TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỆ
ĐÀO
TẠO SAU ĐẠI
HỌC
TIỂU LUẬN: MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Đề tài:
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY
BAO NHIÊU ?
GVHD: PGS. TS Lê Thị Lanh
Khóa 22 – Lớp NH Đêm 1 – Nhóm 3
MỤC LỤC
A. PHẦN LÝ THUYẾT
LỜI NÓI ĐẦU 4
I. THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 6
1.1. Như vậy, tấm chắn thuế từ lãi chứng khoán nợ đóng góp thế nào vào giá trị vốn
cổ phần của cổ đông? 7
1.2.Sắp xếp lại cấu trúc của Merck: 8
1.3 MM và Thuế 10
II. THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 11
III. CHI PHÍ KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH 167
3.1. Chi phí phá sản 189
3.2. Chi phí kiệt quệ tài chính khi lâm vào tình trạng kiệt quệ nhưng chưa phá sản
23
3.2.1Trò chơi thứ nhất: Chuyển dịch rủi ro 25
3.2.2 Trò chơi thứ hai: Từ chối đóng góp cổ phần 26
3.2.3 Trò chơi thứ ba : Thu tiền và bỏ chạy 27
3.2.4 Trò chơi thứ tư : Kéo dài thời gian 27
3.2.5 Trò chơi thứ năm : Thả mồi bắt bóng 27
3.3. Chi phí kiệt quệ thay đổi tuỳ theo loại tài sản 28
3.4. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn 29
IV. TRẬT TỰ PHÂN HẠNG CỦA CÁC LỰA CHỌN TÀI TRỢ 31
4.1 Thông tin bất cân xứng 31
4.2 Phát hành nợ và cổ phần với thông tin bất cân xứng 32
4.3 Thừa thãi tài chính 36
4.4 Dòng tiền tự do và mặt trái của thừa thãi tài chính 37
4.5 Thí dụ minh họa: tái tư bản hóa bằng vốn vay của Sealed Air 37
KẾT LUẬN 39
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1
không bao giờ bị mắc nợ, điều đó không phải lúc nào cũng là thực tế. Sự tăng trưởng
luôn đòi hỏi một số vốn đáng kể và để có được nó bạn cần phải tìm kiếm một khoản
vay từ ngân hàng, từ các cá nhân, một khoản vay nợ xoay vòng, mua chịu tiền hàng,
hoặc các kiểu vay nợ tài chính khác. Và một câu hỏi cho nhiều chủ doanh nghiệp là:
Nợ bao nhiêu thì là quá nhiều? Câu trả lời nằm ở chỗ phải phân tích cẩn thận dòng
tiền, đồng thời chú trọng tới cấu trúc vốn của Doanh nghiệp. Khái niệm cấu trúc vốn
được định nghĩa như một hỗn hợp tương đối của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài
hạn, cổ phần ưu đãi và cổ phần thường được dùng để tài trợ một Doanh nghiệp.
Vấn đề cấu trúc vốn đang là một vấn đề làm cho nhiều nhà quản trị tài chính
doanh nghiệp phải đau đầu. Để trả lời các câu hỏi : “Xây dựng cấu trúc vốn của doanh
nghiệp như thế nào? Vốn chủ sở hữu bao nhiêu? Vay ngân hàng bao nhiêu để có thể
tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, hay còn gọi là xây dựng cấu trúc vốn tối ưu? “ thì các
nhà quản trị phải tính đến rất nhiều tình huống, cùng với các khoản chi phí và sự đánh
đổi trong kinh doanh. Đây là một vấn đề khá thú vị cả trong nghiên cứu lý luận lẫn áp
dụng trong thực tiễn.
