Giải pháp hình thành và phát triển thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC) ở Việt Nam - Pdf 13


24

KẾT LUẬN

TTCK đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn và
phân phối các nguồn vốn đầu tư hợp lý. Trải qua hơn 7 năm hoạt
động TTCK Việt Nam đã thu được một số kết quả ban đầu đáng
khích lệ nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế cần phải khắc phục kịp
thời. Việc xây dựng và phát triển TTCK phi tập trung là mục tiêu
chiến lược đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tuy nhiên,
TTCK phi tập trung là sản phẩm của nền kinh tế bậc cao, phát triển
trên nền tảng cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, vấn đề này đang đặt ra
những thách thức lớn đối với nền kinh tế thị trường sơ khai với một
hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh và một cơ sở hạ tầng yếu kém như
chúng ta hiện nay.
Luận án đã nghiên cứu và giải quyết một số vấn đề như: làm
sáng tỏ các lý luận cơ bản về TTCK OTC; phân tích thực trạng hoạt
động của TTCK Việt Nam trong thời gian qua, đi sâu nghiên cứu một
số TTCK OTC của một số nước trên thế giới để đúc rút kinh nghiệm,
kiến nghị về mô hình tổ chức, hoạt động của TTCK OTC ở Việt Nam.
Những giải pháp trong luận án xuất phát từ việc tìm hiểu, điều
tra thực tế và từ những kết quả nghiên cứu khoa học mang tính ứng
dụng và thực tiễn cao, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất
nước và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của Đảng trong
giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, do khả năng và kiến thức có hạn, nội dung của luận
án chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong
được mọi người tham gia góp ý để bản luận án được hoàn chỉnh hơn,
mang tính thực tiễn cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của Phó giáo

2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Thị trường chứng khoán OTC xuất hiện rất sớm và đã có mặt ở
hầu hết các nước có thị trường chứng khoán phát triển, đã có nhiều
công trình nghiên cứu được áp dụng thành công trên thế giới.
Thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã hình thành và đã đi vào
hoạt động được hơn 7 năm và đã có những thành công đáng kể. Tuy
nhiên, đến nay TTCK OTC vẫn chưa được hình thành và chưa có
một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện về các
giải pháp để hình thành và phát triển TTCK OTC ở Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu của luận án
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động của

2
TTCK phi tập trung nói riêng; phân tích thực trạng TTCK ở Việt
Nam, kinh nghiệm hoạt động TTCK phi tập trung của một số nước
trên thế giới và đề xuất mô hình tổ chức, vận hành TTCK phi tập
trung ở Việt Nam.
- Kiến nghị những giải pháp cụ thể để hình thành, phát triển
TTCK phi tập trung ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về TTCK phi tập trung trên cơ sở kinh
nghiệm xây dựng TTCK phi tập trung của một số nước trên thế giới
và trong khu vực. Từ thực tế hoạt động của TTCK Việt Nam giai
đoạn 2000-2007, luận án đưa ra giải pháp và kiến nghị về hình thành
và phát triển TTCK phi tập trung ở Việt Nam giai đoạn 2007-2010.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng: xem xét hoạt động ngành
chứng khoán trong mối quan hệ biện chứng với hoạt động của các
ngành khác, các ảnh hưởng của TTCK đến các hoạt động kinh tế xã
hội và ngược lại.

