THỰC TRẠNG NỢ CÔNG, CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG LÊN NỢ CÔNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ CÔNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM QUA NHIỀU GÓC NHÌN - Pdf 13


MỤC LỤC
Tóm tắt 1
1 GIỚI THIỆU 2
1.1 Lịch sử nợ 4
1.1.1 Nguyên nhân khách quan 4
1.1.2 Nhân tố chủ quan 7
1.2 Liệu nợ công có thúc đẩy tăng trưởng? 9
1.3 Nợ nội địa và tăng trưởng 12
2 SƠ LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÓ 16
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng 16
2.1.1 Thuế 16
2.1.2 Cấu trúc lợi ích giữa những cử tri 17
2.1.3 Thể chế và chính sách 17
2.1.4 Kết hợp 18
2.2 Các lí thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng 20
2.2.1 Các lí thuyết về tăng trưởng và khủng hoảng 20
2.2.2 Nợ ở các quốc gia đang phát triển - hữu ích hay cản trở 25
2.3 Những tranh luận về nợ nội địa 31
2.3.1 Những lý thuyết tranh luận về nợ công nội địa 31
2.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm 36
2.3.3 Các giả thuyết có thể kiểm chứng 39
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1 Phương pháp nghiên cứu 42 3.2 Dữ liệu và mô hình 42
3.2.1 Các nhân tố tác động đến nợ tại Việt Nam 42

01
WEO
World Economic Outlook
Triển vọng kinh tế thế giới
02
WDI
World development Indicators
Chỉ số phát triển thế giới
03
IMF
International Monetery Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
04
WB
World Bank
Ngân hàng thế giới
05
IFI
International financial Institution
Viện nghiên cứu tài chính
quốc tế
06
SSA
Sub Sahara
Các quốc gia vùng hạ Sahara
06
GIBC
Government’s intertemporal
budget constraint
Giới hạn ngân sách liên thời

quân đầu người với độ trễ là 1
61
Bảng 3.10 : Kết quả hồi quy theo phương pháp OLS với biến DOMdebt
63
Bảng 3.11 : Kết quả tái hồi quy theo phương pháp OLS với biến DOMdebt
64
Bảng 3.12: kết quả kiểm định theo phương pháp OLS với biến DD2dep
66
Bảng 3.13: Kết quả tái hồi quy theo phương pháp OLS với biến DD2dep
67 DANH MỤC HÌNH

Hình
Trang
Hình 1.1: Thống kê nợ của thế giới từ 1980-2011.
2
Hình 1.2: Thống kê nợ của thế giới theo % trong giai đoạn 1980-2011.
3
Hình 1.3: Tỉ lệ nợ công trên GDP 2011 Việt Nam.
4
Hình 1.4 : Tỷ trọng của nợ nội địa đối với tổng nợ công cho các quốc gia
thị trường mới nổi và các quốc gia đã phát triển từ năm 1900 đến năm

