Thị trường chứng khoán & các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả chứng khoán - Pdf 13

MỞ ĐẦU
I.Đặt vấn đề
Thị trường chứng khoán là yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện
đại. Người ta nói : thị trường chứng khoán chính là “Hàn thử biểu” của nền
kinh tế. Thật vậy, mọi biến động của kinh tế – chính trị – xã hội sẽ tác động
tức thời ngay trên thị trường chứng khoán & qua sự thăng trầm của các chỉ số
giá cả chứng khoán người ta có thể thấy rõ mức độ ảnh hưởng Êy tác động
đến thế nào.
Trong sự vận dộng của các nền kinh tế trên thế giới thì thị trường chứng
khoán là hình ảnh phản chiếu “khách quan” nhất về tình hình kinh tế cơ bản.
Giờ đây, thị trường chứng khoán đã trở thành một định chế tài chính không
thể thiếu được trong dời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị trường.
Đối với bất kỳ quốc gia nào, việc thực hiện các mục tiêu chiến lược phát
triển kinh tế–xã hội phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn huy động vốn. Việc
huy động vốn không phải chỉ ở việc sử dụng nhiều hình thức thu hút tiền gửi
ngắn hạn, trung & dài hạn qua ngân hàng & các trung gian tài chính để cho
vay theo lãi suất thị trường–vì đó mới chỉ là việc sử dụng các công cụ tạo lập
vốn gián tiếp. Vấn đề là phải khuyến khích & tăng cường sử dụng các công cụ
tạo lập vốn trực tiếp bằng cách phát hành chứng khoán & hình thành kênh huy
động vốn mới - đó là Thị trường chứng khoán với mục tiêu la thu hút nhiều
hơn nữa các nguồn vốn phục vụ cho việc đầu tư dài hạn để phát triển kinh tế –
xã hội. Để đạt được điều này, một trong những vấn đề được đặc biệt quan tâm
là - phải nghiên cứu đến sự vận động của giá cả chứng khoán & các nhân tố
ảnh hưởng đến giá chứng khoán trên thị trường. Sự biến động về giá cả của
các chứng khoán thông qua sự thăng trầm của các chỉ số giá cả chứng khoán
trên thị trường là một hiện tượng kinh tế tất yếu. Chứng khoán là một loại
hàng hoá đặc biệt; giá cả của nó chịu sự tác động chủ yếu của quy luật cung –
cầu trên thị trường nhưng cơ chế hình thành giá cả chứng khoán không giống

như các loại hàng hoá dịch vụ thực của nền kinh tế quốc dân. Sự vận động
của giá cả chứng khoán trên thị trường cho thấy những nét đặc thù của nó.

TC-NH,ĐH KTQD cùng các các bạn bè đã giúp đỡ em hoàn thành đề án này.
II. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề án tập trung vào các vấn đề :
Hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán; tính quy
luật & nhu cầu tất yếu của sự hình thành & phát triển thị trường chứng khoán
trong nền kinh tế hiện đại; hệ thống pháp lý về thị trường chứng khoán.
Chứng khoán & các đặc điểm của chứng khoán.
Nghiên cứu về cơ chế hình thành, sự vận động & các nhân tố ảnh hưởng
đến giá cả chứng khoán.
Đưa ra một số chính sách làm chủ, giữ gìn thị trường chứng khoán Việt
Nam phát triển lành mạnh & hiệu quả.
III. Ý nghĩa khoa học & thực tiễn của đề tài
Việc hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán; phân
tích cơ chế hình thành, sự vận động & các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả
chứng khoán có ý nghĩa rất to lớn về mặt lý luận & thực tiễn. Nó rất cần thiết
trong việc hiểu & nhìn nhận thấu đáo hơn về thị trường chứng khoán, về sự
vận hành của nó trong môi trường của nền kinh tế – chính trị –xã hội, trong
khuôn khổ của luật pháp. Từ những vấn đề được đưa ra nghiên cứu của đề tài
này phần nào sẽ góp Ých cho đưa ra các giải pháp làm chủ & giữ gìn thị
trường chứng khoán Việt nam phát triển lành mạnh nhằm huy động tối đa mọi
nguồn vốn cho đầu tư phát triển nền kinh tế – xã hội của đất nước trong giai
đoạn đổi mới hiện nay, đồng thời tạo thói quen & niềm tin cho mọi thành viên
khi tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam.