- Về phía các Bộ, Ngành,Chính quyền địa phương: Cần có sự
phối hợp chặt chẽ để thực hiện tốt Quyết định của Thủ tướng Chính
phủ về sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, phối hợp tốt giữa
UBCKNN và các Bộ, ngành, địa phương trong việc phát hành trái
phiếu để huy động vốn của địa phương và ngành qua TTCK. Ngoài
cổ phiếu, trái phiếu cần có kế hoạch phát triển các sản phẩm khác
như chứng chỉ quỹ đầu tư, các sản phẩm phái sinh để tạo sự phong
phú, đa dạng về chủng loại hàng hoá có chất lượng cao cho thị
trường.
3.4.3. Kiến nghị với các cơ quan quản lý chức năng
- UBCKNN khẩn trương xây dựng và thực hiện đề án phát
triển công nghệ thông tin trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK
nhằm tạo ra sự thống nhất trong hoạt động công nghệ thông tin của
các thành phần tham gia trên thị trường chứng khoán ; từng bước tái
cấu trúc lại thị trường theo hướng tách các TTGDCK ra khỏi
UBCKNN; thực hiện việc đăng ký, lưu ký tập trung đối với công ty
cổ phần đại chúng, có chính sách khuyến khích các công ty cổ phần
khác đăng ký, lưu ký qua TTLKCK hoặc uỷ thác quản lý sổ cổ đông,
đại lý chuyển nhượng qua công ty chứng khoán.
- Đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chứng
khoán, trong đó có nộ
i dung thực hiện cam kết về lĩnh vực chứng
khoán khi triển khai thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa
Kỳ và gia nhập WTO, cần làm tốt nghĩa vụ là thành viên của IOSCO.

22
3.3.4.Giải pháp tổ chức bộ máy đào tạo nhân lực cho TGDCK OTC
Với xuất phát điểm rất thấp về cơ sở hạ tầng, về kinh nghiệm tổ
chức, quản lý và vận hành TTCK OTC, việc đào tạo nhân lực cho thị
trường là một công việc cấp bách và đặc biệt phức tạp, lâu dài, tốn

chế thực thi hoạt động của thị trường.

3
Luận án gồm 168 trang, ngoài phần mở đầu và kết luận, mục
lục, những công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố, phần phụ
lục, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thị trường chứng
khoán phi tập trung, kinh nghiệm tổ chức thị trường của một số nước
trên thế giới.
Chương 2: Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam, sự
cần thiết phải thành lập thị trường chứng khoán phi tập trung.
Chương 3: Giải pháp để hình thành và phát triển thị trường
chứng khoán phi tập trung ở Việt Nam.

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN PHI TẬP TRUNG
1.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán phi tập trung
1.1.1. Khái niệm về thị trường chứng khoán phi tập trung
Thị trường chứng khoán phi tập trung là bộ phận cấu thành
của thị trường chứng khoán, xuất hiện sớm nhất, trước cả khi có thị
trường chứng khoán tập trung (Sở giao dịch chứng khoán), song song
tồn tại và phát triển với thị trường chứng khoán tập trung đến ngày
nay. Thị trường chứng khoán phi tập trung là một nhân tố cơ bản của
nền kinh tế thị trường, là định chế tài chính không thể thiếu được của
những nước có nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường.
Hiện nay, có rất nhiều tác giả đưa ra các khái niệm về thị
trường chứng khoán OTC, nhưng có thể hiểu: TTCK phi tập trung là
thị trường mà các giao dịch mua bán chứng khoán không diễn ra tại
một địa điểm tập trung nhất định, giá cả giao dịch chứng khoán được

giới và tạo lập thị trường liên kết với nhau và liên kết với trung tâm
quản lý thông qua một mạng máy tính điện tử diện rộng.
Cho đến nay có rất nhiều loại hình TTCK OTC đang hoạt động
ở các nước, mỗi quốc gia có một cách tổ chức TTCK OTC phù hợp
với điều kiện và hoàn cảnh của mình về cả mô hình tổ chức, quản lý
và cơ chế vận hành nhưng đều phải tuân theo những nguyên lý cơ
bản của thị trường chứng khoán phi tập trung.
1.1.3. Các đặc điểm của thị trường chứng khoán phi tập trung
- TTCK phi tập trung có cơ chế xác lập giá là thương lượng giá
giữ
a bên mua và bên bán.
- TTCK phi tập trung là thị trường có sự tham gia vận hành của
các nhà tạo lập thị trường.
- TTCK phi tập trung truyền thống là thị trường có hình thức tổ

