Đánh giá khả năng cấp chứng chỉ rừng của Dự án lâm ngihệp xã hội sông Đà - Pdf 13



i
Hợp tác kỹ thuật Việt Nam – CHLB Đức
D Ự ÁN PHÁT TRIỂ N LÂM NGHIỆ P XÃ HỘ I SÔNG Đ À
Bộ NN&PTNT - Tổ chức hợp tác Kỹ thuật Đức GTZ

Đánh giá khả năng cấp chứng chỉ
trong chiến lược quản lý rừng cộng đồng
của dự án phát triển LNXH Sông Đà

Báo cáo tư vấn quốc tế số 29
Eleonore Schmidt

5 Kết luận 21
5.1 Nhìn chung 21
5.2 Lợi ích của việc cấp chứng chỉ 21
5.3 Khả năng có thể cấp chứng chỉ cho việc thiết kế dự án lâm nghiệp cộng
đồng 21
5.4 Các kế hoạch quản lý 22
6 Kiến nghị 23
7 Tài liệu (được lựa chọn) 24 Phụ lục 1 Đề cương công việc
Phụ lục 2 Lịch trình làm việc
Phụ lục 3 Kế hoạch quản lý
Phụ lục 4 Tiêu chuẩn chứng chỉ theo nhóm
1
Tóm tắt sơ lược
Bản báo cáo này thảo luận về những khả năng có thể để áp dụng chứng chỉ rừng trong mô
hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng được đề xuất bởi Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội
(SFDP) Sông Đà. Chuyên gia tư vấn đã đánh giá những chi phí và lợi ích của chứng chỉ
rừng cũng như các yêu cầu kỹ thuật và đặc biệt là cho các kế hoạch trong công tác quản lý.
Công tác tư vấn được tiến hành trong khoảng thời gian từ ngày 22 tháng 11 đến ngày 02
tháng 12 năm 2002.

Mục tiêu phát triển của Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội (SFDP) Sông Đà là cải thiện
điều kiện sống của cư dân địa phương trong khu vực Sông Đà cùng với sự ổn định sinh
thái. Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội (SFDP) Sông Đà đã xây dựng và thử nghiệm một
số phương pháp luận phát triển lâm nghiệp cộng đồ

việc quản lý rừng và được dùng là một hướng dẫn để đạt được việc quản lý rừng bền vững.
Điều này mang lại cho các bên liên quan sự đảm bảo chắc chắn rằng việc đáp ứng đầy đủ
các yêu cầu về tiêu chuẩn mang lại lợi ích bền vững và đạt kết quả tối ưu nhất. Và dường
như vậy, quá trình cấp giấy chứng nhận có thể được sử dụng để:
a) chứng minh và theo dõi khả năng bền vững việc quản lý rừng của các chủ rừng cỡ
nhỏ. 2
b) đưa ra một khuôn khổ làm việc để quyết định và theo dõi tính bền vững của các can
thiệp.

Trong điều kiện của Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà, cụ thể là việc cấp chứng
chỉ rừng cho phép chứng minh rằng các đơn vị quản lý rừng đơn lẻ có khả năng quản lý
các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững, và điều này sẽ mở đường hơn nữa
cho công tác giao đất và các nguồn tài nguyên. Ngoài ra, cũng được nhận thấy rằng ở
những vùng nằm trong diện quản lý các đơn vị quản lý rừng đơn lẻ cũng vẫn cần có thêm
sự trợ giúp.

Một đánh giá bên ngoài theo hình thức dựa theo việc cấp chứng chỉ sẽ cho phép dự án
chứng minh rằng “mô hình quản lý quản lý rừng cấp xã” đáp ứng được việc quản lý rừng
bền vững của các đơn vị quản rừng đơn lẻ. Bằng chứng là những người dân thôn bản có
thể tiến hành việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên bền vững đã được giao cho chính
họ và điều đó đã có thể hình thành cơ sở cho việc giao đất ở cấp thôn bản.

Cơ cấu thiết kế dự án là đầy đủ và đưa ra việc hoàn thiện các yêu cầu cấp chứng chỉ giấy
theo hệ thống FSC (Hội đồng các thành viên quản lý rừng). Bây giờ khuôn khổ đã được
xác định và sẽ là cần thiết để chi tiết và thực hiện các quy trình của các khía cạnh còn lại
quá trình lập kế hoạch quản lý rừng của Dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà.
Những điều đáng chú ý là kế hoạch quản lý rừng (phụ lục 3), điều tra lập địa rừng hay

3
Những điểm khác vẫn cần sự cải thiện trong kế hoạch quản lý là: việc miêu tả rõ hệ thống
lâm sinh cùng với những hướng dẫn dựa trên những xem xét về sinh thái cũng như cân
nhắc xem làm thế nào để các giá trị sinh thái của rừng vẫn có thể được giữ vững và cải
thiện tốt hơn.

