện trong các nghiên cứu về quản trị công ty đại
chúng có thể là do hai yếu tố. Đầu tiên, nó là một lý thuyết cực kỳ đơn giản, trong
đó các công ty lớn
được
tối thiểu xuống còn hai nhóm
người
– nhà quản lý và các
cổ đông – và lợi ích của mỗi bên được giả định là rõ ràng và nhất quán. Thứ hai,
quan niệm về con
người
thường quan tâm đến lợi ích cá nhân và không muốn hy
sinh lợi ích cá nhân vì
người
khác thì đều có từ lâu đời và phổ biến. Cách đây hơn
200 năm, Adam Smith đã dự đoán "công ty cổ phần" (joint stock company)- một
mô hình tương tự với công ty đại chúng hiện đại – có thể không bao giờ tồn tại
trong sự khắc nghiệt của một nền kinh tế cạnh tranh, bởi vì sự lãng phí và kém hiệu
quả (Smith, 1776). Các nhà kinh tế đã tranh luận về vấn đề này trong nhiều thế kỷ,
cho đến khi Jensen và Meckling (1976) cung cấp lý do thuyết phục về vấn đề công
ty đại chúng có thể tồn tại và phát triển thịnh
vượng
như thế nào mặc cho khuynh
hướng
quan tâm đến lợi ích cá nhân của các nhà quản lý.

khi kỳ vọng các thành viên điều hành tự giám sát chính bản thân họ. Mặt khác, các
thành viên không điều hành có thể làm không tốt trong việc giám sát vì một số lý do
sau. Đầu tiên, họ có thể không có một lợi ích tài chính đáng kể trong công ty, và vì
thế họ chỉ đạt
được
rất ít từ việc cải thiện hoạt động của công ty. Thứ hai, các thành
viên không điều hành là những
người
bận rộn (họ có thể đảm nhiệm vị trí ở nhiều
HĐQT khác nhau) và có thể có rất ít thời gian để nghĩ cho vấn đề của công ty, hoặc
thu thập thông tin về công ty – nhiều hơn và trên cả những gì được cung cấp bởi
ban giám đốc.
Cadbury Report đã
đưa
ra một số đề xuất cho việc thay đổi cấu trúc HĐQT: chủ tịch
HĐQT nên là thành viên độc lập, nên có một thủ tục bầu cử chính thức đối với
thành viên HĐQT không điều hành, tiểu ban kiểm toán nội bộ và tiểu ban thù lao
nên có thành viên đa số hoặc hoàn toàn là thành viên không điều hành. Những đề
xuất này có thể cải thiện tính hiệu quả của HĐQT
nhưng
không thể giải quyết triệt
để vấn đề
được
nhắc đến ở trên.
Các cuộc chiến ủy quyền (proxy fights)
Chúng ta đã giả sử rằng các thành viên HĐQT có thể làm không tốt trong việc giám
sát ban giám đốc. Tất nhiên, nếu hoạt động của các thành viên HĐQT là đủ tệ thì cổ
đông luôn có thể thay thế họ. Việc này
được
thực hiện theo một

cho tất cả các cổ đông dưới hình thức giá cổ phiếu tăng cao. Thứ hai, ngay cả khi
một cuộc chiến ủy quyền được khởi
xướng,
các cổ đông có thể không có động lực
để nghĩ nhiều về việc bỏ phiếu cho ai vì lá phiếu của họ có vẻ
như
không thể tạo ra
sự khác biệt.
Cổ đông lớn
Giả sử rằng các cổ đông nhỏ không có động lực để kiểm soát ban giám đốc hoặc
khởi xướng một cuộc chiến ủy quyền, một số nhà bình luận đề nghị một cách cải
thiện quản trị công ty đại chúng là đảm bảo mỗi công ty có một hoặc nhiều hơn cổ
đông lớn.
Tranh luận này chỉ đúng ở một mức độ, vì nếu một công ty có một cổ đông nắm giữ
100% thì sẽ không có sự tách biệt giữa sở hữu và điều hành. Tuy nhiên, kết quả như
vậy có lẽ là không đáng mong đợi vì một số lý do. Không chỉ là lợi ích từ việc đại
chúng hóa công ty mà cả lợi ích cắt giảm rủi ro từ việc đa dạng hóa danh mục đầu