21
lượng hoạt động tư vấn phát hành, niêm yết và định giá chứng khoán,
đa dạng hoá dịch vụ chứng khoán. Giảm đến mức tối thiểu các thủ
tục hành chính đối với việc đăng ký, niêm yết giao dịch. Khuyến
khích các doanh nghiệp, địa phương phát hành trái phiếu và các công
cụ phái sinh khác.
3.3.3. Giải pháp về tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng
cho TTCK OTC
Với điều kiện Việt Nam hiện nay việc xây dựng ngay một
TTCK OTC hiện đại trên nền cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu kém là khó
thực hiện được. Một giải pháp đang được xem xét là xây dựng một
TTCK OTC bán hiện đại ở Việt Nam trước khi hiện đại hoá hoàn
toàn. Do đó cần tập trung nguồn kinh phí cần thiết để xây dựng thị
trường từ việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đến máy móc thiết bị
phục vụ cho hoạt động của thị trường.

niêm yết tại Sở GDCK Tp.HCM. Từng bước giao dịch bỏ sàn,
chuyển dần sang TTCK OTC;
- Từ năm 2010 chính thức khai trương TTCK OTC ở Hà Nội
với các tiêu chuẩn theo thông lệ quốc tế, từng bước áp dụng các công
nghệ điện tử hiện đại, phát triển thành TTCK OTC hiện đại, đảm bảo
khả năng kết nối với các thị trường trong khu vực.
3.3. Giải pháp hình thành và phát triển TTCK OTC ở Việt Nam
3.3.1. Giải pháp về hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý
- Ban hành các văn bản thi hành Luật chứng khoán: Luật đã đề
cập đến việc điều chỉnh hoạt động của TTCK OTC. Nhưng để triển
khai thực hiện luật, các cơ quan chức năng cần sớm hoàn thành việc
ban hành các văn bản hướng dẫn như: qui chế, thông tư, quy trình
nghiệp vụ.
- Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, giải quyết các xung
đột giữa các Luật.
- Tăng cường giáo dục pháp luật cho các thành phần tham gia
thị trường chứng khoán phi tập trung.
3.3.2. Giải pháp tạo lập hàng hoá cho TTCK OTC
- Để tạo lập và phát triển nhanh hàng hoá cho TTCK OTC, cần
tiến hành một số giải pháp sau: Chính phủ cần có một chiến lược
tổng thể phát triển thị trường tài chính, xây dựng kế hoạch huy động
vốn cho nền kinh tế thông qua thị trường chứng khoán, đẩy nhanh
tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước một cách hiệu
quả. Xoá bỏ bao cấp đối với các doanh nghiệp Nhà Nước, thực hiện
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích các doanh
nghiệp tham gia thị trường chứng khoán.
- Phát triển hệ thống các tổ chức trung gian, nâng cao chất

5
chức giao dịch mua bán phi tập trung, nghĩa là không có địa điểm, vị

tr
ư

n
g
Các Công ty
thành
v
i
ê
n
Các Công ty
thành
v
i
ê
n
Nhà đầu tư
Nhà đầu tư

6
hình nhất được tổ chức dạng một công ty sở hữu thành viên/đại
chúng do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hay hiệp hội các nhà
kinh doanh chứng khoán quản lý.
- Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia các quốc gia có TTCK OTC
phát triển đều sử dụng mô hình quản lý Nhà nước có sự kết hợp của
chế độ tự quản
1.2.2. Các chủ thể tham gia trên TTCK OTC
- Nhà phát hành: Chinh phủ, công ty phát hành cổ phiếu và trái
phiếu, các tổ chức tài chính phát hành các công cụ tài chính.