Chuyên gia tư vấn khuyến nghị dự án nên tiến hành hình thức làm theo chứng chỉ cho đến
khi dự án kết thúc và như là một cách chứng minh các mục tiêu của dự án được đảm bảo
và cũng như làm một ví dụ để thấy làm thế nào việc quản lý rừng dựa vào cộng đồng có
thể hoạt động ở Việt Nam. Mong đợi rằng sẽ có sự chấp thuận và do đó sự mô phỏng “mô
hình quản lý rừng cấp xã” sẽ được tăng cường cao nhất nếu dự án có thể chứng minh rằng
“mô hình quản lý rừng cấp xã” của dự án đáp ứng được những yêu cầu của hệ thống chứng
chỉ rừng đã được quốc tế công nhận.

Những tiêu chuẩn sẵn có được quốc gia chấp thuận là yếu tố chủ chốt cho việc giới thiệu
nhanh chứng chỉ như một công cụ đối với việc quản lý rừng bền vững tại Việt Nam. Có
kiến nghị rằng để hỗ trợ cho việc tiếp cận trong tương lai vào thị trường quốc tế thì các tiêu
chuẩn được công nhận của Việt Nam cần phải phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn đã được
quốc tế công nhận, ví dụ như của FSC (Hội đồng các thành viên quản lý rừng).

Do đó, có một khuyến nghị mạnh mẽ là tất cả những người trong cuộc của ngành lâm
nghiệp Việt Nam cần có những đóng góp theo khả năng của mình (ví dụ như đưa ra những
đóng góp đầu vào cho những tiêu chuẩn dựa trên cơ sở kinh nghiệm của Dự án Phát triển
lâm nghiệp xã hội (SFDP) Sông Đà) cho nhóm làm việc Việt Nam những thành viên đang
xây dựng một tiêu chuẩn đáp ứng theo những yêu cầu của FSC (Hội đồng các thành viên
quản lý rừng).

Đối với việc thực hiện hệ thống theo dõi cấp quốc gia/khu vực có hiệu quả dựa trên cơ sở
các yêu cầu tiêu chuẩn về chứng chỉ thì việc thiết lập cơ chế theo dõi nội bộ nhất là trong
khuôn khổ các cơ chế hiện tại là rất lý tưởng.

chọn bao gồm khu vực xã Chiềng Hặc, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La và xã Mường Pồn,
huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu. Dự án hiện tại đang trong pha 04 và cũng là pha cuối
cùng (1/2002 – 12/2004).

Chuyên gia đã được mời trợ giúp dự án đánh giá những yêu cầu kỹ thuật, chi phí và lợi ích
khi áp dụng chứng chỉ rừng trong bối cảnh quản lý rừng dựa vào cộng đồng như SFDP đã
đề xuất.

Là một phần của đề cương công việc chi tiết, có một số nhiệm vụ sau được xác định rõ:

1. Tìm ra những lợi ích tiềm năng của việc cấp chứng chỉ cho những đơn vị quản lý rừng
đơn lẻ.
2. Giới thiệu và thảo luận các tiêu chí cho việc cấp chứng chỉ đối với các cơ quan chính
quyền liên quan và các bên có quyền lợi liên quan, và xác định rõ vai trò và trách
nhiệm cần được hoàn thành trong khuôn khổ của toàn bộ quá trình.
3. Đánh giá các kế hoạch quản lý hiện tại đối với tình trạng thích hợp hiện tại của họ đối
với việc cấp chứng chỉ.
4. Đánh giá khuôn khổ chính sách hiện tại, các khía cạnh về kỹ thuật và tổ chức để thực
hiện việc kinh doanh thành công các sản phẩm đã được cấp chứng chỉ.
5. Đánh giá các chi phí liên quan, nhu cầu đào tạo và đầu vào nhân lực cho các hoạt động
bổ sung cần thiết đối với việc cấp chứng chỉ rừng.

Xem phần phụ lục 1, đề cương công việc chi tiết của chuyên gia.
5
2 Giới thiệu về việc cấp chứng chỉ rừng
Mặc dù việc cấp chứng chỉ rừng về bản chất không phải là một hiện tượng mới nhưng việc
cấp chứng chỉ cho việc quản lý rừng chỉ đã và đang tồn tại kể từ bắt đầu những năm 90.