cũng mất đi.
Tổng quát hơn, trong
trường
hợp một cổ đông sở hữu ít hơn 100% cổ phần công ty,
vấn đề đại diện có thể được cắt giảm, nhưng không được loại bỏ hoàn toàn. Đầu
tiên, một cổ đông lớn vẫn sẽ không thực hiện đầy đủ công việc kiểm soát và can
thiệp vì họ không nhận
được
100% từ lợi ích thu
được.
Thứ hai, một cổ đông lớn có
thể sử dụng quyền bỏ phiếu để cải thiện vị trí của họ, mà có thể không có lợi cho

khác nhau của một công ty đại chúng. Ngày nay, các nghiên cứu về quản trị công ty
đại chúng đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhau chứ không giới hạn trong bốn
cơ chế trên. Các chủ đề chính trong quản trị công ty đại chúng gồm có: Công khai
và minh bạch thông tin; Xử lý mâu thuẫn quyền lợi giữa
người
quản lý doanh
nghiệp, HĐQT và cổ đông khác; Xử lý mâu thuẫn giữa cổ đông lớn và cổ đông
thiểu số; Vai trò của quản trị viên độc lập, các tổ chức kiểm toán độc lập; Chính
sách đãi ngộ với các nhà quản lý; Thủ tục phá sản doanh nghiệp; Quyền tư hữu;
Việc thực thi các điều khoản luật và hợp đồng.
2.1.2. Tổng quan về tính thanh khoản của cổ phiếu
Tính thanh khoản của cổ phiếu
được
định nghĩa là mức độ mà ở đó cổ phiếu có thể
được
mua hoặc bán mà không chịu ảnh
hưởng
của giá cổ phiếu. Tính thanh khoản
được
đặt
trưng
bởi hoạt động giao dịch ở mức độ cao. Cổ phiếu
được
mua hoặc bán
dễ dàng
được
gọi là cổ phiếu có tính thanh khoản cao. Đầu tư vào một cổ phiếu có
tính thanh khoản cao sẽ an toàn hơn là đầu

vào những cổ phiếu có tính thanh

Số lượng giao dịch trên
một đơn vị thời gian
Độ chặt
chẽ
Khả năng mua và bán một tài sản ở mức
giá bằng hoặc xấp xỉ tại cùng một thời
điểm. Độ chặt chẽ cho thấy rõ nhất chi
phí gắn liền với giao dịch hoặc chi phí để
Các phiên bản khác nhau
của chênh lệch giá mua-
bán
việc mua bán diễn ra nhanh chóng
Độ sâu Khả năng mua hoặc bán một số lượng
nhất định của cổ phiếu mà không ảnh
hưởng đến giá. Một dấu hiệu của tính
thanh khoản kém là tác động thị trường
đối nghịch đến nhà đầu

khi giao dịch
Độ sâu của giá;
Tỷ số giao dịch;
Khối
lượng
giao dịch;
Tỷ số dòng tiền.
Độ đàn
hồi
Khả năng mua hoặc bán một số lượng
nhất định cổ phiếu mà có ảnh hưởng rất
nhỏ lên giá đặt lệnh. Trong khi khía cạnh

nhà phân tích Lang và Lundholm (1999) báo cáo rằng một mức độ cao hơn của tính
minh bạch và chất
lượng
công bố cao hơn
tương
quan với rủi ro thông tin thấp hơn
và chi phí giao dịch nhỏ hơn. Botosan (1997) cho thấy rằng sự gia tăng công bố của
công ty làm giảm bất cân xứng thông tin giữa các cổ đông và các nhà quản lý trong
bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin và chi phí sử dụng
vốn cổ phần. Leuz và công sự (2003) cho thấy các quy định quản trị công ty đại
chúng cải thiện tính minh bạch về tài chính bằng cách giảm động lực và xác suất
bóp méo công bố thông tin của các nhà quản lý. Kết quả là các nhà cung cấp thanh
khoản, chẳng hạn
như
các nhà tạo lập thị
trường
và các nhà đầu

bên ngoài (trong
hệ thống
th
ư
ơng
mại điện tử), sẽ có những hành động để bảo vệ mình bằng cách mở
rộng chênh lệch giá mua-bán hoặc hạn chế gia nhập thị trường.
Một số nghiên cứu cũng ghi nhận rằng một số khía cạnh cụ thể của quản trị công ty
đại chúng
như
cấu trúc thành viên HĐQT, cấu trúc sở hữu, mức độ bảo vệ nhà đầu
tư… có ảnh hưởng đến tính thanh khoản của công ty. Ví dụ như, Jain (2001) cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status