Phần I : Thị trường chứng khoán
I. Khái niệm về thị trường chứng khoán
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về thị trường chứng khoán, mỗi khái niệm
chỉ cung cấp được một số vấn đề nào đó về thuật ngữ “Thị trường chứng
khoán” trong đời sống kinh tế. Tuy vậy, khái niệm được sử dụng phổ biến là:
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển

hàng hoá như: nông sản, khoáng sản, ngoại tệ & giá khoán động sản… Điểm
đặc biệt là trong những cuộc thương lượng này các thương gia chỉ dùng lời
nói để trao đổi với nhau, không có hàng hoá, ngoại tệ, giá khoán động sản hay
bất cứ một loại giấy tờ nào. Những cuộc thương lượng đó nhằm thống nhất
các “Hợp đồng” mua bán, trao đổi thực hiện ngay & cả những hợp đồng sẽ
thực hiện trong tương lai.
Những cuộc trao đổi này lúc đầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số người
tăng lên. Đến cuối thế kỉ 15,”khu chợ riêng” này trở thành một “thị trường” &
được họp hầu như thường xuyên. Trong các phiên họp chợ này, họ thống
nhất với nhau những quy ước cho các cuộc thương lượng. Dần dần, những qui
quy ước đó được
hoàn chỉnh dần & trở thành những quy tắc có giá trị bắt buộc đối với những
người tham gia. Cũng từ đó thị trường chứng khoán bắt đầu hình thành
Quá trình hình thành & phát triển của các thị trường chứng khoán trên thế
giới đã trải qua những bước thăng trầm. Thời kì huy hoàng nhất vào những
năm 1875-1913, thị trường chứng khoán phát triển mạnh cùng với sự tăng
trưởng của nền kinh tế. Nhưng đến ngày được gọi là “Ngày thứ năm đen tối”
thì “Một sự kiện đau buồn để lại bóng đen bao trùm lên các thị trường chứng
khoán trong nhiều thập kỷ là cuộc hoảng loạn & sụp đổ năm 1929. Sự kiện
dẫn đến cuộc Đại suy thoái đau đớn & kéo dài trong những năm 30 của thập
kỉ. Khủng hoảng thị trường chứng khoán năm 1929 keo theo cuộc đại khủng

hoảng kinh tế 1929-1933. Đến giai đoạn khủng hoảng sâu sắc nhất của cuộc
suy thoái, năm 1933 thị trường đã giảm 85%”(Paul A.Samuelson. Kinh tế
học). Sau chiến tranh thế giới II, các thị trường chứng khoán hồi phục trở lại
& phát triển mạnh. Nhưng rồi “Cuộc khủng hoảng tài chính” 1987 một lần
nữa lại làm cho các thị trường chứng khoán thế giới suy sụp, Kiệt quệ nặng nề
hơn.”Vào ngày 19/10/1987” - “Ngày thứ hai đen tối” - “Thị trường chứng
khoán đã mất đi 22% giá trị của nó chỉ trong 6 tiếng đồng hồ”
(Paul A.Samuelson. Kinh tế học). Nhưng cũng chỉ sau 2 năm, thị trường