- Sự tự nguyện, độc lập hay có sự tham gia của bên thứ ba
- Tính kiên định về kỹ thuật và
- Không kỳ thị

Sự khởi xướng chính và áp lực định hướng phía sau việc cấp chứng chỉ rừng là việc sử
dụng nhãn mác giúp cho những chủ rừng đã được cấp chứng chỉ một lợi thế cạnh tranh
trong các thị trường quốc tế với giá hời tại Bắc Mỹ và Đông Âu.
Ở đây, những chỉ số cầu
về gỗ được cấp chứng chỉ cao hơn chỉ số cung và điều này mang lại giá bán cao hơn
và/hoặc những điều kiện hợp đồng tốt hơn. Tuy nhiên, còn có những lợi ích khác tương đối
hấp dẫn, có viễn cảnh tiếp cận với nguồn tài chính công hay tư và khả năng theo dõi nội
bộ.

Do đó, chuyên gia tư vấn mong muố
n phân biệt rõ giữa quan điểm nhìn nhận nội bộ và
quan điểm nhìn nhận bên ngoài. Quan điểm nhìn nhận nội bộ là một quan điểm về tiêu 6
chuẩn được mọi người hay một tổ chức đang thực hiện và quan tâm vào việc quản lý rừng
như là vấn đề con người trong doanh nghiệp lâm nghiệp, khách hàng của họ hay cơ quan
tài chính của họ.

Quan điểm nhìn nhận bên trong giúp việc quản lý rừng có thể đánh giá tình hình hiện tại
và quyết định những gì vẫn cần phải làm để đạt được việc quản lý rừng bền vững. Nó
giống như là “một danh sách các nhiệm vụ” với các hoạt động đã được làm thì được đánh
dấu. Quan điểm nhìn nhận bên trong dựa trên cơ sở một tiêu chuẩn được quốc tế công nhận
cho phép doanh nghiệp rừng chuẩn bị cho một chứng chỉ rừng thương mại trong tương lai.
Do đó quan điểm nhìn nhận bên trong như vậy giống như một công cụ cải tiến và theo dõi
việc quản lý rừng và quyết định khả năng bền vững của việc thiết kế và phương pháp luận
7
3 Phương pháp
Chuyên gia tư vấn đã tiến hành một cuộc rà soát xuyên suốt dự án bằng cách xem xét lại
tài liệu, tiến hành các cuộc phỏng vấn và các chuyến thăm quan thực địa để có được cái
nhìn cận cảnh trong tất cả các quy trình và hoạt động của dự án. Các hoạt động quản lý
được so sánh với các yêu cầu về tiêu chuẩn chung FSC của GFA và xác định mức độ đáp
ứng của dự án với những yêu cầu này. Kết quả thu được là danh sách liệt kê những điểm
mạnh và điểm yếu cũng với những khuyến nghị có thể được tìm thấy trong phần 4.4.

Để quyết định những cơ hội thị trường và giúp cho việc cơ cấu các tổ chức, chuyên gia tư
vấn đã tiến hành một số phỏng vấn, và xem xét sản phẩm cũng như trữ lượng tiềm năng tại
các vùng dự án.

Lịch trình làm việc đi lại của chuyên gia tư vấn được đưa vào phần phụ lục 2 4 Kết quả đạt được
Kết quả đạt được dưới đây được sắp xếp theo như những nhiệm vụ được quy định cụ thể
trong đề cương công việc chi tiết.
4.1 Những lợi ích tiềm năng đối với các chủ quản lý rừng đơn lẻ
Để rà soát từ bên ngoài hay tính được chi phí cấp chứng chỉ có hiệu quả thương mại, người
ta chấp nhận rằng phạm vi cấp chứng chỉ tối thiểu là 10.000 ha. Tất nhiên, điều này còn
phụ thuộc vào giá trị của loại giống được sản xuất và năng suất của rừng, nhưng điều này
cũng cho phép đưa ra một số vài phỏng đoán ban đầu về số lượng.


thuận “mô hình quản lý rừng cấp xã” thậm chí ở cấp quốc gia. Cuối cùng nhưng không có
nghĩa là chấm dứt, việc này sẽ giúp cho bà con thôn bản được cấp chứng chỉ trong tương
lai khi sẵn có những khối lượng lớn hơn nữa.
4.2 Vai trò và trách nhiệm của các bên đươợliên quan trong quá trình cấp chứng
chỉ
Một trong những yêu cầu cơ bản được đặt ra trong tiêu chuẩn FSC là vai trò và trách nhiệm
của những bên liên quan cần được xác định rõ ràng. Đối với một số phần trong quá trình
lập kế hoạch quản lý rừng của SFDP thì đây cũng là một trường hợp như là quá trình Quy
hoạch sử dụng đất và giao đất rừng (LUPLA). Tuy nhiên, các phần khác vẫn chưa được
phát triển và sự phân chia nhiệm vụ vẫn chưa đạt được sự thống nhất.

