LUẬN VĂN CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM TÌM HIỂU VỀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT KẸO CAO SU CHEWING GUM - Pdf 13

Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CƠNG NGHỆ TP. HCM
KHOA CƠNG NGHỆ THỰC PHẨM
o0o
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU VỀ CƠNG NGHỆ SẢN XUẤT KẸO
CAO SU (CHEWING GUM)
GVHD: ThS Phạm Thị Hải Quỳnh
SVTH : Nguyễn Thị Mai Trang
MSSV : 08B1100094
Tp.HCM, tháng 11 năm 2010
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 1
Hình 1.1: Hóa thạch kẹo
cao su 5000 năm tuổi
Hình 1.2: John Bacon Curtis
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh
Chương 1: TỔNG QUAN
I.
Lịch sử về kẹo cao su (chewing gum)
[1]
Người ta cho rằng, từ hàng ngàn năm trước (ít nhất là thời kì đồ
đá) con người đã nhai kẹo cao su ở dạng tự nhiên của nó. Người
ta đã tìm thấy hóa thạch 5000 năm tuổi (dấu răng in trên nhựa
cây bạch dương) tại Kierikki, Yili-li, Phần lan. Một trong những
mẩu kẹo cao su được tìm thấy gần đây nhất là ở gần thành phố
Ellos thuộc miền Tây Thụy Điển năm 1993. Miếng kẹo 9.000
năm tuổi có trộn mật ong, đã được nhai kỹ, còn cả dấu răng.
Các loại nhựa vỏ cây vào thời kì đó được tin rằng có tác dụng
sát trùng và các đặc tính thuốc khác. Đặc biệt là phụ nữ, họ dùng để làm sạch răng. Dạng phổ
biến nhất của “kẹo cao su” là các miếng nhựa cây, cỏ ngọt, lá cây, hạt ngũ cốc, các loại sáp…
Người Hy Lạp cổ đại nhai nhựa cây Mastiche, người Maya cổ đại ở Châu Mỹ nhai nhựa cây

hương cam thảo. Vào thập niên 1880, cơ sở của ơng đã có tới 250 nhân viên (phần Santa
Anna, ơng chết trong nghèo khổ ở Mexico năm 1876, sau khi kế hoạch biến nhựa mủ thành
cao su giá rẻ thất bại). Những chiếc máy làm kẹo cao su được chế tạo từ cuối thế kỷ 19 nhanh
chóng lỗi thời do kẹo làm ra dễ bị hơi và máy thường trục trặc. Năm 1918, Ford S. Mason cho
ra đời thế hệ máy làm kẹo cao su hiện đại.
Cuối thế kỷ 19, đã có nhiều người quan tâm đến ngành kinh doanh kẹo cao su. John
Colgan thuộc Louisville (bang Kentucky, Mỹ) đã cho thêm nhựa thơm từ cây tolu (balsam
tolu), lấy tên thương hiệu là Taffy-Tolu.
Edward E. Beeman, nhà chế tạo người Cleveland, cho ra đời loại kẹo cao su mà khi ăn
sẽ “sản sinh chất pepxin giúp dạ dày tiêu hóa”. Ơng chào hàng kẹo cao su như là một phương
thuốc điều trị chứng ợ nóng. William J. White là người đầu tiên cho bạc hà vào kẹo cao su và
tăng lượng sirơ ngũ cốc, để kẹo giữ mùi thơm. Kẹo cao su hiệu Yucatan rất được ưa chuộng.
1891 William Wrigley Jr thành lập cơng ty Wrigley chun sản
xuất kẹo cao su. Cơng ty Wrigley ký hợp đồng sản xuất với Cơng ty
Zeno Gum. Đầu tiên, Zeno Gum sản xuất kẹo cao su từ sáp nhưng
Wrigley u cầu thay bằng nhựa chicle. Sản phẩm đầu tiên được đặt
tên Lotta, rồi Vassar và sau đó là Sweet Seventeen Orange. Năm 1893,
ơng tung ra chewing-gum hương trái cây và bạc hà với tên
Juicy Fruit và Spearmint.
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 3
Hình 1.5: Walter E. Diemer
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh
Năm 1906, Frank Henry Fleer cho ra đời loại kẹo
cao su có thể tạo ra bong bóng, gọi là Blibber-Blubber.
Nhưng nó chẳng gây được tiếng vang nào. Vì bong bóng
sẽ nổ sau khi ra khỏi miệng và cao su văng dính khắp
mặt. Cho đến một ngày tháng 8/1928, một cơng nhân của
Fleer tên là Walter E. Diemer đã tìm ra lời giải. Sau một
năm phụ trách pha chế, Diemer tìm được cơng thức hợp
chất giúp tạo ra bong bóng to và sau khi nổ thì lớp cao su dễ dàng bung ra, khơng dính vào