ra ở nhiều nước gây hoang mang cho giới đầu tư. Tại Việt Nam tỉ lệ nợ công trên GDP
lớn hơn 50% (năm 2011) cùng với sự kiện rối ren về khối nợ khổng lồ do chính phủ
đảm bảo của tập đoàn Vinashin đã thực sự gây chấn động. Trước hiện tượng này, việc
tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng lên nợ công và liệu nợ công có thực sự đe dọa sự
phát triển bền vững của quốc gia hay không thực sự rất quan trọng. Dựa trên những
tiền đề lí thuyết đã được công bố trước đó trong và ngoài nước, kết quả cho thấy thuế,
cấu trúc thuế phức tạp, chính sách tài khóa yếu kém, rủi ro tỉ giá, đầu tư kém hiệu
quả… có ảnh hưởng lớn đến khoản nợ vay của chính phủ, đặc biệt là nợ nước ngoài.
Bên cạnh đó, khoản nợ vay lớn cũng gây gánh nặng lên tăng trưởng kinh tế thông qua
thâm hụt tài khóa. Ý tưởng này đã được ủng hộ mạnh mẽ qua mô hình kiểm định tại
Việt Nam với kết quả tương quan nghịch chiều rất rõ ràng giữa thâm hụt và tăng
trưởng. Từ mối tương quan nghịch này lại dẫn đến vòng lẫn quẩn nợ công-thâm hụt-
hạn chế tăng trưởng. Bài nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào các quốc gia đang phát
triển để tiện liên hệ với tình hình Việt Nam. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn ước tính tác
động của nợ nội địa đối với tăng trưởng thông qua dữ liệu nợ công của Việt Nam trong
suốt thời kỳ đổi mới từ năm 1990 đến năm 2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy biến số
nợ công nội địa được xác định là có ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP bình quân đầu
người tính theo chuẩn PPP tại Việt Nam, và có mối quan hệ nhân quả với lạm phát và
tiết kiệm.

2
1 GIỚI THIỆU
Khi tiến hành nghiên cứu về nợ công bao gồm cả nợ của khu vực công và nợ không
thuộc khu vực công nhưng do chính phủ bảo đảm, chúng ta thấy được những con số hết
sức ngạc nhiên từ các nền kinh tế phát triển và đang phát triển trên toàn thế giới.
Hình 1.1: Thống kê nợ của thế giới từ 1980-2011.


2
2
2
2
1
5
5
6
7
7
6
5
6
8
9
16
17
13
14
12
17
26
29
33
33
37
39
38
43
49

87
91
83
74
67
68
74
79
82
1
1
1
2
2
2
3
3
3
2
7
9
10
13
11
13
12
11
14
17
35

1996
1998
2000
2002
2004
2006
2008
2010
>100%
40%-100%
0-40%
>=0%
3
quốc gia nợ <= 0% chỉ có 1 quốc gia. Theo số liệu phần trăm thì có hơn 50% quốc gia
có nợ trên 40%. Số liệu theo phần trăm được trình bày trong hình 1.2 dưới đây.
Hình 1.2: Thống kê nợ của thế giới theo % trong giai đoạn 1980-2011.

(Nguồn số liệu: tổng hợp từ cơ sở sữu liệu WEO của IMF)
Bảng thống kê trên đây cho thấy một bức tranh bao quát hơn về tình hình nợ của các
nền kinh tế. Ta thấy vào năm 2011 có khoảng 8% (13 quốc gia) có nợ trên 100%, 48%
(82 quốc gia) có nợ trên 40%. Tỉ lệ này rất cao so với các năm trước đó. Tỉ lệ này thực
tế còn cao hơn nếu chỉ tính riêng những quốc gia đang phát triển.
Hiện tại tình trạng nợ tại Việt Nam đang rất được chú ý vì khoản nợ vượt hơn 50 %
GDP. Đây là một trong những nguyên nhân khiến các tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy
tín trên thế giới hạ bậc tín nhiệm của Việt Nam khiến cho dư luận lo lắng trong suốt
thời gian qua.
0%

1%
38%
38%
46%
50%
47%
35%
29%
35%
40%
41%
36%
33%
23%
23%
19%
23%
31%
31%
33%
30%
25%
25%
23%
26%
29%
36%
46%
51%
52%

39%
40%
43%
46%
48%
8%
8%
8%
14%
13%
12%
18%
18%
15%
9%
16%
18%
18%
21%
17%
18%
14%
12%
14%
15%
24%
23%
21%
21%
17%

1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
>=0%
0-40%
40%-100%
>100%
4
Hình 1.3: Tỉ lệ nợ công trên GDP 2011 Việt Nam.