Bởi vậy, chuyên gia tư vấn cùng với cán bộ dự án và các đối tác đã thảo luận về nhiệm vụ
của các bên liên quan đươợ trong các bước khác nhau của quá trình lập kế hoạch quản lý
rừng đã được đề xuất. Những vấn đề cần được xem xét cơ bản trong các cuộc thảo luận là:
sự kế tiếp các hoạt động sau khi dự án không còn hoạt động nữa, các nguồn tài nguyên sẵn
có và khả năng chuyên môn của các bên cũng như trách nhiệm hiện tại của các bên đối tác.
Một vai trò quan trọng cũng được đưa ra cho các chủ rừng (người dân địa phương) ở các
giai đoạn khác nhau trong quá trình quản lý rừng. Các chủ rừng không chỉ tham gia vào
các giai đoạn khác nhau của quá trình quản lý, bao gồm điều tra lập địa và việc thực hiện,
mà còn có thể được xem như là những nhân vật chính do các bên đối tác hỗ trợ trong suốt
các giai đoạn khác nhau của quá trình quản lý rừng.

Các cuộc thảo luận đã giúp đưa ra một biểu đồ (xem biểu đồ 1) và biểu đồ này còn thay đổi
tuỳ
thuộc vào kết quả các cuộc thảo luận khác nữa và sự thông qua chính thức.

Hỗ trợ về kỹ thuật cho người dân là mấu chốt trong quá trình này và cần được đảm bảo
ngay cả khi dự án không còn hoạt động nữa. Theo như lần thảo luận vào ngày 27 tháng 11
năm 2002 thì đây cũng chính là vai trò của Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và phát triển
nông thôn sẽ ủng hộ hoàn toàn Chi cục phát triển nông nghiệp. Cũng sẽ là cần thiết khi có

M ự iêu tả chi tiế t hệ thố ng lâm sinh cùng vớ i nhữ ng
h ướng dẫ n dự a trên cơ sở nhữ ng cân nhắ c về mặ t sinh
thái
Mục tiêu quản lý đang được quyết định bởi chính người dân. Hệ thống quản lý đang được
xác định dựa trên cơ sở (một phạm vi) các sản phẩm mà họ mong muốn đạt được từ rừng.
Hệ thống quản lý hiện tại quyết định rất nhiều lượng dự trữ rừng và những chủng loại cây
được ưa chuộng hơn. Sự miêu tả tình hình hiện tại cho biết trước được dữ liệu trữ lượng
đối với các cấp sản xuất khác nhau (gỗ củi, gỗ xây dựng, vv ). Kế hoạch hoạt động hàng
năm cho biết bao nhiêu m
3
mỗi cấp sản xuất có thể được khai thác.

Tổng số lượng được khai thác là dựa trên cơ sở những hướng dẫn chung từ Bộ quyết định
hàng năm có thể khai thác bao nhiêu phần trăm trữ lượng đối với mỗi cấp mật độ. Tuy
nhiên, những hướng dẫn này không nêu lên những nguồn tài nguyên hiện trạng sẵn có,
mục tiêu quản lý lâu dài cũng như những cân nhắc xem xét cuối cùng về sinh thái. Mặc dù
các chuyến thăm thực địa đã cho thấy những người dân thôn bản tuyệt đối đã đưa vào
những cân nhắc này khi quyết định việc thu nhập hàng năm của họ (ví dụ: bản Thèn Luông
đã quyết định khai thác chỉ một phần nhỏ số lượng m
3
được cho phép của mình cho năm
nay, bởi vì họ cảm thấy rằng trái lại thì họ đã “đang khai thác quá mức”), hiện tại không
hợp lý hoặc những hướng dẫn đã được soạn thảo đang tồn tại đi ngược với những quyết
định dường như vậy. 11
Biểu đồ 2
Nhiệm vụ chính của SFDP sẽ là quyết định là làm thế nào và ai sẽ thu thập, đánh giá và
luôn cung cấp các thông tin này đối với những kết luận được đưa ra trong kế hoạch quản lý
mới.
S ự duy trì và khôi phụ c các giá trị sinh thái
Trong quá trình quản lý rừng bền vững, rừng được xem như là một hệ sinh thái mà ở đó
cây rừng chiếm phần chính nhưng không chỉ là các cấu thành của hệ thống. Các bộ phận
cấu thành khác của hệ thực vật và hệ động vật cũng như các yếu tố vô sinh như đất cũng
hình thành một bộ phận cấu thành của hệ thống rừng sinh thái. Do đó, chủ rừng được yêu
cầu trình bầy rõ những những bộ phận cấu thành khác này trong quá trình quản lý rừng của
họ. Trong khía cạnh này, ngoài cây rừng ra thì các giá trị sinh thái khác cũng cần được lưu
ý tới. ở đây bao gồm việc xác định rõ và việc bảo vệ các động vật quý hiếm, đang bị đe doạ
tuyệt chủng cũng như việc bảo tồn hay khôi phục các loài đại diện của hệ thống sinh thái
hiện tại trong trạ
ng thái tự nhiên của chúng. Trong rừng, các vùng được phân loại là rừng
phòng hộ hay rừng đặc dụng thì bất kỳ một sự can thiệp nào cũng được ngăn cấm theo luật
pháp và những chủng loại bị đe doạ được bảo vệ tuyệt đối. Tuy nhiên, không có một điều
khoản cụ thể nào được ban hành để thúc đẩy việc bảo vệ các chủng loại đang bị đe doạ
. Kế
hoạch quản lý nên bao gồm các quy định cho việc quản lý phù hợp toàn bộ giá trị sinh thái 13
những vùng này. Bước đầu tiên sẽ là đưa vào việc đánh giá để quyết định giá trị sinh thái
nào (đáng chú ý là các chủng loại quý hiếm và đang trong nguy cơ bị đe doạ) là thực tế
trong suốt quá trình đánh giá nguồn tài nguyên ban đầu. Các kết quả cùng với các hoạt
động kế tiếp sau đó có thể được đưa vào hoặc trong kế hoạch quản lý hoặc trong quy ước
bảo vệ rừng.
Nhữ ng cân nhắ c xem xét chung
Những điểm được đề cập ở trên đòi hỏi một thay đổi có tác động mạnh trong các lần thực
thi hiện tại và đòi hỏi quan trọng nhất một thay đổi từ việc quản lý rừng từ bị động sang