thị trường, các nhà tạo lập thị trường (market maker), khi hệ thống
báo giá trung tâm được thiết kế theo mô hình diện rộng sẽ cho phép
mở rộng đối tượng thành viên là các công ty quản lý quỹ, ngân hàng
thương mại, công ty bảo hiểm, công ty tài chính.
- Về phương thức giao dịch: Áp dụng 3 phương thức giao dịch
cơ bản của TTCK OTC mà các nước trên thế giới hiện nay thường sử
dụng đó là: thoả thuận giản đơn, báo giá trung tâm và hệ thống có
nhà tạo lập thị trường theo những chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
- Về hệ thống giao dịch: Để phục vụ cho phương thức giao
dịch này, TTGDCK OTC sẽ thiết lập 2 hệ thống chính, đó là: hệ
thống yết giá tự động hiển thị giá và thực hiện giao dịch; hệ thống
xác nhận và báo cáo kết quả giao dịch đã được thực hiện.Hai hệ
thống này sẽ được kết nối với hệ thống công bố thông tin thị trường
và hệ thống thanh toán bù trừ.
- Về yêu cầu nắm giữ chứng khoán đối với nhà tạo lập thị
trường: TTGDCK OTC sẽ quy định mức tối thiểu số lượng chứng
khoán nắm giữ ban đầu và số lượng chứng khoán nắm giữ duy trì.
- Về quy trình giao dịch: Khi nhà tạo lập thị trường nhận được
một lệnh mua hoặc bán từ một công ty chứng khoán thì nhà tạo lập
thị trường phải thực hiện lệnh tại mức giá nằm trong khoảng giữa giá
bán thấp nhất và giá mua cao nhất (giá tốt nhất) trong số các chào
mua hoặc chào bán mà nhà tạo lập thị trường đưa ra.
- Hoạt động lưu ký, thanh toán bù trừ: Qui định các đối tượng
tham gia vào hoạt động lưu ký, thanh toán bù trừ đó là: Trung tâm
lưu ký chứng khoán; Ngân hàng chỉ định thanh toán; qui định hoạt
động lưu ký, thanh toán bù trừ chứng khoán gồm những vấn đề: Mở
tài khoản cho khách hàng, lưu ký chứng khoán, thanh toán giao dịch
cổ phiếu.
- Hệ thống giám sát thị trường: Đề cập các vấn đề về xây
dựng tiêu chí giám sát, phương thức giám sát, qui trình giám sát

thủ pháp luật của các thành viên tham gia thị trường.
3.2.2. Mô hình hoạt động của thị trường chứng khoán phi tập trung
- Hàng hoá cho thị trường: giai đoạn đầu của TTCK OTC chủ
yếu là cổ phiếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa đủ đ
iều kiện
niêm yết trên TTCK tập trung; trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa
phương và trái phiếu công ty. Khi TTCK OTC phát triển đến một
trình độ nhất định, có thể cho phép giao dịch các loại chứng khoán

7
chúng đầu tư biết để có các quyết định đầu tư.
- Do thị trường rộng lớn, nằm rải rác ở khắp mọi nơi, cơ chế
giao dịch, thanh toán linh hoạt nên khối lượng giao dịch rất lớn.
- Tuỳ theo độ chuyên sâu của thị trường và sự hấp dẫn của từng
loại chứng khoán mà có các loại yết giá như: yết giá chắc chắn, yết
giá phụ thuộc, yết giá có chủ định.
- Độ rủi ro của chứng khoán trên TTCK phi tập trung cao hơn
khi đầu tư chứng khoán trên thị trường tập trung.
1.2.4. Cơ chế giao dịch của thị trường chứng khoán phi tập trung
Qua nghiên cứu TTCK OTC của các nước trên thế giới trong
các giai đoạn phát triển khác nhau, có thể khái quát hoá cơ chế giao
dịch của TTCK OTC là cơ chế thoả thuận theo 03 phương thức giao
dịch chủ yếu sau đây: Phương thức giao dịch thoả thuận giản đơn;
phương thức giao dịch báo giá trung tâm; phương thức giao dịch có
sự tham gia của nhà tạo lập thị trường.
- Hệ thống giao dịch thoả thuận giản đơn: Cơ chế hoạt động
của hệ thống này vẫn có đại diện các công ty chứng khoán ngồi tại
sàn, làm nhiệm vụ môi giới giao dịch thoả thuận cho các nhà đầu tư.
Các giao dịch được xác nhận qua điện thoại trực tuyến giữa công ty
chứng khoán môi giới với nhà đầu tư và các công ty chứng khoán