Một cấu trúc vốn tối ưu được định nghĩa là một cấu trúc vốn trong đó chi phí sử
dụng vốn bình quân nhỏ nhất và giá trị doanh nghiệp đạt lớn nhất. Vấn đề cốt lõi của
cấu trúc vốn tối ưu là khi doanh nghiệp vay nợ, doanh nghiệp tận dụng được lợi thế
của lá chắn thuế từ nợ vay, bản chất của vấn đề này là lãi suất mà doanh nghiệp trả cho
nợ được miễn thuế (thuế được đánh sau lãi vay).
Có rất nhiều lý thuyết bàn về cấu trúc vốn bên cạnh lý thuyết về cấu trúc vốn của
M&M để diễn giải các cách thức mà Doanh nghiệp phân chia chiếc bánh vốn một cách
hiệu quả nhất. Trong khuôn khổ trình bày, chúng tôi sẽ giới thiệu ba lý thuyết phổ biến
nhất trong hoạch định một cấu trúc vốn là lý thuyết M&M, lý thuyết đánh đổi, lý
thuyết trật tự phân hạng. Tiếp theo đó, chúng tôi sẽ gợi ý cho bạn các phương pháp để
quản trị cấu trúc vốn trong thực tiễn thông qua việc phân tích EBIT-EPS và phân tích
khả năng chi trả tiền mặt của Doanh nghiệp.
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1
Lợi nhuận trước thuế 1.000 920
Thuế TNDN với thế suất 35% 350 322
Lợi nhuận ròng cho cổ đông 650 598
Tổng lợi nhuận cho trái chủ và cổ đông 650 678
Tấm chắn thuế (Khoản khấu trừ thuế lãi từ CK nợ) 0 28
Các tấm chắn thuế là các tài sản có giá trị. Giả dụ nợ L là cố định và vĩnh viễn.
Doanh nghiệp sẽ có một dòng vĩnh viễn các dòng tiền 28$/năm. Rủi ro của các dòng
tiền này thường ít hơn rủi ro của các tài sản sử dụng cho kinh doanh của L. Các tấm
chắn thuế tùy vào thuế suất thuế TNDN và khả năng của L đạt đủ lợi nhuận để chi trả.
Thuế suất thuế TNDN thường khá ổn định. Và khả năng L đạt lợi nhuận đủ để chi trả
lãi phải chắc chắn một cách hợp lý – nếu không ắt hẳn doanh nghiệp đã không thể vay
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1 GVHD: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LANH Trang 6
với lãi suất 8%. Vì vậy, chúng ta nên chiết khấu các tấm chắn thuế với một suất chiết
khấu tương đối thấp.
Giả định rủi ro của các tấm chắn thuế bằng rủi ro của các chi phí trả lãi phát sinh
ra các tấm chắn thuế này. Như vậy ta chiết khấu với tỷ lệ 8% là tỷ suất sinh lợi kỳ
vọng theo yêu cầu của các nhà đầu tư đang nắm giữ nợ của doanh nghiệp
(ấ ắ ế) =
,
=
Trên thực tế, chính phủ gánh chịu 35% nghĩa vụ nợ 1.000$ của L.
Với giả định này, hiện giá của tấm chắn thuế độc lập với tỷ suất sinh lợi từ nợ r
d
.
cân đối kế toán thông thường, tài sản được định giá sau thuế. Trong bảng cân đối kế
toán mở rộng, tài sản được định giá trước thuế, và giá trị của trái quyền thuế của chính
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1 GVHD: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LANH Trang 7
phủ được công nhận phía bên phải của bảng. Các tấm chắn thuế lãi từ chứng khoán nợ
có giá trị vì làm giảm trái quyền của chính phủ.