cuộc thảo luận về lâm nghiệp dựa vào cộng đồng tại Việt Nam. Việc thực thi và sự chấp
nhận phương pháp trên diện rộng sẽ cần một quá trình dàn xếp quan trọng với các bên
đương lợi. Đây cũng đang được coi như là một thách thức chính của SFDP.

Phần phụ lục 03 tóm tắt chi tiết các kết quả đánh giá. 14
4.4 Những điểm mạnh và điểm yếu của mô hình quy hoạch quản lý rừng SFDP
theo nguyên tắc FSC

Nguyên tắc 1: Sự phù hợp với luật và các nguyên tắc FSC
Việc quản lý rừng sẽ tôn trọng tất cả các luật có thể áp dụng được của quốc gia có sự
kiện đó, và các hiệp ước cũng như các thoả thuận quốc tế với quốc gia nào tham gia
ký kết, và tuân thủ theo tất cả các nguyên tắc và tiêu chí FSC.
Điểm mạnh chính:
- Dự án hợp tác chặt chẽ cới các cơ quan, tổ chức chính phủ mà những cơ quan này rất
quen thuộc với pháp luận hiện hành.
- Các hệ thống được thiết lập đã được các cơ quan chính quyền thông qua và/hoặc được
đưa vào trong pháp luật của tỉnh.
- Các chứng chỉ cấp đất đã cung cấp một cơ sở hợp pháp đối với quyền sử dụng đất lâu
dài và tạo ra sự cam kết từ người nông dân và do đó đảm bảo được công tác bảo vệ.

Các điểm yếu chính:
- Cán bộ đối tác cấp huyện không nhận thức đầy đủ tất cả các quy định liên quan đến
trách nhiệm của họ.

Nguyên tắc 2: Quyền sở hữu và sử dụng cũng như các trách nhiệm
Quyền sở hữu, sử dụng đất và các nguồn tài nguyên thiên nhiên dài hạn sẽ được xác
định rõ ràng, đưa vào văn kiện và được thiết lập theo đúng pháp luật.


Nguyên tắc 4: Mối quan hệ cộng đồng và quyền của những người lao động
Các hoạt động quản lý rừng sẽ duy trì hay tăng cường tình hình xã hội và kinh tế dài
hạn của những người công nhân và cộng đồng địa phương.
Các điểm mạnh chính:
- Những người dân tự đưa ra quyết định của riêng mình và quyết định về các lợi ích của
lâm sản giữa chính bản thân họ.

Các điểm yếu chính:
- Sức khoẻ và an toàn trong quá trình thực hiện các hoạt động lâm nghiệp vẫn chưa được
đảm bảo thông qua quá trình phát triển các hướng dẫn và công tác đào tạo.
- Đào tạo và hỗ trợ những người dân thôn bản cần được đảm bảo ngay cả sau khi dự án
không còn hoạt động nữa thông qua sự ban hành chính thức của đồ thị về trách nhiệm
đã được đề xuất.
- Giấy chứng nhận cấp sổ đỏ là các quyền của người sử dụng đất trong khoảng thời gian
50 năm. Vẫn chưa rõ ràng liệu có hay không và theo những điều kiện nào chứng chỉ
này có thể được rút lại, sẽ có hệ thống giải quyết tranh chấp để giải quyết những quyết
định như vậy.