trọng quyết định. Bên cạnh Luật chứng khoán hệ thống các luật liên
quan cần phải tương thích và không có xung đột như Luật Các tổ
chức tín dụng, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư
+ Hệ thống các văn bản dưới Luật là các Nghị định, Quyết định
do Chính phủ và các cơ quan quản lý về chứng khoán và TTCK ban
hành, qui định hình thức tổ chức, điều hành, quản lý thị trường và
thực hiện chức năng giám sát thị trường;
+ Hệ thống các văn bản qui chế, qui trình nghiệp vụ để vận
hành thị trường.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ đáp ứng yêu cầu của thị
trường chứng khoán OTC:
+ Về hạ tầng cơ sở: Cần có hệ thống hạ tầng đồng bộ, đường
truyền đủ lớn, thông suốt để kết nối toàn bộ hệ thống liên lạc của quá
trình đàm phán giao dịch, lưu ký, thanh toán, quản lý thị trường.
+ Hệ thống giao dịch: Việc xây dựng hệ thống giao dịch phải
tuân thủ một số nguyên tắc: Hệ thống máy tính phải có cấu hình
mạnh và phải đ
áp ứng qui mô thị trường; Các thiết bị phải có khả
năng thay thế khi hỏng hóc hoặc nâng cấp; Máy chủ phải có khả
năng tương thích với các hệ thống khác và đảm bảo chạy thông suốt
các phần mềm ứng dụng; Hệ thống phần cứng phải có khả năng

17
vào sự bao cấp của Nhà nước chưa sẵn sàng chịu các áp lực của kinh
tế thị trường. Sự hiểu biết của công chúng về TTCK còn nhiều hạn
chế, sức mạnh tâm lý còn đè nặng lên người đầu tư khi tham gia vào
TTCK.
Chương 3
GIẢI PHÁP HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM

doanh nghiệp có vốn lớn ( như: bảo hiểm Bảo Việt, Đạm Phú Mỹ ),
trong thời gian tới chúng ta tiếp tục cổ phần hoá các Tổng công ty và
các doanh nghiệp lớn, như các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính,
bảo hiểm, ngân hàng.
- Chúng ta đã có kinh nghiệm của quá trình xây dựng thị
trường chứng khoán tập trung tại TTGDCK Tp HCM, hoạt động thực
tiễn tại TTGDCK HN và kinh nghiệm quốc tế.
2.3.2. Những khó khăn khi xây dựng TTCK OTC ở Việt Nam
- Khó khăn thứ nhất của Việt Nam khi xây dựng thị trường
chứng khoán OTC là quy mô thị trường quá nhỏ bé, các sản phẩm
niêm yết và giao dịch trên TTCK còn quá nghèo nàn về chủng loại, ít
ỏi về số lượng, và không phải là cổ phiếu của các công ty lớn đại
diện cho nền kinh tế, nên chưa thật sự hấp dẫn được các nhà đầu tư.
- Pháp luật để điều chỉnh hoạt động của TTCK OTC tuy đã
được thể hiện trong Luật chứng khoán nhưng mới ở dạng khung, quá
trình ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn, quy trình nghiệp
vụ như hoàn chỉnh hệ thống luật để giải quyết các vấn đề liên quan
đến chứng khoán và thị trường chứng khoán còn nhiều bất cập hoặc
chưa hình thành.
- Khó khăn lớn nhất là cơ sở vật chất kỹ thuật đầu tư cho
TTCK đặc biệt là hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống mạng và
đường truyền của các TTGDCK, công ty chứng khoán, ngân hàng
lưu ký còn ở trình độ thấp. Chưa thiết lập được một hệ thống mạng
điện tử diện rộng để kết nối toàn thị trường.
- Năng lực, trình độ của cán bộ quản lý, cán bộ hoạch định
chính sách, các nhân viên hành nghề còn ở trình độ thấp, chưa đáp
ứng được với yêu cầu phát triển của thị trường chứng khoán phi tập
trung trong tương lai. Việc đào tạo, phổ cập kiến thức chứng khoán,
TTCK ra công chúng đã làm nhiều nhưng chưa đủ.
- Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là doanh