Bảng cân đối kế toán thông thường (Giá thị trường)
Giá trị tài sản (hiện giá của các dòng
tiền sau thuế)
Nợ
Vốn cổ phần
Tổng tài sản Tổng nợ và vốn cổ phần
Bảng cân đối kế toán mở rộng (Giá thị trường)
Giá trị tài sản (hiện giá của các dòng
tiền trước thuế)
Nợ
Trái quyền của chính phủ (hiện giá của
thuế tương lai)
Vốn cổ phần
Tổng tài sản Tổng nợ và vốn cổ phần
Tại bảng cân đối kế toán mở rộng đã xuất hiện thêm một khoản nợ đối với nhà
nước đó là khoản tiền thuế mà doanh nghiệp phải trả cho nhà nước trong tương lai. Để
giảm khoản nợ này, doanh nghiệp sẽ có khuynh hướng đi vay. Lúc này giá trị sau thuế
của doanh nghiệp sẽ tăng lên một khoản bằng hiện giá của tấm chắn thuế.
Để thấy rõ hơn vấn đề, chúng ta sẽ xem xét việc sắp xếp lại cấu trúc vốn của
Merck & Company, một công ty lớn thành đạt và ít sử dụng nợ.
1.2.Sắp xếp lại cấu trúc của Merck:
Tài sản dài hạn $14.935 $10.139 Vốn cổ phần
Tổng tài sản $16.408 $16.408 Tổng nợ và vốn cổ phần
GIÁ TRỊ THỊ TRƯỜNG
Vốn luân chuyển $1.473 $2.146 Nợ dài hạn
Giá trị thị trường của các tài sản
dài hạn
$51.212 $4.123 Các nghĩa vụ dài hạn khác
PV (tấm chắn thuế) thêm $350 $46.766 Vốn cổ phần
Tổng tài sản $53.035 $53.035 Tổng nợ và vốn cổ phần
Bảng 1.2b cho thấy các bảng cân đối kế toán mới. Phần giá trị sổ sách chỉ có thêm
1 tỷ đô la nợ dài hạn và bớt 1 tỷ đô la vốn cổ phần. Nhưng các tài sản của Merck phải
đáng giá nhiều hơn, vì hóa đơn thuế của công ty đã được giảm 35% cho phần lãi từ
món nợ mới. Nói cách khác, Merck có một gia tăng trong PV (tấm chắn thuế), có giá trị
bằng T
c
D = 0,35 x 1 tỷ = 350 triệu đô la. Nếu lý thuyết của MM do có xem xét thêm
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1 GVHD: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LANH Trang 9
yếu tố thuế thì giá trị doanh nghiệp phải tăng thêm 350 triệu thành 53.035 triệu đô la.
Cuối cùng vốn cổ phần của Merck là 46.776 triệu đô la.
Bây giờ bạn đã mua lại 1 tỷ đồng cổ phần, nhưng giá trị vốn cổ phần của Merck
đã sụt giảm xuống chỉ còn 650 triệu (46.766 – 47.416). Vì vậy, các cổ đông của Merck
phải được lãi 350 triệu đô la. Công việc không tồi chút nào.
1.3 MM và Thuế
Chúng ta vừa triển khai một phiên bản mới của định đề I của MM được “chỉnh”
lại để phản ánh thuế TNDN. Định đề mới là:
Như vậy chũng ta đã lập luận để tự đưa mình vào ngõ cụt. Chỉ có hai lối thoát:
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1 GVHD: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LANH Trang 10
Có thể xem xét đầy đủ hơn về hệ thống thuế TNDN và thuế TNCN mà Mỹ là một
điển hình để khám phá một bất lợi của thuế đối với nợ nần của doanh nghiệp, bù
trừ cho hiện giá của tấm chắn thuế
Có thể các doanh nghiệp vay nợ gánh chịu các chi phí khác – như chi phí phá sản
chẳng hạn, bù trừ cho hiện giá của tấm chắn thuế
II. THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
Khi vấn đề thuế thu nhập cá nhân được đưa vào, mục tiêu của doanh nghiệp
không còn là tối thiểu thuế thu nhập doanh nghiệp. Doanh nghiệp nên cố gắng tối thiểu
hóa hiện giá của tất cả các khoản thuế chi ra từ lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm
cả thuế thu nhập cá nhân mà các trái chủ và cổ đông chi trả.