nguồn vốn từ n ơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi có hiệu quả hơn.
Mở rộng nền tảng của quyền sở hữu: thị trường chứng khoán là nơi diễn ra
các quá trình chuyển nhượng quyến sở hữu về vốn hết sức thuận lợi & là môi
trường cho việc đa dạng hoá các chủ thể sở hữu về vốn ở các doanh nghiệp.
Tạo điều kiện cho nhiều ngời sử dụng vốn đầu tư. Đồng thời luôn bảo đảm
& phục vụ cho mọi đối tượng có nhu cầu về vốn để dầu tư cho sản xuất.
Bảo đảm sẵn sàng cấc nguồn vốn cho việc đầu tư dài hạn. Khác với ngân
hàng, thị trường chứng khoán luôn sẵn sàng cung cấp vốn dài hạn kịp thời,
đúng lúc & đủ số lượng cần thiết cho các doanh nghiệp mà không phải thông
qua thủ tục hành chính khắt khe, mức độ cho vay hạn chế.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính.
Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư nược ngoài & nâng
cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư này.
3.2 Nguyên nhân khách quan của sự hình thành thị trường chứng khoán
Hệ thống tài chính trong nền kinh tế thị trường bao gồm nhiều tổ chức trung
gian với các nghiệp vụ hết sức đa dạng. Tuy vậy, một hệ thống tài chính hoàn
chỉnh & hoạt động có hiệu quả ở tất cả các nước đang phát triển không thể
không có sự tham gia hoạt động của thị trường chứng khoán.
Việc hình thành thị trường chứng khoán là một hiện tượng kinh tế cần thiết
khi phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Kinh nghiệm thế giới cho
thấy, các nước phát triển theo cơ chế thị trường đều phải tuân theo quy luật

khắt khe của thị trường : quy luật giá trị & các quy luật của quan hệ cung –
cầu. Do đó, nền kinh tế thị trường đòi hỏi khách quan phải có các thị trường
dành riêng cho từng loại. Trong cơ cấu của thị trường thì ben cạnh thị trường
hàng hoá, còn có thị trường tư liệu sản xuất, thị trường sức lao động, thị
trường dịch vụ thông tin & thị trường chứng khoán. Điều đó chứng tỏ thị
trường chứng khoán là một yếu tố cấu thành đặc biệt quan trọng của nền kinh
tế thị trường, nó có đầy đủ các đặc trưng của một thị trường; nó tồn tại khách
quan & hầu hết đều hình thành một cách tự phát dưới tác động của hàng loạt

chứng khoán hoạt động lành mạnh, đều đặn, ngày càng phát triển, bảo vệ
được quyền lợi của người mua & ban chứng khoán.
4.2 Nguyên tắc đấu giá
Việc định giá chứng khoán trên thị trường hoàn toàn là do các nhà môi giới
thực hiện. Mỗi người môi giới định giá một loại chứng khoán tuỳ thuộc vào
số lượng cung cầu loại chứng khoán đó trên thị trường bằng sự xét đoán kinh
nghiệm & kỹ thuật riêng của mình thông thương lượng trong đấu giá giữa
những người môi giới mua với những người môi giới mua khác; giữa những
người môi giới bán với những người môi giới bán khác hoặc thực hiện qua
thương lượng trực tiếp giữa hai bên.Nguyên tắc đấu giá được xác định là:
người đặt giá bàn thấp hơn sẽ được ưu tiên hơn người đặt giá bán cao &
người trả giá cao hơn sẽ được ưu tiên hơn người trả giá thấp. Có 3 hình thức
đấu giá cơ bản mà thị trường chứng khoán thường áp dụng:
4.2.1 Đấu giá trực tiếp:
Là hình thức đấu giá theo cách mà các nhà môi giới trực tiếp gặp nhau
thông qua mét người trung gian(chuyên gia chứng khoán) tại quầy giao dịch
trong sàn giao dịch. Giá cả chứng khoán sẽ được xác định khi hai bên đã
thống nhất. Không ai có quyền định giá chứng khoán một cách độc đoán.
4.2.2 Đấu giá gián tiếp

Là hình thức mà các nhà môi giới không trực tiếp gặp nhau mà thông qua
các công ty chứng khoán. Các công ty này thường xuyên điều chỉnh & công
bó giá cao nhất mà họ sẵn sàng mua vào & mức giá thấp nhất mà họ sẵn sàng
bán ra cho mỗi loại chứng khoán theo diễn biến của tình hình. Thông tin này
được chuyển đến cho các công ty chứng khoán thành viên có liên quan của
SGDCK thông qua hệ thống máy vi tính nối mạng giữa họ. Những lệnh đặt
mua –bán của một loại chứng khoán so khớp về giá mặc nhiên được thực
hiện.
4.2.3 Đấu giá tự động
Là hình thức đấu giá qua hệ thống máy tính nối mạng giữa máy chủ của