52.847
50.338
0
20
40
60
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
d(%)
5
họ đã bị bảo hòa, ngành sản xuất ở chính quốc hoàn toàn trông chờ vào thị trường các
quốc gia đang phát triển hay thuộc địa cũ, mà các thị trường này lại không có đủ năng
lực tài chính để tiếp nhận hàng hóa, nên chính quốc đứng ra cấp tín dụng bảo đảm cho
những quốc gia là thị trường lớn với mong muốn cứu các nhà đầu tư và ngành sản xuất
của quốc gia mình. Loại tín dụng này càng được lạm dụng nhiều hơn với mục tiêu
chính trị trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Sau đó, qua hai lần tăng giá dầu thô, khuynh hướng chung của kinh tế thế giới là chi
quá khả năng, người ta gần như không còn sợ nợ nữa nên các chính phủ không e ngại

diện của OPEC họp tại Teheran dưới sự chủ toạ của quốc vương Iran (bị lật đổ năm sau
đó) quyết định tăng giá dầu thô mỗi thùng từ 3,60 đô la lên 11,54 đô la. Với số lượng
xuất cảng 30 triệu thùng mỗi ngày, các hội viên OPEC thu thêm 88 tỷ đô la mỗi năm.
Khoảng 50% số lợi nhuận khổng lồ này được gửi tại các ngân hàng thương mại trên
nước Mỹ hay tại châu Âu. Với số tiền khổng lồ đó các ngân hàng thương mại nói trên
phải tìm nơi cho vay với số lượng lớn để kiếm lời. Vào thời gian này, họ biết được các
quốc gia đang phát triển vỗn dĩ rất thiếu tiền, nên các chủ nợ tỏ ra khá dễ dãi: cho vay
mà không cần biết tiền sẽ dùng vào mục tiêu nào; cũng chẳng cần xem các con nợ có
đủ khả năng trả lãi trả vốn hay không. Sự dễ dãi bắt nguồn từ lượng tiềng lớn do khủng
hoảng dầu hỏa gây ra là trong những nguyên nhân quan trọng giải thích cho những
khoản nợ lớn tại các quốc gia đang phát triển.
 Cuộc khủng hoảng dầu hỏa lần thứ hai : Chỉ mấy năm sau, trong khi nền kinh tế
của các nước đã phát triển và các nước đang phát triển chưa được phục hồi, thì năm
1979, OPEC lại tăng giá dầu một lần nữa sau khi Iran trở thành một một nước cộng hoà
Hồi giáo. Khoảng 65% lợi nhuận thặng dư của các hội viên lần này cũng lại được đưa
vào tay các ngân hàng thương mại phương Tây để từ đó tìm cách đến các nước đang
phát triển. Không được ưu đãi như lần trước, lần này các nước đang phát triển phải
chấp nhận một mức lãi suất được thả nổi, bắt đầu chỉ 6-7% sau đó tăng dần lên 20-
22%.
 Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới: Thêm vào yếu tố lãi suất cứ tăng dần, các
con nợ lại gặp thêm một bất lợi khác. Đó là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế
thế giới vào đầu thập niên 1980 khiến nguồn thu ngoại tệ chủ yếu từ hoạt động xuất
7
khẩu của các nước đang phát triển bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Một mặt, giá nguyên
liệu xuất khẩu sụt giảm mạnh mẽ. Mặt khác, chúng lại bị đánh thuế rất cao khi nhập
vào các nước phát triển. Điều này khiến cho các nước đang phát triển gặp khó khăn lớn
trong việc kiếm ngoại tệ để trả lãi và nợ đáo hạn, gây sức ép lên nguồn tài trợ các dự án