Nguyên tắc 5: Các lợi ích từ rừng
Các hoạt động quản lý rừng sẽ khuyến khích việc sử dụng hiệu quả các loại lâm sản
và các dịch vụ nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế và một phạm vi rộng các lợi ích
môi trường và xã hội.
Các điểm mạnh chính:
- Lâm sản sẽ được sử dụng trực tiếp bởi người dân địa phương. Các mô hình quản lý
nhằm đánh giá một cách lạc quan các lợi ích đối với cư dân địa phương.
Các điểm yếu chính:
- Không tồn tại các hướng dẫn để giảm thiểu sự lãng phí trong khi khai thác và để tránh
khỏi những thiệt hại đối với các nguồn tài nguyên rừng khác (ví dụ như giảm những tác
động trong việc đốn gỗ).

điều này được đề cập đến trong các quy ước bảo vệ và phát triển rừng thôn bản như
một số việc đã được làm, nhưng các hoạt động cụ thể để đưa các quy ước đi vào hiệu
lực vẫn cần được quy định cụ thể hơn nữa.
- Các tài liệu hướng dẫn để chống xói mòn, bảo vệ các nguồn tài nguyên nước và giảm
thiểu những thiệt hại đến rừng trong suốt quá trình khai thác (ví dụ như việc đốn chặt
có chỉ đạo, vv….) cần được phát huy hơn nữa.

Nguyên tắc 7: Kế hoạch sử dụng và quản lý đất
Kế hoạch quản lý – thích hợp với quy mô và cường độ các hoạt động – sẽ được viết
ra, thực hiện, giữ vững theo thời gian. Các mục tiêu dài hạn về quản lý, và các biện
pháp đạt được mục tiêu đề ra, sẽ được chỉ ra rõ ràng. Kế hoạch quản lý rừng được
lồng ghép vào việc quy hoạch sử dụng đất tổng thể và được căn cứ trên các điều tra
lập địa theo định kỳ.
Các điểm mạnh chính:
- Kế hoạch quản lý được bà con thôn bản xây dựng, dựa trên cơ sở các nhu cầu của họ.

Các điểm yếu chính:
- Hiện tại, cuộc thảo luận về kiểu rừng dài hạn theo nguyện vọng, chức năng của nó và
yếu tố cấu thành các loại mong muốn diễn ra tách biệt với cuộc thảo luận về kế hoạch
quản lý rừng, và chưa có một mắt xích rõ ràng nào được thiết lập với kế hoạch quản lý
(Sổ tay đào tạo số III.1). Tuy nhiên, các hoạt động được lập kế hoạch phụ thuộc nhiều
vào các chức năng rừng phải đáp ứng được và yếu tố cấu thành loại mong muốn cần
thiết để đáp ứng các chức năng này.
- Sự mô tả hệ thống lâm sinh và các hoạt động liên đới nên được bao hàm cả trong kế
hoạch quản lý.
- Nhân tố căn bản cho việc khai thác hàng năm nên dựa trên cơ sở các dữ liệu từ việc
đánh giá các nguồn tài nguyên.
- Các tài liệu hướng dẫn đối với các kỹ thuật khai thác thích hợp (ví dụ như việc chặt
đốn có chỉ đạo) cần được xây dựng.
- Một hệ thống các sửa đổi thường lệ kế hoạch quản lý cần được xác định, bao gồm cả

với phương pháp phòng ngừa.
Những điểm yếu chính:
- Nhóm làm việc quốc gia hay một nhóm làm việc khác hoàn toàn chưa xác định được
hệ thống sinh thái rừng Việt Nam nào được xem là khu vực rừng có giá trị bảo tồn cao.
Khi việc này đã được xác định thì nên có một cuộc điều tra lập địa sinh thái trong vùng
dự án để quyết định liệu bất kỳ khu vực rừng nào cũng có một số thuộc tính của khu
vực rừng có giá trị bảo tồn cao (HCVF).

Nguyên tắc 10: Việc trồng rừng
Việc trồng rừng sẽ được lập kế hoạch và quản phù hợp với các Nguyên tắc và Tiêu
chí 1 – 9, và Nguyên tắc 10 và Tiêu chí của nó. Trong khi việc trồng rừng có thể mang
lại một loạt những lợi ích kinh tế và xã hội và có thể góp phần thoả mãn các nhu cầu
thế giới về lâm sản thì công tác trồng rừng cũng nên có thêm sự quản lý, giảm áp lực,
và thúc đẩy sự phục hồi và bảo tồn các khu rừng tự nhiên.
- Chưa thể áp dụng trong khi dự án hầu như nhằm mục tiêu vào việc quản lý các khu
rừng tự nhiên.