Hình dưới đây minh họa tác động đòn bẩy đối với thuế thu nhập doanh nghiệp và
thuế thu nhập cá nhân. Tùy vào cấu trúc vốn của doanh nghiệp, một đô la của lợi
nhuận hoạt động sẽ được chi trả với góc độ lãi từ chứng khoán nợ hay lợi nhuận từ vốn
cổ phần. Lãi từ chứng khoán nợ chỉ chịu thuế ở cấp cá nhân. Lợi nhuận từ vốn cổ phần
chịu thuế ở cả cấp cá nhân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, thuế suất thuế thu nhập cá
nhân đánh trên lợi nhuận từ vốn cổ phần (T
pE
) có thể thấp hơn thuế suất thuế thu nhập
cá nhân đánh trên lãi từ chứng khoán nợ (T
p
). Hai thuế suất này bằng nhau nếu lợi
nhuận từ vốn cổ phần hoàn toàn là cổ tức. Như vậy, một đô la này có thể rẽ theo một
trong hai hướng theo hình dưới đây:
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1
lợi thế tương đối chỉ tùy thuộc vào thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp:
Lợi nhuận hoạt động 1$
Chi trả dưới góc độ
lãi chứng khoán nợ
Chi trả dưới góc độ lợi
nhuận từ vốn cổ phần
T
c
Không
1 1 - 1xT
c
=1 -T
c
1xT
p
=T
p
T
pE
(1-T
c
)
1 - T
p
1 - T
ợế ươđố =
−
−
( −
)
=
−
Trong trường hợp này có thể bỏ qua thuế thu nhập cá nhân. Lợi thế của việc
doanh nghiệp đi vay nợ đúng như MM đã tính toán. Hai ông không cần phải giả định
không có thuế thu nhập cá nhân. Lý thuyết của họ về nợ và thuế chỉ đòi hỏi rằng nợ và
vốn cổ phần có thuế suất bằng nhau.
Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân bù qua sớt lại với
nhau, làm cho chính sách nợ không đặt thành vấn đề. Điều này đòi hỏi:
−
= −
( −
)
Trường hợp này chỉ có thể xảy ra nếu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp T
c
và
T
pE
= 10%
0,5 0,054
Lợi nhuận sau tất cả thuế 0,5 0,496
Lợi thế của nợ =
0,004$+ Ví dụ: T
c
: 35%, T
p
: 39,6%, T
pE
: 28% (thuế suất thực tế thấp hơn vì thuế lãi vốn có
thể được hoãn cho đến khi bán được cổ phần). Xét trường hợp một công ty không chi
trả cổ tức, và việc trì hoãn nộp thuế lãi vốn đã cắt giảm thuế suất cá nhân thực tế trên
lợi nhuận từ vốn cổ phần còn T
pE
: 14%:
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1 GVHD: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LANH Trang 13
Lãi từ chứng
c
= 35% 0 0,35
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 1,00 0,65
Thuế thu nhập cá nhân T
p
= 39,6% và T
pE
= 26,8% 0,396 0,174
Lợi nhuận sau tất cả thuế
0,604 0,476
Lợi thế của nợ =
0,128$
Nợ và thuế của Merton Miller
Cấu trúc vốn tác động thế nào đến giá trị doanh nghiệp khi các nhà đầu tư có thuế suất
khác nhau? Chúng ta xem xét mô hình của Merton Miller.
Ông giả dụ:
T
pE
= 0 cho tất cả nhà đầu tư.