phủ nhiều lúc cần một khoản ngân sách lớn để thực hiện chính sách đảo chu kì hay
thực hiện chi các khoản cần thiếp khẩn cấp. Và nợ tạo điều kiện cho chính phủ thực
hiện điều này hiệu quả hơn là dựa vào thuế. Vì trong nền kinh tế tăng trưởng, tăng và
giảm thuế thường xuyên có thể gây ra giảm sút hiệu quả và gia tăng bất ổn kinh tế.
 Tính bền vững: Một quốc gia muốn phát triển bền vững cần chú ý lớn đến ổn
định vĩ mô và ở khía cạnh này nợ có vẻ ưu việt hơn thuế và in tiền. Chúng ta có những
chứng cứ tin cậy về việc in tiền có thể dẫn đến lạm phát cao và bất ổn về thuế liên tục
gây ra sai lệch thông tin lên quan đến giá cả và gây ảnh hưởng xấu lên đầu tư.
Một điều khác chúng ta phải lưu ý là nợ cần được trả theo định kì. Và thuế là nguồn
thu nhập chính của chính phủ để trả nợ, do đó vay mượn chỉ đơn giản giúp trì hoãn
thuế. Vì thế, chính phủ cần xem xét kĩ lưỡng nên sử dụng nguồn tài trợ nào dựa trên
việc hiểu rõ những chi phí liên quan, lợi và hại của mỗi nguồn. Những tính toán này
khá phức tạp vì ví dụ như chính phủ đầu tư vào các yếu tố nền tảng
1
và đạt hiệu quả
tăng trưởng cao hơn thì lợi ích bao gồm không chỉ là nguồn thu phí từ người dùng mà
còn là thuế thu được trong tương lai còn cao hơn do tăng trưởng kinh tế. Nói cách khác
nền kinh tế tăng trưởng mạnh, các loại thuế thu nhập doanh nghiệp, cá nhân hay giá trị
gia tăng, … đều cao hơn do công ty và cá nhân tương đối giàu có hơn. Và rõ ràng
chính phủ không thể bỏ qua việc tính toán lợi ích lớn này vào việc phân tích nên dùng
nguồn tài trợ nào.
Khi thảo luận về những nhân tố tác động lớn đến nợ công của quốc gia, chúng ta không
thể bỏ qua một nhân tố vô cùng quan trọng là hoang phí và tham nhũng. Một sự kiện
sử dụng nợ không hiệu quả xảy ra, khi không kể đến các ảnh hưởng kinh tế bất lợi từ
bên ngoài, thì chính những nhà lãnh đạo thiếu trách nhiệm xây dựng nên những chương

1
Các yếu tố nền tảng là những yếu tố cần thiết cho nền kinh tế hiệu quả. Có thể hiểu một cách tổng quát rằng các
nhân tố nền tảng là các nhân tố cấu trúc kết nối lại tạo nền tảng cho sự phát triển của cả hệ thống. Đó có thể là hệ
thống giao thông, thông tin liên lạc, nguồn nước, và nhân tố tương tự như thế.