1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Về mô hình quản lý TTCK OTC: Hầu hết các nước có TTCK
OTC phát triển đều áp dụng cơ chế quản lý thị trường này theo mô
hình 2 cấp: cấp quản lý Nhà nước do Uỷ ban chứng khoán thực hiện
và cấp tự quản do Hiệp hội kinh doanh chứng khoán hoặc Sở giao
dịch thực hiện.
- Về cấu trúc thị trường chứng khoán OTC: cấu trúc thị
trường chứng khoán thườ
ng bao gồm: Sở giao dịch dành cho các loại

10
chứng khoán của các công ty có quy mô vốn lớn và rất lớn, nhiều
loại hình của TTCK phi tập trung tương ứng với quy mô vốn và tính
chất của các loại hình công ty.
- Về mô hình tổ chức hệ thống giao dịch: Kinh nghiệm các
nước cho thấy, một tổ chức có thể điều hành và cung cấp nhiều hình
thức giao dịch khác nhau. Nasdaq có thể vận hành thị trường Nasdaq
NMS, Nasdaq Smallcap đồng thời cung cấp mạng điện tử báo giá và
khối lượng cho thị trường OTC BB và cũng tương tự như vậy đối với
thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc.
- Về tổ chức TTCK OTC trái phiếu: Kinh nghiệm các nước
cho thấy, các giao dịch trái phiếu thường diễn ra giữa các nhà đầu tư
có tổ chức với khối lượng giao dịch lớn, hình thức thanh toán rất linh
hoạt, đặc biệt thích hợp với cơ chế thoả thuận của TTCK OTC.
- Về năng lực của các công ty chứng khoán: vai trò của các
công ty chứng khoán được đánh giá rất cao trong TTCK OTC, nhất
là các công ty chứng khoán thực hiện vai trò nhà tạo lập thị trường.
Vì vậy, các công ty phải đầu tư nhiều hơn về cơ sở vật chất kỹ thuật,
công nghệ, không ngừng nâng cao chất lượng chuyên môn và nâng
chất lượng phục vụ, ngoài ra còn phải có đạo đức nghề nghiệp tốt.

trên nhiều phương diện;
- Góp phần làm lành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp, góp
phần phát triển kinh tế đất nước thông qua chế độ công bố thông tin
và nâng cao quản trị doanh nghiệp;
- Tạo thị trường giao dịch cho các chứng khoán chưa niêm yết
trên thị trường tập trung, hoàn thiện môi trường huy động và phân bổ
nguồn vốn cho các doanh nghiệp;
- Thu hẹp thị trường tự do, tạo sự công bằng cho mọi đối tượng
tham gia thị trường, hạn chế rủi ro, giúp phát triển thị trường ổn định,
hiệu quả;
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán và là cơ sở để
đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp;
- Thị trường chứng khoán phi tập trung ra đời sẽ là một trong
những yếu tố đáp ứng yêu cầu hội nhập.
2.3. Đánh giá những điều kiện của Việt Nam khi hình thành và
phát triển TTCK OTC
2.3.1. Những thuận lợi khi xây dựng TTCK OTC ở Việt Nam
- Phát triển thị trường chứng khoán một cách đồng bộ nhằm
hoàn thiện thị trường tài chính luôn là mục tiêu xuyên suốt của Đảng
và Chính phủ trong thời gian qua.
- Hàng hoá đủ điều kiện giao dịch trên thị trường chứng khoán