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1 GVHD: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LANH Trang 14
Thuế suất đánh trên lãi từ chứng khoán nợ tùy thuộc vào khung thuế suất của nhà
đầu tư:
+ Các định chế không phải trả thuế cho lãi từ chứng khoán nợ(Tp=0)
+ Các triệu phú(Tp=0.5)
+ Các nhà đầu tư chịu thuế trong khoảng từ (Tp=0-0,5)
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LANH Trang 15
Lợi nhuận chi trả như lãi từ chứng khoán nợ:
1-T
p
= 1-0,46 =0,54$
Lợi nhuận chi trả như lợi nhuận vốn cổ phần:
(1-T
pE
)(1-T
c
) =(1-0)(1-0,46)=0,54$
Như vậy, 1$ lợi nhuận hoạt động sẽ sản sinh lợi nhuận sau tất cả thuế: 0,54$, bất
kể đô la này lãi từ chứng khoán nợ hay lợi nhuận vốn cổ phần
Thuế ấn định tổng lượng nợ doanh nghiệp chứ không phải số lượng nợ là do
một doanh nghiệp cụ thể nào đó đã phát hành. Nếu thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp tăng, việc chuyển hướng lại bắt đầu đưa đến tỷ số nợ trên vốn cổ
phần cao hơn cho toàn thể doanh nghiệp. Nếu thuế suất cá nhân tăng, việc
chuyển hướng ngược lại, đưa đến tỷ số nợ trên vốn cổ phần thấp hơn. Nếu thuế
suất thu nhập doanh nghiệp và cá nhân đều tăng một khoản bằng nhau không có
chuyển hướng và không có thay đổi.
Kết luận:
Mô hình của Miller minh họa thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân có
thể cân bằng làm cho giá trị của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn trong điều kiện
T
pE
<< T
p
đủ để bù trừ tấm chắn thuế lãi từ chứng khoán nợ của doanh nghiệp.
vốn cổ phần
+
PV (tấm
chắn thuế)
-
PV (chi phí
kiệt quệ tài
chính)
Chi phí kiệt quệ tài chính tuỳ thuộc vào xác suất kiệt quệ tài chính và độ lớn của
chi phí phải gánh chịu nếu kiệt quệ tài chính xảy ra.
Hình 3.1: Giá trị thị trường của doanh nghiệp bằng giá trị trong trường hợp được
tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần cộng với hiện giá của tấm chắn thuế trừ cho hiện
giá của chi phí kiệt quệ tài chính. Giám đốc nên chọn tỷ lệ nào để tối đa hoá giá trị
doanh nghiệp
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1 GVHD: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LANH Trang 17
PV (T
ấm chắn
thuế)
Tỷ lệ nợ tối ưu
Tỷ lệ nợ
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1 GVHD: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LANH Trang 18
Chi phí kiệt quệ tài chính nhưng chưa phá sản: bao gồm các mâu thuẫn về
quyền lợi của trái chủ và cổ đông của doanh nghiệp trong kiệt quệ tài chính có
thể đưa đến các quyết định tồi về hoạt động và đầu tư và chi phí soạn thảo,
kiểm tra, giám sát và thực thi hợp đồng nợ để ngăn ngừa trò chơi tài chính.
3.1. Chi phí phá sản
Phá sản doanh nghiệp xảy ra khi các cổ đông thi hành quyền không thực hiện
nghĩa vụ của họ. Khi một doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn, trách nhiệm hữu
hạn cho phép các cổ đông dễ dàng rời bỏ doanh nghiệp, để lại tất cả các phiền phức
cho chủ nợ. Các chủ nợ nắm giữ tài sản của doanh nghiệp và trở thành cổ động mới.
Ví dụ: hai doanh nghiệp có tài sản và hoạt động kinh doanh giống nhau. Mỗi
doanh nghiệp đều có nợ chưa thanh toán và hứa sẽ hoàn trả 1000$ (vốn và lãi) trong
năm tới. Nhưng doanh nghiệp Ace Limited hưởng trách nhiệm hữu hạn, còn doanh
nghiệp Ace Unlimited thì chịu trách nhiệm vô hạn.
Nếu giá trị tài sản hai doanh nghiệp này ít hơn 1.000$, các cổ đông Ace Limited
không thực hiện nghĩa vụ và các trái chủ nắm giữ tài sản doanh nghiệp. Các cổ đông
của Ace Unlimited vẫn giữ tài sản, nhưng họ phải móc tiền túi ra chi trả cho trái chủ.