nợ cũng tạo điều kiện ổn định thuế, thực hiện chính sách tài khóa phản chu kì, từ đó
10
đảm bảo một biên lợi nhuận và chi phí hợp lí cho những dự án tăng trưởng trong dài
hạn.
Vì thế chúng ta có lí do để tin rằng nếu chính phủ vay mượn và chi tiêu thận trọng sẽ
gặt hái những lợi ích này trong thực tiễn. Nhưng thực tế thì có rất nhiều bất ổn vĩ mô
lớn trong suốt thập niên 80, 90 liên quan đến nợ công; đặc biệt là có khủng hoảng kinh
tế tài chính
2
. Khi tình hình tài chính một quốc gia đi xuống xảy ra ở Argentina và Hy
Lạp các nhà đầu tư nước ngoài liền bán tháo trái phiếu, tạo áp lực đẩy lãi suất vay
mượn tiếp theo lên cao. Điều này kéo theo sự mất giá của đồng tiền, càng khiến cho
quốc gia đó khó trả nợ hơn.
Theo tạp chí Forbes, Hy Lạp có thể không lo tiền mất giá vì đã sử dụng đồng Euro,
nhưng thực tế tình trạng còn tệ hơn vì nước này không thể tự do in tiền để thoát khỏi
tình trạng khó khăn tài chính. Argentina từng bị vỡ nợ vào năm 1989 rồi đến 2002 lại
vỡ nợ tiếp. Cho đến nay nước này vẫn còn đang chật vật trả nợ nước ngoài. Trong cuộc
khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, một số quốc gia như Indonesia cũng ở trên
bờ vực vỡ nợ, nhưng được IMF “giải cứu”. Nợ công là nguyên nhân chính gây ra bất
ổn tại Nga 1998, Achentina 2001 hay tạo ra những tác động xấu chính yếu như ở
Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan suốt 1997-1998. Cụ thể, tháng 8 năm 1982
sau khi Mexico báo cho các chủ nợ biết không thể tiếp tục trả tiền lãi, thì Brazil,
Argentina và nhiều nước khác nữa tuyên bố ngưng trả nợ ngoại quốc. Cuộc khủng
hoảng nợ nần của các nước đang phát triển được xem như đã mở màn. Khủng hoảng
nợ nước ngoài trong thập niên 80 và tự do hóa tài chính đang gây tranh cãi trong thời kì
đầu thập niên 90 đã làm nổi lên những câu hỏi về lợi ích của mô hình tăng trưởng dựa
trên tài trợ từ nước ngoài từ thị trường vốn quốc tế ở những quốc gia đang phát triển,


1992
2002
India
156
380
Lebanon
70
177
China
68
366
Jamaica
181
149
Brazil
165
284
Argentina
26
126
México
118
280
Uruguay
48
109
Korea
61
232*

và Brazin và Thổ Nhĩ Kì đều công bố khoản nợ ròng dựa trên tài sản của ngân hàng trung ương.
12
Poland
44
72
Philippines
81
89
Indonesia
40
86
(Nguồn: Global Development Finance (World Bank), World Economic Outlook (IMF) và những ước
lượng của Gill và Pinto (2005)).
Có nhiều bằng chứng cho rằng tiếp cận với thị trường vốn quốc tế và gia tăng nợ công
nói chung có khuynh hướng gây ra nhiều bất ổn hơn là thúc đẩy tăng trưởng. Nợ công
bao gồm nợ nước ngoài và nợ nội địa. Người ta thường chú ý vào nợ nước ngoài nhiều
hơn với lí do nợ nước ngoài có độ bất ổn cao hơn, bị ảnh hưởng bởi rủi ro tỉ giá, lạm
phát và những nhân tố vĩ mô cùng chính trị khác và thường xem nợ nội địa an toàn hơn
nợ nước ngoài. Vì lí do đó chúng tôi bắt đầu tìm hiểu về vai trò của nợ nội địa đối với
tăng trưởng của nền kinh tế.
1.3 Nợ nội địa và tăng trưởng
Vấn đề nợ nội địa khu vực công tại các nước có thu nhập thấp (LICs) và các thị trường
mới nổi (EMS) đã là những tranh luận gay gắt đối với các nghiên cứu hàn lâm về kinh
tế và các tổ chức ban hành chính sách. Người ta càng lúc càng xoáy sâu vào trọng tâm