xylitol, aspartame, manitol…và được bọc
đường bên ngồi. Đơi khi nhà sản xuất
cũng thêm nhân vào sản phẩm.
Kẹo cao su chức năng (functional gum): là
kẹo cao su có chức năng cung cấp năng
lượng như: nhân sâm, trà xanh, caffeine…
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 5
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh
Kẹo cao su thuốc kẹo cao su thuốc
(medicated gum): kẹo cao su được chế biến
để làm hệ thống phân phối thuốc vào nước
bọt do đó hoạt chất của thuốc ngấm vào
máu nhanh hơn uống thuốc.
2.2 Phân loại theo hình dạng
Bảng 1.2: Phân loại kẹo cao su theo hình dạng cấu tạo
Kẹo cao su cuộn (bubble tape): kẹo cao su
sẽ được cuộn tròn trong hộp nhựa, khi sử
dụng người ta sẽ ngắt một đoạn theo nhu
cầu.
Kẹo cao su dạng thỏi (stick gum): kẹo cao
su nhai thường được sản xuất ở dạng này.
Kẹo cao su dạng viên (pellet gum): ở dạng
này chủ yếu là kẹo cao su bọc đường.
Kẹo cao su có nhân (center-filled gum): kẹo
dạng viên hoặc dạng tròn có nhân mềm
hoặc syrup bên trong.
Kẹo cao su thổi dạng miếng cắt nhỏ
(spaghetti gum).
Kẹo cứng kết hợp với kẹo cao su (candy &
gum combinations): chủ yếu là kẹo gum

Veracruz (Mexico) về phía nam tới Atlantico (Colombia).
Việc lấy mủ cây cũng giống như cây cao su. Cây chỉ được
khai thác một lần trong 3 hoặc 4 năm.
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 7
Hình 1.8: Cây, hoa, quả cây
gutta percha
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh
3.1.1.1.2. Gutta Percha :
Cây có nguồn gốc Đơng Nam Á và miền tây Australia, phân bố
từ Đài Loan về phía nam đến Malaysia, và phía đơng đến quần
đảo Solomon. Cách lấy mủ cũng giống như lấy mủ cây chicle.
3.1.1.1.3. Jelutong:
Cây thân gỗ sống ở Malaysia, Borneo, Sumatra, miền nam Thái Lan. Cũng lấy nhựa
như cây cao su.
3.1.1.1.4. Couma macrocarpa:
Có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ, tên gọi khác leche caspi. Cũng lấy nhựa như cao
su. Theo truyền thống của người Peru, nhựa cây có thể chữa được bệnh tiêu chảy và bệnh về
da.
3.1.1.2. Chất đàn hồi tổng hợp:
Thường sử dụng là Polyacetate Etilen là một chất dẻo cao phân tử, khi gia nhiệt sẽ dẻo
và mềm. Tan trong dung mơi hữu cơ. Phân tử lượng cao hay thấp phụ thuộc vào đặc tính của
chúng và phân tử lượng ảnh hưởng trực tiếp đến độ đàn hồi, bóng nhẵn của kẹo cao su. Ngồi
ra, còn sử dụng Butadien styrene, Polyvinylacetate (PVA)
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 8
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh
3.1.2. Các hình thức gum nền thường gặp
[6].
Thơng thường người ta sản xuất gum nền ở các dạng sau:
Dạng tấm (slabs)
Dạng miếng (sheets)