Tổng chi trả cho cổ đông và trái chủ của hai doanh nghiệp là giống nhau.
Giả sử trong năm tới giá trị tài sản của hai doanh nghiệp này ít hơn 1000$, cụ thể
là tài sản của công ty chỉ đáng giá 500$. Trong trường hợp này, Ace Limited có thể
không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình, các cổ đông bỏ đi, chi trả cho họ bằng 0 và
tài sản
Chi tr
ả cho trái chủ
Tài s
ản
1.000
500
Chi tr
ả
Chi tr
ả cho trái chủ
1.000
500
Giá trị
tài sản
1.000
Tài sản
Chi tr
ả
ACE UNLIMITED
(trách nhiệm vô hạn)
1.000
Chi trả
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1 GVHD: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LANH Trang 20
Ace Unlimited nhờ quyền không thực hiện nghĩa vụ của Ace Limited, và tương ứng
thì nợ của Ace Limited sẽ có giá trị thấp hơn.
Hình 3.3Tổng chi trả cho những người nắm giữ chứng khoán của Ace Limited. Có 1
chi phí phá sản 200 USD trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ (vùng in đậm).
Chúng ta biết rằng trình tự thủ tục phá sản của một doanh nghiệp hết sức phức
tạp và tốn kém. Doanh nghiệp phải nhờ sự hỗ trợ của các luật sư và phải trả các khoản
chi phí của toà án. Giả sử chi phí toà án và pháp lý là 200 USD, chi phí này được chi
ra từ giá trị còn lại của tài sản của Ace Limited, như vậy các trái chủ được hưởng 300
USD. Bằng cách phát hành nợ có rủi ro, Ace Limited đã dành cho hệ thống các luật sư
và tòa án một trái quyền trên doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không thực hiện nghĩa
vụ (quyền này trị giá 200 USD trong ví dụ). Giá trị thị trường của doanh nghiệp bị
giảm một khoản bằng hiện giá của trái quyền này.
Ta dễ thấy việc đòn bẩy tài chính gia tăng đã tác động thế nào đế hiện giá của chi
phí kiệt quệ tài chính. Nếu Ace Limited vay thêm, doanh nghiệp phải hứa hẹn nhiều
hơn với các trái chủ. Điều này làm tăng xác suất không thực hiện nghĩa vụ và tăng chi
phí của thủ tục pháp lý. Nó cũng làm tăng hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính và làm
giảm hiện giá thị trường của Ace.
Giá tr
ị t
ài s
ản
lực của ban giám đốc nhằm ngăn chặn công việc kinh doanh của doanh nghiệp khỏi tồi
tệ thêm. Các chi phí này hầu như không thể đo lường được, nhưng chúng ta có các
chứng cứ suy diễn gián tiếp cho thấy tầm quan trọng của chúng.
Trường hợp phá sản của công ty đường sắt Penn Central vào năm 1970 là ví dụ
cho thấy sự khó khăn trong việc điều hành một công ty đang phá sản.Các chủ nợ muốn
công ty đóng cửa để lấy lại tiền nên họ phản đối việc công ty bán bớt một ít tài sản để
huy động tiền nhằm xây dựng lại các cơ sở để có thể tiếp tục hoạt động mặc dù họ có
nhiều toa xe cũ đang nằm chờ để bán sắt vụn. Với giá sắt vụn thời điểm đó thì chúng
thực sự là một mỏ vàng. Nhưng các chủ nợ đã không cho phép biến tài sản này thành
tiền mặt để tái đầu tư vào cơ sở vật chất của công ty, trong khi chúng đang bị xói mòn
từng ngày.