công cụ nợ nội địa đối với chính sách tiền tệ và hệ thống tài chính, cũng như sự phát
triển của các tổ chức thực thi chính sách. So sánh với những dạng khác của cấu trúc tài
chính vốn, thị trường dựa vào vay mượn nội địa dường như có sự đóng góp nhiều hơn
vào sự phát triển ổn định kinh tế vĩ mô – làm sụt giảm lạm phát và lảm giảm tính nhạy
cảm của thị trường đối với những điều kiện xảy ra bên ngoài và những cú sốc tiền tệ
trong nước, làm gia tăng tiết kiệm trong nước và đầu tư khu vực tư. Lý thuyết này có
vẻ như được hỗ trợ bằng kinh nghiệm của các quốc gia EMS có tốc độ tăng trưởng
nhanh như là Ấn Độ, Trung Quốc và Chi Lê, những quốc gia này đã duy trì nợ vay
mượn từ bên ngoài ở một mức độ tương đối thấp và tránh được các khủng hoảng tài
chính lớn và tránh được các vấn đề về tài khóa nghiêm trọng.
Những nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã nghiên cứu về tác động của thị trường nợ
nội địa tại các nước LICs và các nước EMS đã tạo ra một cái nhìn mới về sự ổn định
tài chính, trong khi những phân tích trực tiếp đối với mối quan hệ giữa nợ công và tăng
14
trưởng kinh tế từ trước đến giờ chỉ gói gọn trong nghiên cứu về nợ nước ngoài
4
. Có rất
ít những nghiên cứu chuyên sâu về tác động của nợ nội địa đối với tăng trưởng vì
những lí do sau:
- Sự thiếu hụt về dữ liệu: dữ liệu đáng tin cậy về nợ nội địa vốn dĩ không tồn tại
vì những nguyên nhân chính trị và cũng không cho phép sử dụng đối với các nghiên
cứu thực nghiệm
- Một nhận thức phổ biến trong mọi người rằng nợ nội địa là “mang tính chất nội
sinh” hơn là các sự lựa chọn của các biến ngoại sinh kinh tế mà chính phủ có thể tinh
chỉnh để ảnh hưởng các kết quả tài chính vĩ mô: khả năng phát hành nợ nội địa của các
quốc gia được “xem xét” hoàn toàn bởi mức độ thu nhập đầu vào của nó, trữ lượng tiết
kiệm và chất lượng thể chế.
2 SƠ LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÓ
Dựa vào ba câu hỏi nghiên cứu chính của bài, chúng ta tìm hiểu những nghiên cứu
trước đó theo ba hướng là các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công nói chung, nợ công ảnh
hưởng thế nào đến tăng trưởng và nợ công nội địa tác động đến tắng trưởng ra sao.
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng
Hiện tượng nợ công tăng mạnh ở các nước đặc biệt là các quốc gia đang phát triển
được chú ý sau chiến tranh thế giới lần 2 và được các học giả quan tâm. Có rất nhiều
nghiên cứu về nợ công nhưng trong phạm vi phần này, chúng ta chỉ quan tâm chủ yếu
đến nhân tố chính yếu nào tác động lên nợ công.
2.1.1 Thuế
Các chuyên gia về kinh tế có nhiều góc nhìn khác nhau về cách thức thuế tác động lên
nợ công, đặc biệt là Robert J.Barro, ông đã có một chuỗi nghiên cứu liên quan vấn về
này. Barro (1979) đã nghiên cứu về những nhân tố quyết định của nợ công. Ông cho
rằng việc đảm bảo một tỉ lệ thuế ổn định theo kì vọng dẫn đến thâm hụt tài khóa và gia
tăng nợ công chính là dùng để tài trợ cho thâm hụt tài khóa đó. Ông đề cặp đến lý
thuyết thuế tối ưu ảnh hưởng đến nợ công, những phản ứng khác nhau về sự không
chắc chắn về chi tiêu của chính phủ trong tương lai và thu nhập quốc gia… Ông thực
hiện cải tiến cách tính lạm phát kì vọng để liên hệ đến hiệu ứng thay đổi trong lãi suất
thực để kiểm tra trực tiếp những kế hoạch lên quan đến việc không dự đoán được thuế
suất của chính phủ. Và ở nghiên cứu này ông đạt được hiệu quả nhất định nhưng chỉ
chủ yếu tập trung lên dữ liệu tại Mĩ. Sau đó ông còn phát triển những lí thuyết này ở
những nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế dựa trên dữ liệu xuyên quốc gia được công bố
vào năm 1985, 1986 với những kết luận tương tự.
Robert J. Barro (1995)
5
cho rằng nơ tối ưu được tính toán từ thuế. Nếu thuế không thay
đổi (nghĩa là những lợi ích bao gồm trong gía cả không thay đổi) và thỏa mãn thuyết
tương đối của Ricardo (chỉ cần quan tâm đến giá trị hiện tại của thuế), mức độ và giới