giao dịch mà hoàn toàn là sự thoả thuận của người mua & bán. Trên thị
trường OTC chủ yếu diễn ra cấc cuộc trao đổi về cổ phiếu của các tổ chức
phát hành nhỏ. Thị trường này là một hệ thống bổ xung cho thị trường chứng
khoán tập trung.
5.2 Căn cứ vào quá trình luân chuyển của chứng khoán
5.2.1 Thị trường sơ cấp (primary market)
Là thị trường diễn ra hoạt động giao dịch mua bán những chứng khoán mới
phát hành lần đầu, kéo theo sự tăng thêm quy mô vốn đầu tư cho các tổ chức
phát hành. Về nguyên tắc, thị trường sơ cấp hoạt động dưới sự giám sát của
Bộ tài chính & phải được Bộ chấp thuận. Vì vậy, cơ cấu của nó gồm đủ các
yếu tố tạo lập chứng khoán như: hình thức chứng khoán, phương thức phát
hành, cách định giá chứng khoán, thủ tục tăng vốn, các nghiệp vụ giao dịch
mua bán chứng khoán, các yếu tố pháp lý có liên quan tới việc thanh toán,
đăng ký lưu giữ & bảo quản chứng khoán…
5.1.2 Thị trường chứng khoán thứ cấp (secondary market)( Hay còn gọi là
SGDCK )
Là thị trường diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán đã
được phát hành; tức là việc mua bán tiếp theo sau lần mua bán đầu tiên ở thị

trường sơ cấp. Thị trường này không làm tăng thêm quy mô đầu tư vốn,
không thu hút thêm được các nguồn tài chính mới cho tổ chức phát hành.
Thị trường thứ cấp là thị trường có chức năng luân chuyển vốn bằng việc
mua đi bán lại các chứng khoán. Thị trường thức cấp là bộ phận hợp thành
thứ hai cần thiết cho sự vận hành của thị trường chứng khoán. Nó có vai trò
riêng khác biệt nhưng cũng đồng thời tác động đến sự phát triển của thị
trường sơ cấp. Nó bảo đảm tính thanh khoản cho các chứng khoán, liên tục
định lại giá của các chứng khoán có trong biểu giá. Việc mua bán, chuyển
nhượng các chứng khoán trên thị trường thứ cấp chỉ làm thay đổi về sở hữu
chứng khoán của các chủ thể nắm giữ nó. Không có thị trường thứ cấp thì thị
trường sơ cấp không thể hoạt động tốt được. Thông qua thị trường sơ cấp,

hoàn thiện thị trường chứng khoán là một chiến lược phát triển kinh tế trước
mắt cũng như lâu dài:
- Khuyến khích tiết kiệm, tạo thói quen để dành tích cực:
Thị trường chứng khoán tạo cơ hội thuận tiện khuyến khích mọi người dân
tiết kiệm và biết cách sử dụng tiền tiết kiệm một cách tích cực mang lại hiệu
quả kinh tế thông qua việc đầu tư vào các loại chứng khoán. Mỗi người trong
xã hội chỉ có một số tiền tiết kiệm nhỏ bé nhưng tổng số tiền đó của xã hội sẽ
lớn hơn bất cứ tài sản của cá nhân nào.
Mặt khác, trong xã hội cũng luôn tồn tại các quỹ tiền tệ tập trung như ngân
hàng đầu tư, ngân hàng thương mại, quỹ bảo hiểm, quỹ đầu tư v.v. đều nhằm
mục đích khuyến khích tiết kiệm nhưng các quỹ tiền tệ này cũng chỉ mang lại
hiệu quả cao khi có một thị trường chứng khoán tồn tại song hành với nó.
- Công cụ bảo đảm tính thanh khoản cho số tiết kiệm phục vụ đầu tư dài hạn:
Vai trò này của thị trường chứng khoán thể hiện qua việc bảo đảm cho quá
trình chuyển các chứng khoán có giá trị tiền mặt. Đây chính là một trong
những yếu tố quan trọng để thu hút các nhà đầu tư đến với thị trường chứng