Chú ý: Kể từ năm 2002, việc trồng rừng cũng là một phần trong chiến lược của Dự án Phát
triển lâm nghiệp (SFDP) Sông Đà nhưng điểm tập trung chính là về quản lý rừng tự nhiên.
Phần công việc này tập trung vào quá trình lập kế hoạch quản lý rừng đối với các khu rừng
tự nhiên như Dự án phát triển lâm nghiệp xã hội (SFDP) Sông Đà đã đề xuất. 18
4.5 Các điều khoản hỗ trợ việc cấp chứng chỉ rừng trong tương lai
Đề cương công việc chi tiết được đòi hỏi để đánh giá các yêu cầu cho việc buôn bán thành
công các sản phẩm đã được cấp chứng chỉ. Trong các phần đã được đề cập trước đã giải
thích rằng việc cấp chứng chỉ thương mại không làm quan tâm trong tình hình Dự án Phát
triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà vào thời điểm này. Các chi phí khác chỉ được trả cho các
lâm sản tại thị trường quốc tế, và các sản phẩm và khối lượng được sản xuất cũng chỉ cho

độ hợp tác của của các thành phần tham
gia cần được thảo luận cùng với chính những người dân thôn bản.

Vào thời điểm này, chuyên gia tư vấn vẫn chưa thấy được những trở ngại trong cấu trúc
hiện tại cho việc thành lập nhóm. Bởi vì, việc cấp chứng chỉ theo nhóm chỉ là một hoạt
động thích hợp về mặt trung hạn, và việc giúp cho mô hình lâm nghiệp cộng đồng có thể
hoạt động là ưu tiên cao hơn cả cho dự án vào thời điểm này, chuyên gia tư vấn không đề
xuất bất kỳ một hoạt động nào vào thời điểm này.
19
4.6 Các hoạt động được đề xuất thêm đối với việc cấp chứng chỉ rừng
Chuyến tư vấn này với mục đích giúp SFDP có được cái nhìn khái quát chung các hoạt
động được yêu cầu đảm bảo rằng khả năng có thể cấp chứng chỉ của “mô hình quản lý
rừng cấp xã”.

Như đã được nói rõ từ ban đầu, tình hình hiện tại chưa thuận lợi cho việc cân nhắc từ bên
ngoài bởi vì các chi phí bỏ ra sẽ nhiều hơn lợi ích đạt được.

Tuy nhiên, để đưa ra được sự đảm bảo đối với các nhà tài trợ, các nhà hoạch định chính
sách , vv… rằng “mô hình quản lý rừng cấp xã” thực sự có thể được cấp chứng chỉ, chuyên
gia tư vấn có gợi ý hình thức làm theo việc đánh giá chứng chỉ nên diễn ra cho đến hết giai
đoạn hoạt động của dự án. Nếu như việc này được tiến hành bởi một nhân viên đánh giá
không liên quan đến các hoạt động thực thi của dự án thì một kết quả đánh giá tích cực sẽ
mang đến những nhận định đáng tin cậy đối với “mô hình quản lý rừng cấp xã” và cho
phép cán bộ dự án chứng minh được rằng các mục tiêu của dự án đã đang được thực hiện
đủ. Một lợi ích khác đối với Việt Nam đó là dự án cùng thời điểm này trình diện được rõ
việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên bền vững bởi các cộng đồng địa phương có thể
thực thi được và kết quả này mở đường cho việc giao đất và các nguồn tài nguyên thiên

chuyến thăm thực địa
Việc kiểm toán chính
Chi phí cho kiểm toán viên quốc tế 7
Chi phí cho kiểm toán viên trong
nước
7
Ngày đi lại đối với kiểm toán viên
quốc tế
2
Ngày đi lại đối với kiểm toán viên
trong nước
1
Báo cáo việc cấp chứng chỉ 20
Chi phí cho kiểm toán viên quốc tế 2
Chi phí cho kiểm toán viên trong
nước
2
Tổng cộng 14 12
4.7 Những cân nhắc, xem xét chung đối với Việt Nam
Việc cấp chứng chỉ là một công cụ cải tiến công tác quản lý, việc theo dõi cũng như kiểm
soát bên trong. Theo đó, công tác quản lý tốt hơn sẽ mang lại hiệu suất rừng bền vững và
cao hơn.