H
22
O
11
Sacchrose có tên hóa học là α-D-glucopyranoside hay β-D-fructofuranosyl. Nó có
khối lượng phân tử 342.3g/mol và nóng chảy ở 186
0
C.
Saccharose có tính hút ẩm nên nó ảnh hưởng đến kết cấu của một số sản phẩm thực
phẩm. Khi cần duy trì một độ ẩm nhất định trong thực phẩm thì sự có mặt của chất hút ẩm là
cần thiết, ví dụ khi làm bánh, mứt, kẹo…
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 10
Hình 1.10: Cơng thức hóa học của sorbitol và cấu trúc khơng gian của nó
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh
3.2.2. Glucose syrup
[5]
Đây cũng là thành phần quan trọng trong việc sản xuất kẹo cao su. Nó được sử dụng
để làm mềm kết cấu, tăng khối lượng, ngăn chặn sự kết tinh của đường, là chất giữ ẩm và tăng
cường hương vị cho sản phẩm.
Glucose syrup là sản phẩm của q trình thủy phân tinh bột, có thể thủy phân
monosaccharide hay disaccharide các saccharide cao phân tử hơn. Thành phần chủ yếu của
glucose syrup là: glucose, maltose, dextrin, fructose. Tùy theo mức độ thủy phân tinh bột mà
hàm lượng của bốn thành phần này có khác nhau và từ đó cũng quyết định tính chất và giá trị
sử dụng của glucose syrup. Glucose syrup là một loại đường nghịch đảo. Nó khơng bị kết
tinh, hòa tan dễ dàng trong dung dịch, có vị ngọt nhẹ. Trong sản phẩm kẹo cao su người ta
thường sử dụng glucose syrup có hàm lượng đường khử DE = 42.
3.2.3. Sorbitol
[5]
Được bổ sung vào trong q trình trộn gum như là chất tạo ngọt chính cho các sản
phẩm kẹo cao su bọc đường.

thu trong ruột và được chuyển hóa như fructose.
• Đối với cơ thể người, sau khi uống sorbitol được chuyển hóa thành fructose nhờ vào
men sorbitol-deshydrogenase sau đó chuyển thành glucose, chỉ một lượng nhỏ sorbitol
khơng chuyển hóa được đào thải qua thận, phần còn lại được thải qua đường hơ hấp
dưới dạng CO
2
. Có tính nhuận tràng với ngun lý là hấp thụ nước vào ruột già qua đó
kích thích tiêu hóa. Cơ thể cũng có cơ chế tự tổng hợp sorbitol cho cơ thể khi khơng có
mặt sorbitol trong thức ăn. Sorbitol kết hợp với kayexalate giúp cơ thể loại bỏ các ion
Kali dư thừa trong ruột-các kayexalate trao đổi ion Natri cho các ion Kali trong ruột
trong khi sorbitol giúp loại bỏ nó. Có q nhiều sorbitol mắc kẹt trong các tế bào võng
mạc, các tế bào thủy tinh thể, tế bào Schawann có thể gây nên các bệnh về giác mạc,
thủy tinh thể, hoặc các bệnh liên quan đến thần kinh ngoại biên. Ngồi ra sorbitol cũng
làm tăng thêm hội chứng ruột kích thích dẫn đến đau bụng nặng.
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 12
Hình 1.11: Cơng thức hóa học của xylitol
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh
3.2.4. Xylitol
[5]
Xylitol ngồi vai trò là chất tạo ngọt nó còn là chất chống sâu răng được bổ sung vào
kẹo cao su.
Xylitol là một loại đường rượu. Nó có tên hóa học 1,2,3,4,5 pentahydoxypentane.
Cơng thức phân tử của xylitol C
5
H
12
O
5
Xylitol có phân tử gam 152.15g/mol, điểm nóng chảy: 92-96
0