khoán. Thị trường chứng khoán hoạt động càng hữu hiệu thì tính thanh khoản
càng cao.
- Công cụ đo lường biểu hiện tình hình, khả năng kinh doanh của doanh
nghiệp: Những thông tin doanh nghiệp cung cấp cho các nhà đầu tư trên thị
trường chứng khoán qua các bảng phân tích đánh giá năng lực sản xuất của
doanh nghiệp, triển vọng của doanh nghiệp trên thị trường , khả năng sinh lợi
của hoạt động sản xuất kinh doanh, xu thế phát triển của doanh nghiệp trong
thời kỳ tương lai. Mặt khác, với tính chất đặc biệt nhạy bén của thị trường
chứng khoán, sự lên xuống giá cả chứng khoán trên thị trường cũng nói lên sự
biến động của giá trị doanh nghiệp tại bất cứ thời điểm nào.
- Thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho các doanh nghiệp làm ăn có hiệu
quả hơn . Với nguyên tắc hoạt động chủ đạo trên thị trường chứng khoán là
công khai, công bằng và trung thực, mọi thông tin về doanh nghiệp đều được

trường chứng khoán thứ cấp.
+ Ngân hàng Trung ương có thể thực hiện việc điều hoà lưu thông tiền tệ
qua sù can thiệp trên thị trường mở. Khi áp dụng chính sách mở rộng tiền tệ
(bơm tiền ra lưu thông), Ngân hàng Trung ương sẽ mua nhiều loại chứng
khoán với số lượng lớn & ngược lại, khi theo đuổi chính sách thắt chặt tiền tệ,
Ngân hàng Trung ương có thể bán các chứng khoán đó ra trên thị trường
chứng khoán thứ cấp để “hút” bớt tiền có trong lưu thông tiền về.
7.2 Các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán với tư cách là người tạo
hàng hoá cho thị trường chứng khoán tại thị trường sơ cấp & là người mua
bán chứng khoán tại thị trường chứng khoán thứ cấp.
Các công ty cổ phần phát hành Chính phủ để bán ra lấn đầu trên thị trường
sơ cấp nhằm tạo vốn khi mới thành lập, hoặc phát hành thêm cổ phiếu, trái
phiếu để tăng vốn bổ xung cho quá trình sản xuất – kinh doanh của mình.

Các doanh nghiệp khấc cũng có thể phát hành trái phiếu để bổ xung thêm
vốn cho việc mở rộng quy mô sản xuất – kinh doanh của mình.
Các doanh nghiệp không thể chỉ là chủ thể bán chứng khoán mà nó còn là
người mua chứng khoán do các công ty khác phát hành nhằm tạo mục đích sát
nhập, thủ tiêu đối thủ cạnh tranh, khống chế hoặc thao túng để nắm quyền
kiểm soát các công ty đó. Cũng có khi họ mua chứng khoán của các tổ chức
khác chỉ với mục đích đơn giản là tìm kiếm thêm lợi nhuận…
7.3 Các cá nhân, hộ gia đình
Đây là chủ thể tha gia thị trường chứng khoán với tư cách là người mua
chứng khoán quan trọng nhất. Họ là những người có tiền tiết kiệm & muốn
đầu tư số tiền để dành của mình vào việc mua chứng khoán để được hưởng lợi
tức hàng năm. Họ còn là những người bán lại các chứng khoán của mình trên
thị trường chứng khoán thứ cấp để rót vốn ra trước hạn hoặc để nhận được
khoản chênh lệch giá thặng dư. Họ tham gia thị trường bàng hai cách : trực
tiếp hoặc gián tiếp qua quỹ tương hỗ, quỹ đầu tư chứng khoán…

không thể dự đoán được giá trị tương lai của nã. Việc định giá chứng khoán
trên thị trường hoàn toàn thuộc về người môi giới. Khi thực hiện nghiệp vụ
này họ được hưởng một khoản phí hoa hồng. Họ không nắm giữ chứng khoán
trong quá trình hành nghề của mình nên không gặp các rủi ro về sự biến động
của giá cả các chứng khoán.
Những người kinh doanh chứng khoán nối kết người bán & người mua
chứng khoán bằng cách họ đứng ra mua chứng khoán của người bán sau đó
bán lại cho người mua khác những chứng khoán này với giá cao để hưởng
chênh lệch giá. Họ là những người nắm giữ chứng khoán nên thường gặp
những rủi ro lớn ví sự biến động của giá cả chứng khoán trên thị trường.
VIII. Phát hành, niêm yết & giao dịch chứng khoán
8.1 Phát hành chứng khoán