Việt Nam đang phải đương đầu với nhu cầu lâm sản ngày càng tăng trong khi cùng thời
điểm này các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần dần suy giảm. Thông qua mục tiêu 5
triệu ha rừng trồng và việc sắp đặt hạng ngạch đốn gỗ, Việt Nam đang phấn đấu đảo ngược
khuynh hướng này.

ngoài nước. Bởi lý do dường như vậy, tiêu chuẩn sẽ đưa ra hướng dẫn có giá trị cho bất kỳ
dự án lâm nghiệp nào được tiến hành trong nưóc. Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp
(FSSP) có thể cung cấp một nền tảng lý tưởng để quyết định một tiêu chuẩn và việc thực
hịên một hệ thống như vậy. 21
5 Kết luận
5.1 Nhìn chung
Việc cấp chứng chỉ rừng chứng tỏ là một công cụ hữu ích hướng dẫn các nhà quản lý rừng
đạt được việc quản lý rừng bền vững. Biết được các yêu cầu cần có của một tiêu chuẩn,
nhà quản lý rừng có khả năng đánh giá việc quản lý của mình và đạt được những định
hướng và hướng dẫn rõ ràng về các khía cạnh quản lý rừng cần có sự cải tiến. Việc cấp
chứng chỉ rừng cũng giúp cho các chính quyền một công cụ theo dõi có giá trị đảm bảo cơ
sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên được quản lý bền vững đồng thời đảm bảo được hiệu
suất rừng cao hơn.
5.2 Lợi ích của việc cấp chứng chỉ
Rà soát của dự án cho thấy hiện tại thì các lợi ích của việc đánh giá bên ngoài do các nhà
cấp chứng chỉ được công nhận thực hiện không cao hơn các chi phí đối với các đơn vị
quản lý rừng đơn lẻ, bởi vì diện tích được quản lý quá nhỏ (<10.000 ha), và các sản phẩm
cũng như khối lượng được sản xuất nhỏ và cho việc sử dụng tự cung hay chỉ đơn thuần cho
các thị trường địa phương.

Tuy nhiên, việc cấp chứng chỉ cung cấp một công cụ cho việc theo dõi và cải thiện việc
quản lý rừng và điều này dường như là một hướng dẫn để đạt được việc quản lý rừng bền
vững. Ngoài ra còn có một điều chắc chắn cho tất cả các bên liên quan rằng việc họ hoàn
thiện các yêu cầu cho tiêu chuẩn được xây dựng sẽ đảm bảo lợi ích bền vững và tối ưu.

Một đánh giá bên ngoài trong việc xây dựng hình thức làm theo chững chỉ sẽ cho phép dự
án chứng minh được rằng mô hình quản lý rừng cấp xã đảm bảo việc quản lý rừng bền

phương, khu vực và quốc gia). Tốc độ những hệ thống được chấp thuận sẽ quyết định liệu
mô hình quản lý rừng cấp xã có thể hoạt động đầy đủ trước khi dự án kết thúc không. Tư
vấn cho rằng việc thể chế hoá ở cấp địa phương có khả thi trong phạm vi thời gian hoạt
động của dự án và cũng được xem như là sự rộng mở và đóng góp của đối tác.
5.4 Các kế hoạch quản lý
Việc rà soát hệ thống kế hoạch quảnlý được đề xuất cho thấy rằng hệ thống thích ứng cho
việc sử dụng bởi các đơn vị quản lý rừng đơn lẻ. Chuyên gia tư vấn cho thấy rằng kế hoạch
quản lý không thể được xem tách biệt với một hệ thống theo dõi đầy đủ mà các dữ liệu
phản ánh trong việc xây dựng kế hoạch phát triển. Bởi vậy, điều chủ yếu là một hệ thống
theo dõi đầy đủ xác định rõ tác động của các hoạt động đang được thiết lập để theo dõi các
hoạt động lâm nghiệp và việc đánh giá nguồn tài nguyên diễn ra trước khi xây dựng kế
hoạch quản lý. Hệ thống này theo dự đoán trước sẽ được phát triển hơn nữa trong phần
công việc ngắn hạn của Ông Peter Branney vào tháng 04 năm 2003.

Những điểm khác vẫn cần được cải thiện trong kế hoạch quản lý là: sự mô tả hệ thống lâm
sinh cùng với những hướng dẫn dựa trên cơ sở những xem xét sinh thái, cũng như những
xem xét làm thế nào để các giá trị sinh thái (sự đa dạng sinh học hệ thực vật và động vật)
của rừng có thể được duy trì và cải thiện.
23
6 Kiến nghị
Chuyên gia tư vấn kiến nghị dự án tiến hành hình thức làm theo chứng chỉ cho đến khi dự
án kết thúc, như là một cách chứng minh các mục tiêu của dự án đã được thực hiện và cũng
như là một ví dụ về việc quản lý rừng cộng đồng có thể hoạt động như thế nào tại Việt
Nam. Sự chấp thuận và cũng bởi vậy sự tái tạo “mô hình quản lý rừng cấp xã” theo mong
đợi sẽ được tăng cường mạnh nếu như dự án có thể chứng minh rằng “mô hình quản lý
rừng cấp xã của mình” có thể đáp ứng được những yêu cầu của hệ thống cấp chứng chỉ
được quốc tế công nhận.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status