[3]
Được cho vào trong q trình trộn gum kết hợp với các loại chất tạo ngọt khác để tạo
vị ngọt dịu cho sản phẩm.
Aspartame là một methyl ester của acid aspartic hay phenylalanine dipeptide. Có tên
hóa học L-α-Aspartyl-L-Phenylalanine methyl ester. Cơng thức phân tử C
14
H
18
N
2
O
5
.
Là chất tạo ngọt khơng có saccharide được sử dụng thay thế đường trong một số loại
thực phẩm đặc biệt thực phẩm dành cho người tiểu đường và bệnh nhân bị bệnh
phenylketonuria (là bệnh di truyền hiếm gặp) bệnh ngăn chặn phenylalanine được chuyển hóa
đúng trong cơ thể. Trong thực phẩm nó được đánh số E951.
Aspartame có dư vị ngọt, hậu vị hơi đắng. Aspartame có độ ngọt cao hơn sucrose 200
lần và vị ngọt nó cũng dai hơn. Chính vì tính chất này mà mặc dù Aspartame sản sinh 4kcal/g
nhưng số lượng aspartame cần thiết cần dùng để tạo độ ngọt khơng nhiều nên lượng calories
cung cấp vào cho sản phẩm khơng đáng kể. Vị ngọt của aspartame kéo dài lâu hơn nên nó
thường được pha trộn với các chất tạo ngọt nhân tạo khác như kali acesulfame để tạo hương
vị giống đường.
Giống như các peptid khác aspartame thủy phân thành các acid amin dưới tác dụng
của nhiệt độ hoặc pH cao. Sự ổn định của Aspartame dưới tác động của nhiệt độ có thể cải
thiện khi ở trong mơi trường chất béo hoặc maltodextrin. Trong điều kiện acid mạnh hoặc
kiềm aspartame sẽ tạo ra methanol bằng phản ứng thủy phân.
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 14
Hình 1.14: Cơng thức hóa học của acesulfame potassium
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh

potassium ngọt hơn saccharose 180-200 lần.
Giống như saccharin nó có dư vị đắng, đặc biệt ở nồng độ cao. Kraft food được cấp
bằng sáng chế sử dụng natri ferulate để che vị đắng của Acesulfame potassium. Acesulfame
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 15
Hình 1.15: Cơng thức hóa học của sucralose và cấu trúc khơng gian của nó
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh
potassium thường được pha với các chất tạo ngọt khác thường là sucrose và aspartame để tạo
vị giống đường và có dư vị tốt.
Acesulfame potassium bền dưới tác động của nhiệt độ ở cả mơi trường bình thường
lẫn mơi trường có tính acid, điều này cho phép Acesulfame potassium có thể sử dụng trong
các sản phẩm nướng hoặc sản phẩm có thời hạn sử dụng dài.
3.2.7. Sucralose
[5]
Được cho vào trong q trình trộn gum kết hợp với các loại chất tạo ngọt khác để tạo
vị ngọt dịu cho sản phẩm.
Sucralose được sản xuất bằng cách thay thế nhóm hydroxyl của đường sucrose bằng
chloride. Tên hóa học 1,4,6-trichlorogalactosucrose.
Cơng thức phân tử C
12
H
19
Cl
3
O
8
Tan rất tốt trong nước, sau khi hòa tan nước có màu trắng đục. Sucralose ổn định dưới
tác động của nhiệt độ khoảng 180
0
C và một số điều kiện pH và khơng hút ẩm, nên nó được sử
dụng nhiều trong các sản phẩm nướng và sản phẩm có thời gian sử dụng dài. Trong thực