Việc phát hành chứng khoán ra thị trường cũng giống như việc đưa hàng
hoá ra bán. Đây là một giai đoạn cực kỳ quan trọng , quyết định đến việc
chứng khoán có bán được hay không, nhanh hay chậm, giá bán cao hay thấp.
Trước khi quyết định mở đợt phát hành chứng khoán nào đó ra thị trường, tổ
chức phát hành cần phải chuẩn bị kế hoạch như: xin báo giá cho các dịch vụ,
xin đăng ký vào tham gia vào thị trường chứng khoán, đề nghị các cơ quan
pháp lý chấp thuận; chuẩn bị tài liệu chào bán, quản lý thông tin báo chí, liên
hệ với đại lý, bảo lãnh uỷ thác phát hành… Các vấn đề này có ảnh hưởng rất
quan trọng đến kết quả của đợt phát hành chứng khoán.
8.1.1 Phát hành chứng khoán công ty
Một công ty cổ phần có thể phát hành 2 loại chứng khoán: phát hành cổ
phiếu để huy động vốn điều lệ khi thành lập công ty hoặc tăng vốn điều lệ &
phát hành trái phiếu nhằm bổ xung vốn lưu động để phục vụ cho hoạt động
sản xuất – kinh doanh của mình.
Các hình thức phát hành gồm có:
- Phát hành hành trực tiếp tại doanh nghiệp
Chứng khoán phát hành được bán cho các cổ đông là CBCNV của doanh

Hội đồng quản trị của SGDCK phê chuẩn cho phép niêm yết.
8.2.1 Khái niệm
Niêm yết là việc định danh các chứng khoán để giao dịch trên SGDCK bao
gồm: yết tên công ty hoặc tên tổ chức phát hành chứng khoán,yết chứng
khoán & giá của chúng lên mét bảng chính thức trên SGDCK.
8.2.2 Các lại yết giá chứng khoán
- Niêm yết ban đầu:
Là việc yết tên chứng khoán(tên công ty) trên SGDCK lần đầu tiên sau
khi công ty đã thoả mãn các yêu cầu chào bán công khai.
- Niêm yết tiếp sau:
Một công ty đã niêm yết chứng khoán của mình trên SGDCK có thể thực
hiện các niêm yết tiếp sau nhằm tăng vốn, sát nhập.

- Niêm yết chéo:
Đây là hình thức chứng khoán của các công ty vừa được niêm yết trên
SGDCK trong nước, vừa được niêm yết trên SGDCK nước ngoài.
8.3 Quy trình giao dịch mua bán chứng khoán
8.3.1 Các giao dịch tại SGDCK
1. Giao dịch trả tiền ngay (cash transaction)
Là giao dịch mà trong đó quy định việc trả tiền & nhận chứng khoán xảy
ra trong ngày kí hợp đồng hoặc chậm nhất là 1 ngày do hai bên thoả thuận.
Đặc điểm
Của giao dịch này là có Ýt rủi ro & các loại phí & thuế chỉ tính một lần hoặc
la tính vào giá ,mua hoặc tính vào giá bán.
2. Giao dịch kì hạn (forward transaction)
Là giao dịch mua bán chứng khoán mà giá cả được Ên định lúc kí hợp đồng,
nhưng thanh toán & giao nhận chứng khoán được thực hiện trong một ngày
hoặc trong một khoảng thời gian nhất định của tương lai.
3. Giao dịch tương lai (futures transaction)
Là giao dịch mua bán hợp đồng tương lai về một loại chứng khoán nhất