Roubini và Sachs (1989ab); Edin và Ohlsson (1991); de Haan và Sturm (1994, 1997);
Borrelli và Royed (1995); Alesina và Perotti (1995b), de Haan et al. (1998) là những
đại diện tiêu biểu cho trường phái tập trung vào sự yếu kém của chính phủ và sự chậm
trễ trong ổn định tài khóa này. Riêng Von Hagen và cộng sự nhấn mạnh những quy tắc
tổ chức của việc hoạch định ngân sách như Von Hagen (1992); Von Hagen và Harden
18
(1994, 1996); Hallerberg và von Hagen (1996); de Haan et al. (1997). Heller (1998)
nhấn mạnh thay thế cơ chế hai Đảng và sự khác nhau về người ủng hộ giữa hai Đảng
có quyền lập pháp. Nghiên cứu này kết hợp nghiên cứu trong việc điều chỉnh bất cân
xứng giữa lí thuyết phát triển và những gì diễn ra trong thực tế, vận hành và đánh giá
rất nhiều giải thích trái chiều về khi nào và nơi nào nợ công chồng chất và tăng qúa
nhanh, sử dụng cơ sở dữ liệu của các quốc gia độc lập phát triển thời kì hậu chiến.
Nghiên cứu này được công bố và đạt được nhiều sự ủng hộ.
2.1.4 Kết hợp
Robert J. Franzese, Jr. (2001) lại không thiên về bất cứ một lí giải cụ thể nào như các
nghiên cứu ở trên. Ông liên hệ hết những nghiên cứu lí thuyết đã được thực hiện trước
đây để giải thích sự kiện nợ công tích lũy bùng nổ ở những năm gần đây cũng như nợ
đồng loạt tăng ở nhiều quốc gia. Giá trị thực tiễn của lí thuyết kinh tế chính trị có một
độ trễ ở mô hình ổn định thuế và kinh tế có điều kiện (0). Nghiên cứu này cũng tổng
hợp những nghiên cứu gần đây bắt đầu với điều chỉnh bất cân bằng, điều hành và kiểm
tra 9 lí thuyết kinh tế chính trị liên quan đến nợ công. Những lí thuyết đó là:
1. (1a) Ảnh hưởng (influence)
2. (1b) Những quan điểm phủ quyết về việc chính phủ phân quyền, định hướng
phân cực và trì hoãn sự ổn định (veto actor conceptions of government
fractionalization and polarization andndelayed stabilization).
3. (2) Phân phối của cải và tuổi tác và chuyển giao chức năng của nợ liên thế hệ
hay trong cùng một thế hệ (wealth and age distributions and the inter- and intra-

vỡ nợ, Sau đó là độc lập và ảo tưởng tài khóa. Thứ ba là mô hình chuyển đổi chức năng
nợ trong hay xuyên thế hệ. Tiếp theo là bầu cử địa phương đa dạng, chu kì ngân sách
theo người ủng hộ và bầu cử, chính phủ phân quyền, phân cực trì hoãn sự ổn định.
Tính linh động và bảo thủ của ngân hàng trung ương hạn chế tài trợ nợ từ bên ngoài, sử
dụng nợ có chiến lược.
Thực hiện các nghiên cứu như thế ông thu được các kết quả sau: thâm hụt cùng chiều
nợ công; tỉ lệ thất nghiệp cùng chiều nợ công và thâm hụt; tỉ lệ tăng trưởng thực tương
quan nghịch với nợ công và thâm hụt; chênh lệch lãi suất thực kì vọng và tăng trưởng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status