14
thoả thuận, là phương thức giao dịch tiêu biểu của TTCK OTC.
+ Về thời gian giao dịch: Từ ngày 01/6/2006 TTGDCKHN tổ
chức giao dịch tất cả các ngày làm việc trong tuần.
+ Về hoạt động công bố thông tin: Hoạt động công bố thông
tin được TTGDCKHN đặc biệt coi trọng nhằm tạo ra một thị trường
công khai, minh bạch, cung cấp thông tin bình đẳng cho tất cả các
nhà đầu tư.

khoán phi tập trung.
Để khắc phục những hạn chế trên và nhằm đáp ứng yêu cầu
của các cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập, ngày 23 tháng 6
năm 2006 Quốc hội đã thông qua Luật chứng khoán theo đề nghị của
Chính phủ. Luật chứng khoán có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1
năm 2007. Tuy nhiên, đến nay các văn bản hướng dẫn thi hành luật
vẫn chưa hoàn chỉnh, các quy chế, qui trình nghiệp vụ vẫn chưa được
ban hành, công tác tuyên truyền phổ biến Luật còn nhiều hạn chế.
Hệ thống các văn bản pháp lý nói chung còn chưa đồng bộ,
nhiều hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng
khoán chưa được điều chỉnh trong các luật liên quan.
2.1.2.Thực trạng hàng hoá trên TTCK tập trung
- Về thị trường cổ phiếu: Đến ngày 31 tháng 12 năm 2007 đã
có 253 công ty niêm yết giao dịch. Trong đó, trên Sở GDCK TpHCM
là 141 và trên TTGDCKHN là 112. Các công ty niêm yết đều làm ăn
hiệu quả và thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin đầy đủ, hiện nay có
rất nhiều công ty phát hành thêm để tăng vốn qua TTCK.
Quy mô vốn hoá của thị trường tăng đều qua các năm, nhưng
đặc biệt tăng nhanh vào những tháng cuối năm 2006 và đầu năm 2007.
Mức vốn hoá thị trường tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2007 đạt
44,83% GDP tăng gấp hơn 2 lần so với đầu năm 2006.
Bảng so sánh mức vốn hoá thị trường
Indonesia Philippine Sirilanka Trung
Quốc
Hàn
Quốc
Việt
Nam
29,5% 34% 19% 27% 51% 44,83%
Nguồn:Tài liệu làm việc của UBCKNN với chuyên gia ADB

1/12/2007 Tổng cộng
KLGD 390 562.040 1.210.550
2
4.739.54
0
168.318.268
2
03.822.40
4
412.149.140 1.131.693.06
7
1.942.495.399
GTGD
(tr.đ)
39,21 58.148,32 113.985
2
.464.18
6
17.546.85
4

2
1.014.85
3
42.044.492 116.984.299 200.226.790
Nguồn:Báo cáo tổng kết năm 2007 của UBCKNN
2.1.3.Thực trạng hoạt động tại Sở GDCK Thành phố Hồ Chí Minh
và TTGDCK Hà Nội
- Thực trạng hoạt động tại Sở GDCK TpHCM: Được thành
lập theo quyết định số 127/1990/QĐ-TTg ngày 11 tháng 7 năm 1998

100
1170.67
751.77
189
130
277
307
632.69
399
571
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
7
/
2
0
0
0
0
3
/
2
0
0

7
/
2
0
0
4
0
3
/
2
0
0
5
1
1
/
2
0
0
5
0
7
/
2
0
0
6
3
/
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status