Xét về mặt nội dung, hệ thống luật pháp về thị trường chứng khoán đề cập
đến 3 vấn đề chủ yếu sau:
9.1 Quản lý nhà nước đối với sự hình thành, tổ chức hoạt động & phát triển
thị trường chứng khoán
Bất kỳ nền kinh tế thị trường phát triển nào cũng cần có sự điều tiết của
nhà nước. Mức độ & phạm vi điều tiết của nhà nước như thế nào tuỳ thuộc
vào trình độ phát triển của những quan hệ thị trường & một loạt những nhân
tố cụ thể khác. Quản lý nhà nước đối với việc hình thành & phát triển thị
trường chứng khoán là một nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế thị
trường nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi để mọi chủ thể tham gia các qh
trên thị trường chứng khoán khai thác được tối đa những thế mạnh của thị

trường chứng khoán & hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực
của nó. Mặt khác nhằm tạo ra những điều kiện thực tế & thuận lợi phù hợp
với những đặc điểm kinh tế – chính trị – xã hội của đất nước trong mỗi giai
đoạn phát triển lịch sử cụ thể để thị trường chứng khoán ổn định, phát triển,
hoạt động lành mạnh & có hiệu quả.
Nhà nước quản lý đối với sự hình thành & phát triển thị trường chứng
khoán được thực hiện dưới nhiều hình thức & bằng nhiều công cụ khác nhau,
chẳng hạn thông qua việc ban hành Luật thị trường chứng khoán,luật về
SGDCK; thực hiện các chính sách nhà nước về tài chính, tiền tệ, tín dụng, đầu
tư, lãi suất, tỷ giá, thuế…
Nhà nước tổ chức & cho phép thành lập các tổ chức, cá nhân tiến hành
những hoạt động kinh doanh vốn, tiền tệ bằng sự kiểm tra, giám sát việc thực
hiện các chính sách & pháp luật về tổ chức & hoạt động của thị trường chứng
khoán.
9.2 Xác lập các quy chế pháp lý của các chủ thể tham gia các quan hệ trong
lĩnh vực thị trường chứng khoán
Khi tham gia vào các quan hệ thị trường chứng khoán, giữa các chủ thể đã
hình thành những quan hệ nhất định. Để những hoạt động hết sức năng động

thống điện tử) do các công ty cổ phần phát hành xác nhận quyền sở hữu hợp
pháp của người có cổ phiếu với tài sản của người phát hành.
Cổ phiếu có thể được chia ra thành các loại như sau:

Cổ phiếu thường: thể hiện quyền sở hữu được bỏ phiếu đối với một công ty
cổ phần.
Cổ phiếu ưu đãi: cũng giống cổ phiếu thường nhưng những cổ đông sở hữu
nó có thể được hưởng một số ưu đãi hơn so với những cổ đông thường, ví dụ
có thể được nhận cổ tức trước cổ đông thường hay có quyền ưu tiên được
nhận tài sản trước trong trường hợp công ty bị giải thể
Trong cổ phiếu ưu đãi lại có nhiều loại:
Cổ phiếu ưu đãi tích luỹ và không tích luỹ.
Cổ phiếu ưu đãi tham dự và không tham dù chia phần.
Cổ phiếu ưu đãi có quyền chuyển đổi thành cổ phiếu thường.
Cổ phiếu ưu đãi có quyền chuộc lại.
Chứng khoán ngân quỹ.
Chứng khoán trôi nổi.
- Trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng từ (ghi ở dạng văn bản hay trên hệ thống
điện tử) chứng nhận quyền đòi nợ (cả gốc và lãi) của trái chủ (người sở hữu
trái phiếu) với người phát hành. Trái phiếu thường được phát hành do Chính
phủ trung ương, địa phương, các công ty, tổ chức phát hành.
Trái phiếu có hai loại chính là trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ
- địa phương.
Với trái phiếu công ty người ta lại có thể phân thành các loại chính:
Trái phiếu vô danh.
Trái phiếu ghi tên.
Trái phiếu có thể thu hồi.
Trái phiếu có thể chuyển đổi.
Trái phiếu bảo đảm: trái phiếu có tài sản thế chấp hoặc cầm cố.

Trích đoạn Cỏc nhõn tố ngoại sinh Cỏc nhõn tố can thiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status