C. Ở dạng dung dịch nó có độ pH trung bình.
Đơi khi dung dịch này là giải pháp để giảm pH. Manitol khơng hút ẩm, khơng đổi màu ở nhiệt
độ cao và có hương vị dễ chịu.
Manitol ngọt bằng 69% so với saccharose. Manitol có hàm lượng năng lượng ít và chỉ
chuyển hóa khoảng 7-10%, còn lại đào thải qua đường nước tiểu. Vì vậy, manitol là chất tạo
ngọt sử dụng an tồn cho người bị tiểu đường. Ngồi ra, nó cũng có tác dụng chống sâu răng
do nó khơng bị lên men khi các vi khuẩn trong miệng tác động. Manitol cũng là một chất
nhuận tràng.
3.2.9. Maltitol
[5]
Trong sản xuất kẹo cao su đường Maltitol được thêm vào trong q trình trộn gum để
tạo vị ngọt cho sản phẩm với mục đích này nó được dùng ở dạng lỏng. Nó còn được dùng để
rắc trên bề mặt kẹo sau q trình định hình và trước khi bọc đường để chống dính và chống
hút ẩm cho kẹo, với mục đích này nó được sử dụng ở dạng bột mịn.
Maltitol là một đường rượu. Nó được tinh chế từ tinh bột thơng qua q trình thủy
phân và hydro hóa maltosse. Có tên hóa học: 4-O-D-Glucopyranosyl-D-Glucitol. Cơng thức
hóa học: C
12
H
24
O
11
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 17
Hình 1.17: Cơng thức hóa học maltitol
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh
Là chất khơng màu, trong suốt dạng huyền phù, dễ tan trong nước, là chất trung tính.
Nó là chất tạo ngọt được sử dụng thay thế cho đường sucrose trong cơng nghiệp thực phẩm
lành mạnh cho con người. Maltitol có tính nhuận trường nhưng nếu dùng ở liều lượng lớn nó
có thể là ngun nhân gây ra bệnh dạ dày khi sử dụng 100g mỗi ngày.
Đặc tính:

được tách ra khỏi mơi trường bằng cách kết tủa với dung dịch isopropyl alcohol, chất xúc tác
là KCl
Trọng lượng phân tử của xathan gum  10
6
Da, nó tan tốt trong nước. Dung dịch có độ
nhớt cao thể hiện tính chất của một chất lỏng giả dẻo và sự tăng giảm độ nhớt của nó phụ
thuộc vào nhiệt độ. Đồng thời, độ nhớt cũng chịu tác dụng của lực, dung dịch có độ nhớt cao
khi khơng chịu tác dụng của lực và khi khơng chịu tác dụng của lực thì độ nhớt giảm rất
nhanh thành dạng lỏng.
Xathan gum được coi là dẫn xuất của cellulose nhưng mạch trisaccharide của đường
manose và glucuronic acid làm cho các phân tử khơng mềm dẻo và làm cho nó tạo thành
chuỗi xoắn. Đặc điểm này giúp nó tương tác với bản thân và các chuỗi phân tử dài khác tạo
thành hỗn hợp đặc và chất keo trong nước.
Xathan gum có khả năng làm bền nhũ tương mặc dù nó khơng phải là chất nhũ hóa và
ổn định khả năng lơ lửng của các hạt nhỏ.
Xathan gum còn có tính bền nhiệt, và ổn định trong các điều kiện pH
Các dung dịch, hệ nhũ tương, gel nếu có xathan gum thường rất bền khi bị biến đổi
giữa các trạng thái lạnh đơng hay tan giá.
Xathan gum thường được sử dụng trong các sản phẩm dạng lỏng. Nó giúp cho sản
phẩm đặc lại khi chịu tác động của các tác nhân gây biến dạng như lắc, trộn, nhai. Nó cũng
giúp tạo kết cấu cho các sản phẩm. Là chất kết dính làm đồng nhất các hạt lơ lửng
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 19
Hình 1.20: Cơng thức hóa học của glycerin và cấu trúc khơng gian của nó
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh
Trong thực phẩm nó thường được sử dụng khoảng 5% hoặc nồng độ thấp hơn. Nó
được đánh số E415
3.3.2. Glycerin
[5]
Glycerin là một hợp chất polyol, là chất khơng màu, khơng mùi và nhớt. Trong cấu tạo
phân tử của nó có ba nhóm hydroxyl ưa nước, điều này giúp nó hòa tan trong nước và hút ẩm

Hình 1.22: Cấu trúc khơng gian của TiO
2
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh

Acid citric có trong rau quả chủ yếu là quả họ citrus. Ở nhiệt độ phòng acid citric kết
tinh ở dạng tinh thể màu trắng. Nó có thể tồn tại ở dạng tinh thể khan hay ngậm một nước
(monohydrat). Nó ở dạng khan khi acid citric kết tinh từ nước nóng và ở dạng monohydrat khi
nó kết tinh từ nước lạnh. Dạng monohydrat có thể biến thành dạng khan khi nung nóng tới
nhiệt độ trên 74
0
C. Acid citric cũng hòa tan (76%) trong ethanol khan tuyệt đối ở nhiệt độ
15
0
C. Khi bị nung nóng trên 175
0
C nó bị phân hủy giải phóng CO
2
và H
2
O. Tỉ trọng:
1.665g/cm
3
. Độ hòa tan trong nước 133g/100ml ở 20
0
C.
Chiết suất của đường và acid citric gần như tương đồng, điều này gây khó khăn cho
việc đo chiết suất của đường trong sản phẩm.
3.3.4. Titanium dioxide
[5]
Titanium dioxide dùng trong syrup để bọc đường cho kẹo cao su. Giúp kẹo cao su có

Gum arabic được sử dụng trong syrup để bọc đường cho kẹo cao su. Gum arabic tạo
sự kết dính các thành phần của ngun liệu syrup với nhau.
Gum arabic cũng được biết với tên gum acacia hay chargun hoặc meska là một loại
gum tự nhiên được lấy từ hai lồi của cây acacia là acacia senegal và acacia seyal. Có thể thu
hoạch từ các cây acacia mọc hoang ở Senegal, Sudan và Somalia. Việc thu hoạch nhựa cũng
giống như thu hoạch cao su. Ta sẽ tạo vết cắt trên vỏ cây và thu hoạch nhựa của nó. Được thu
hoạch vào tháng 7. Sau khi thu hoạch nhựa cây thơ sẽ được đem đi xử lý bằng cách sấy phun.
Gum arabic là loại gum tự nhiên duy nhất có khả năng hòa tan
Bản chất của nhựa cây acacia là một polysaccharides và glycoprotein nên nó có thuộc
tính của keo và chất kết dính. Có khối lượng phân tử 350.000g/mol. Độ nhớt 12ml/g Nó được
sử dụng như là chất ổn định trong thực phẩm và được đánh số E414. Độ pH ở 25% là 4.4.
Gum arabic làm giảm sức căng bề mặt của chất lỏng dẫn đến việc tăng sự sủi bọt của nước
uống có gas.
3.3.6. Bột talc
[5]
Bột talc được dùng để đánh bóng cho kẹo cao su sau khi bọc đường. Nó tạo độ bóng
cho sản phẩm.
Là khống sản magnesium silicate ngậm nước. Có cơng thức hóa
học Mg
3
Si
4
O
10
(OH)
2
. Nó thường được sử dụng ở dạng bột. Bột talc có
tính chất bảo vệ bề mặt của sản phẩm, chống trầy xước.
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 22
Hình 1.24: Một viên talc

ω-hydroxycarboxylic (13%), acid béo rượu (12%). Các hợp chất chủ yếu xuất phát từ các acid
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 23
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh
và rượu trong khoảng C26-C30. Đặc biệt sáp carnauba có chứa hàm lượng diester cao cũng
như acid methoxycinnamic. Nó khơng tan trong nước, khơng tan trong rượu ethyl nhưng tan
trong ethyl acetate ấm và xylene. Điểm nóng chảy 82-86
0
C.
3.3.9. Hương màu
Tùy theo sản phẩm mà chúng ta sẽ sử dụng hương màu phù hợp. Hàm lượng hương
màu sẽ được tính tốn cho phù hợp và tn theo quy định của TCVN. Hương, màu này sẽ tạo
ra sự đặc trưng cho từng sản phẩm. Chúng ta có thể sử dụng hương màu tự nhiên hay tổng
hợp. Nhưng theo xu thế hiện nay thì các sản phẩm theo tự nhiên sẽ có ưu thế về mặt thương
mại hơn. Do người tiêu dùng có xu hướng quay về với thiên nhiên.
SVTH: Nguyễn Thò Mai Trang 24
Ngun liệu
Ép đùn
Trộn
Trữ lạnh
Bao gói
Làm lạnh
Định hình
Bảo quản
Kẹo
cao su
nhai
Đồ án tốt nghiệp Ths. Phạm Thò Hải Quỳnh
Chương 2: QUY TRÌNH SẢN XUẤT KẸO CAO SU
I. Quy trình sản xuất
[4]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status