Chúng ta không thể biết tổng chi phí trực tiếp và gián tiếp của phá sản lên đến
bao nhiêu, nhưng chúng ta biết rằng nó là một con số đáng kể, đặc biệt đối với các
doanh nghiệp lớn mà quá trình phá sản kéo dài và phức tạp. Có lẽ bằng chứng tốt nhất
là sự miễn cưỡng của các chủ nợ trong việc buộc doanh nghiệp phá sản. Trên nguyên
tắc, họ sẽ khá hơn nếu chấm dứt tình trạng này ngay và nắm giữ tài sản càng sớm càng
tốt. Thay vào đó, các chủ nợ thường bỏ qua việc không thực hiện nghĩa vụ với hi vọng
nuôi dưỡng doanh nghiệp cho qua giai đoạn khó khăn. Họ làm như vậy một phần cũng
để tránh chi phí phá sản.
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1 GVHD: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LANH Trang 22
Hay trường hợp phá sản của Texaco cũng là một chứng cứ về chi phí phá sản trực
tiếp và gián tiếp. Năm 1984, Texaco đã thắng Pennzoil trong việc mua lại Getty Oil.
Nhưng Pennzoil đã kiện Taxeco phá vỡ hợp đồng có hiệu lực giữa mình và Getty và
toà án đã đồng ý và ra lệnh Texaco phải bồi thường số tiền lên đến 10,5 tỷ USD (số
tiền bồi thường ở phiên sơ thẩm là 11,1 tỷ USD). Texaco đã thương lượng với
Pennzoil, cố gắng đạt được một thỏa thuận theo đó Pennzoil sẽ từ bỏ trái quyền của
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ? Nhóm 03_K22_Ngân Hàng Đêm 1 GVHD: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LANH Trang 23
Lúc bấy giờ các cổ đông thay vì mục tiêu tối đa hóa giá trị thị trường của doanh
nghiệp thì họ ưu tiên quyền lợi riêng hạn hẹp của mình hơn ,vì thế,họ đã bị cám dỗ và
thực hiện các “trò chơi” để đẩy thiệt hại về phía các chủ nợ. Từ đó xuất hiện chi phí
gián tiếp của chi phí kiệt quệ tài chính, đó chính là chi phí của các “trò chơi”, và chi
phí gián tiếp này rất khó xác định. Điều này sẽ được minh họa thông qua các “trò
chơi” như sau :
Giả định công ty Circular File có một cổ phần và một trái phiếu đang lưu hành.
Cổ đông cũng chính là giám đốc của công ty. Trái chủ là một người khác.
Bảng cân đối kế toán của công ty (theo giá trị sổ sách):
Công ty Circular File (Giá trị sổ sách)
Vốn luân chuyển $ 20 $50 Trái phiếu đang lưu hành
Tài sản cố định 80 50 Cổ phần thường
Tổng tài sản $100 $100 Tổng nợ và vốn CP
Giả sử công ty vay nợ quá nhiều (vượt qua phần tỷ lệ nợ tối ưu) và lâm vào tình trạng
kiệt quệ tài chính. Bảng cân đối kế toán của công ty (theo giá trị thị trường) lúc này
như sau:
Công ty Circular File (Giá trị thị trường)
Vốn luân chuyển $ 20 $25 Trái phiếu đang lưu hành
Tài sản cố định 10 5 Cổ phần thường
Tổng tài sản $30 $30 Tổng nợ và vốn CP
Lúc này, ta thấy tổng giá trị thị trường của doanh nghiệp (30$)<giá trị nợ của doanh
nghiệp ($50) công ty Circular File đang lâm vào tình trạng kiệt quệ về tài chính.
Giám đốc công ty (đồng thời là chủ doanh nghiệp) phải làm gì để giúp doanh
nghiệp vượt qua tình trạng khó khăn này? Với giả định là trái phiếu của doanh nghiệp
quyền lợi của các cổ đông sẽ ưu tiên chấp nhận các dự án rủi ro hơn là các dự án an
toàn, thậm chí họ có thể chấp nhận các dự án có NPV âm. Việc thực hiện trò chơi này
sẽ gây tốn kém cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế.