Lời Mở Đầu
1) Đặt vấn đề:
Trong một vài năm trở lại đây Việt Nam đã có được nhiều thuận lợi trên con đường hội
nhập quốc tế, đặc biệt từ khi gia nhập WTO nền kinh tế càng có bước phát triển mạnh mẽ,
biểu hiện điển hình là sự sôi nổi của thị trường chứng khoán trong năm 2006 và 2007 đã đưa
thị trường chứng khoán Việt Nam vượt lên xếp thứ 24 thế giới về tốc độ tăng trưởng. Tuy
nhiên bên cạnh những thuận lợi ta cũng gặp phải những khó khăn không ít. từ giữa năm 2007,
lạm phát đã tác động xấu đến toàn bộ nền kinh tế của nước ta nói chung cũng như góp phần
tạo nên một bức tranh đỏ ảm đạm trên Thị Trường Chứng Khoán nói riêng. Do sự phát triển
quá nhanh và quá nóng đối với một thị trường còn quá non trẻ và sự thiếu kinh nghiệm, thiếu
hiểu biết của những nhà đầu tư ngắn hạn đã tạo ra những rủi ro đáng tiếc, cùng với sự ảnh
hưởng của tình hình kinh tế thế giới, thị trường bất động sản, vàng,… đã làm cho thị trường
chứng khoán nước ta có nhiều biến động đáng kể, biểu hiện rõ ràng nhất là sự biến động về
giá, bởi giá cả chính là yếu tố quyết định trong chứng khoán.
Giống như mọi hoạt động kinh tế khác, hoạt động trên trên thị trường chứng khoán cũng
diễn ra theo chu kỳ tăng-giảm-tăng. Vào thời kỳ giá gia tăng, TTCK gọi nó là “ bull market”.
Bull là con bò tót. Người ta cũng dùng tiếng lóng ‘’bull” để chỉ người lạc quan thường đẩy
cho giă cả tăng. Thời kỳ giá giảm sút được gọi là “bear market”. “Bear” là con gấu. Người ta
gọi “bear” nhìn tình hình bi quan và làm cho giá giảm xuống. Giá cả ở TTCK là một cuộc đấu
tranh giữa hai loại người này. Vậy tại sao lại có sự lên xuống của giá cả? Những nhân tố nào
đã làm nên sự thay đổi này ? Đây chính là mối quan tâm nhất của nhiều nhà đầu tư tham gia
vào TTCK và cũng là lý do chọn đề tài “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ
CHỨNG KHOÁN” với mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ về các nhân tố ảnh
hưởng tới Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam trong thời gian qua để các nhà đầu tư tham gia
thị trường chứng khoán có thể khắc phục hay làm giảm sự ảnh hưởng đó đến mức tối thiểu
đối với việc quản lý của nhà nước, các doanh nghiệp.
Do đề tài còn mới mẻ, thời gian nghiên cứu hạn hẹp,nghiên cứu trên quy mô tổng thể nói
chung nên việc phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến giá chứng khoán một cách toàn
diện và xác thực là điều rất khó khăn rất mong được sự góp ý của các thầy (cô) giáo cùng các
bạn, để đề tài được hoàn thiện hơn.
2) Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu:
Thị trường chứng khoán là công cụ khuyến khích dân cư tiết kiệm và sử dụng tiền tiết
kiệm này vào đầu tư, từ đó xã hội hóa việc đầu tư.
Thị trường chứng khoán thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả.
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 2
Thị trường chứng khoán góp phần điều hòa vốn giữa các ngành trong nền kinh tế, tạo nên
sự phát triển nhanh và đồng đều trong nền kinh tế.
Thị trường chứng khoán là công cụ thu hút và kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài.
1.3 Phân loại Thị trường chứng khoán:
1.3.1 Căn cứ vào phương tện pháp lý của hình thức thị trường tổ chức thị trường:
Thị trường chứng khoán chính thức ( The stock exchange ) hay còn gọi là thị trường
chứng khoán tập trung, là thị trường chứng khoán hoạt động theo các quy định pháp luật,
là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được đăng ký. TTCK chính thức có địa điểm và
thời gian ,ua bán rõ rệt, giá cả được định theo thể thức đấu giá công khai, có sự kiểm soát
của cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán. TTCK được thực hiện bằng các Sở giao
dịgh chứng khoán.
TTCK phi chính thức ( Over the counter market – OTC ) hay còn gọi là TTCK phi tập
trung là TTCK mua bán chứng khoán ngoài Sở giao dịch, không có địa điểm tập trung
những người môi giói, những người kinh doanh chứng khoán như ở Sở giao dịch chứng
khoán, không có sự kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán, không có
ngày giờ hay thủ tục nhất định mà do sự thỏa thuận của người mua và người bán được
thực hiện bởi các công ty chứng khoán thành viên. Phương thức giao dịch thông qua mạng
điện thoại và vi tính. Các chứng khaons giao dịch trên thị trường này thường là các loại
chứng khoán không được đăng ký, ít người biết hay ít được mua bán.
1.3.2 Căn cứ vào tính chất phát hành hay lưu hành của chứng khoán:
TTCK sơ cấp: TTCK sơ cấp còn gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành các
loại chứng khoán. Đây là nơi diễn ra cá loại hoạt động mua bán chứng khoán mới phát
hành lần đầu, cho phép các chủ thể cần nguồn tài chính tiếp nhận được các nguồn tài
chính bằng việc phát hành các chứng khoán mới, những chứng khoán bán cho người đầu
tiên mua nó nhằm thu hút vốn đầu tư.
TTCK sơ cấp là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành. Thị trường này tập trung các
• Thị trường trái phiếu.
• Thị trường các công cụ và nguồn gốc chứng khoán.
Chương 2: Giới Thiệu Chung Về Giá Chứng Khoán
2.1 Khái niệm chứng khoán:
Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối
với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức
chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
• Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
• Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp
đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
2.2 Đặc điểm và vai trò của chứng khoán:
2.2.1 Đặc điểm:
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 4
Chứng khoán là giá khoán động sản, tức là các công cụ vốn dài hạn.
2.2.2Vai trò:
Chứng khoán là công cụ rất hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường để tạo nên một lượng
vốn tiền tệ khổng tồ tài trợ dài hạn cho các mục đích mở rộng sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp hay các dự án đầu tư của Nhà Nước và tư nhân.
Chứng khoán là giấy tờ có giá trị kinh tế hay nói cách khác đó là công cụ tài chính có
giá trị tương ứng như tiền mặt và được mua bán hoặc chuyển nhượng. Chứng khoán là một
loại hàng hóa rất tiêu biểu trong cơ chế kinh tế thị trường tự do.
2.3 Phân loại chứng khoán:
2.3.1 Căn cứ vào nội dung chứng khoán:
• Chứng khoán nợ là loại chứng khoán do Nhà Nước hoặc các doanh nghiệp
phát hành cần huy động vốn cho các mục đích tài trợ dài hạn. Ví dụ: trái
phiếu.
• Chứng khoán vốn là giấy tờ chứng nhận sự góp vốn kinh doanh vào công ty
cổ phần. Ví dụ: các loại cổ phiếu.
2.3.2 Căn cứ vào hình thức chứng khoán:
• Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không có gi tên người sở hữu trên
phiếu trên thị trường.
Phân tích cơ bản hoàn toàn dựa vào các yếu tố đầu vào và khả năng phân tích
mang tính chủ quan. Vì vậy, cùng một cổ phiếu có thể có nhiều kết quả nhận
định và phân tích khác nhau và phân tích cơ bản thường được coi là bỏ qua yếu
tố tâm lý đầu tư, còn phân tích phân tích kỹ thuật chủ yếu dựa vào nghiên cứu
biến động giá thị trường của cổ phiếu, và tập trung nhấn mạnh vào hành vi biến
động về giá và về khối lượng giao dịch cũng như các xu hướng của hành vi giá
và khối lượng đó.
3.1 Phân Tích Cơ Bản:
3.1.1 Các nhân tố vĩ mô tác động Đến thị trường chứng khoán:
3.1.1.1 Các ảnh hưởng của môi trường chính trị, xã hội và pháp luật:
• Môi trường chính trị cũng có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường chứng khoán,
xã hội luôn có những tác động nhất định đến hoạt động của TTCK. Yếu tố
chính trị bao gồm những thay đổi về chính phủ và các hoạt động chính trị. Tuy
nhiên ở nước ta tình hình chính trị tương đối ổn định nên ta có thể bỏ qua yếu
tố này.
• Môi trường xã hội và pháp luật : Hệ thống chính sách có tác động rất lớn
đến bản thân TTCK và hoạt động của các doanh nghiệp. Mỗi thay đổi chính
sách có thể kéo theo các tác động làm giá chứng khoán tăng hoặc giảm, nhất là
trong những thời điểm nhạy cảm.
Đây là những yếu tố phi kinh tế nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giá chứng
khoán trên thị trường. Nếu những yếu tố này có khả năng ảnh hưởng tích cực tới tình
hình kinh doanh của DN thì giá cổ phiếu của DN sẽ tăng lên.
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 6
3.1.1.2 Các ảnh hưởng kinh tế vĩ mô:
- Tỷ giá hối đoái:
• Tỷ giá hối đoái có tác động đến TTCK trên cả 2 giác độ là môi
trường tài chính và chính bản thân hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
đặc biệt là những doanh nghiệp nhập nguyên liệu hay tiêu thụ sản phẩm ở
nước ngoài.
dẫn đến giá trái phiếu càng nhỏ. Do đó, giữa lãi suất thị trường và lãi suất trái
phiếu có quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất ngân hàng tăng cao hơn lãi suất trái
phiếu, giá trái phiếu sẽ sụt giảm.
• Không chỉ vậy, quan hệ quan hệ giữa lãi suất thì trường và lãi suất chứng khoán
là mối quan hệ gián tiếp tác động đến giá của chứng khoán. Nếu lãi suất thị
trường cao hơn lãi suất chứng khoán thì giá chứng khoán sẽ giảm, điều này
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 7
khiến cho hoạt động trên thị trường chứng khoán giảm sút vì người ta thích gửn
tiền vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán.
3.1.2 Phân tích ngành:
3.1.2.1Lĩnh vực kinh doanh
Trong nền kinh tế, có rất nhiều ngành khác nhau như: dược phẩm, hoá chất
công nghệ thông tin, cơ khí, dịch vụ tài chính…Trong quá trình phân tích cần
xác định ngành nào có triển vọng phát triển để có quyết định đầu tư hợp lý. Doanh nghiệp
đó đang sản xuất - kinh doanh sản phẩm nào là chủ yếu, thể hiện qua tỷ trọng doanh thu
và lợi nhuận của sản phẩm đó trên doanh thu và lợi nhuận của DN. Biết được lĩnh vực
kinh doanh chính của công ty giúp NĐT có cái nhìn rõ nét hơn về những ảnh hưởng có thể
tác động tới DN như môi trường kinh tế vĩ mô, luật pháp, thiên tai, đối thủ cạnh
tranh...Ngoài việc nghiên cứu chính bản thân ngành đó thì những vấn đề như : chính sách
xuất, nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, các quy định về thuế của Chính phủ đối với một
ngành cụ thể nào đó cũng có ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán của ngành này.
Có những ngành khi nền kinh tế đi theo chiều hướng giảm thì giá cả của các cổ
phiếu ngành này cũng không bị ảnh hưởng bao nhiêu, thậm chí là tăng như ngành y dược,
hay công ty kinh doang trong những lĩnh vực liên quan đến các sản phẩm thiết yếu như
gạo.
3.1.2.2 Vốn và cơ cấu vốn:
• Cơ cấu sở hữu vốn: Nhà nước nắm bao nhiêu phần trăm; cổ đông chiến lược,
cổ đông tổ chức, cá nhân nắm số lượng lớn; cổ phiếu lưu hành, số cổ phiếu bị
hạn chế chuyển nhượng. Thông thường, một cổ phiếu có nhiều cổ đông chiến
lược thì tốt trong dài hạn và kỳ vọng của NĐT tăng cao dẫn đến giá của loại
cùng chiều nhau.
3.1.2.3 Giao dịch của nhà ĐTNN và các tổ chức lớn:
• HĐQT bao gồm những ai, tỷ lệ vốn góp của họ; chiến lược đề ra có vì quyền
lợi của cổ đông, liệu có sự phân biệt đối xử giữa cổ đông tổ chức và cổ đông
nhỏ lẻ.
• Số lượng cổ phiếu nắm giữ của thành viên HĐQT, Ban giám đốc, Ban kiểm
soát và những người liên quan: nếu số lượng nắm giữ cổ phiếu càng lớn thì rõ
ràng là họ đều đặt niềm tin vào khả năng tăng trưởng của cổ phiếu và đó là tín
hiệu tốt (giá chứng khaons tăng ). Còn khi họ bán ra với số lượng lớn thì
thường đó là tín hiệu xấu đồng nghĩa với việc giá chứng khoán sẽ giảm.
3.1.2.4 Chỉ số tài chính:
Phân tích chỉ số tài chính là một phần quan trọng của phân tích cơ bản. Phân tích tỷ
số liên quan đến việc so sánh các con số với nhau để tạo nên các tỷ số và từ đó dựa vào
các tỷ số này để đánh giá xem hoạt động của công ty đang trong tình trạng suy giảm hay
tăng trưởng.
Các tỷ số cần phải được so sánh giữa các thời kỳ trong cùng một công ty để thấy
được công ty đang tăng trưởng hay suy giảm, và với các công ty trong cùng ngành để thấy
công ty đó hoạt động tốt hay xấu so với mức trung bình ngành.
Có 4 nhóm chỉ số chính sau: + Chỉ số khả năng sinh lợi.
+ Chỉ số khả năng thanh toán và đòn cân nợ.
+ Chỉ số hiệu quả hoạt động.
+ Chỉ số đầu tư của cổ đông.
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 9
a) Nhóm chỉ số khả năng sinh lợi:
Các nhà đầu tư, các cổ đông và các nhà quản lý tài chính đặc biệt chú ý tới khả
năng sinh lãi của các công ty. Việc phân tích lợi nhuận có thể bắt đầu bằng việc nghiên
cứu cách thức một công ty sử dụng cơ cấu vốn. Các nhà quản lý giỏi sử dụng có hiệu quả
tài sản của mình. Thông qua việc tăng hiệu quả sản xuất, các công ty có thể giảm hoặc
kiểm soát được các chi phí. Tỷ lệ lợi nhuận do bất kỳ một công ty nào đạt được là quan
trọng nếu các nhà quản lý của công ty đó mong muốn thu hút vốn và thực hiện việc tài trợ
công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi
nhuận hoạt động cho biết một Đô la doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu EBIT. Hệ số lợi
nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay nghĩa là doanh thu tăng
nhanh hơn chi phí hoạt động. Các nhà quản lý cần phải tìm ra các nguyên nhân khiến hệ
số lợi nhuận hoạt động cao hay thấp để từ đó họ có thể xác định xem công ty hoạt động có
hiệu quả hay không, hoặc xem giá bán sản phẩm đã tăng nhanh hơn hay chậm hơn chi phí
vốn.
• Hệ số lợi nhuận ròng
Hệ số lợi nhuận ròng là hệ số lợi nhuận từ mọi giai đoạn kinh doanh. Nói cách
khác, đây là tỷ số so sánh lợi nhuận ròng với doanh số bán.
Mức lãi ròng = Lợi nhuận ròng/ Doanh số
Ví dụ: Hệ số lợi nhuận ròng: Nếu lợi nhuận sau thuế của một công ty là 100.000
USD và doanh thu của nó là 1.000.000 USD thì:
Hệ số lợi nhuận ròng = 100.000 USD/ 1.000.000 = 10%
Một số công ty có mức lợi nhuận ròng hơn 20%, và một số khác có chỉ đạt khoảng
từ 3% đến 5%. Hệ số lợi nhuận ròng giữa các ngành khác nhau là khác nhau. Thông
thường, các công ty được quản lý tốt đạt được mức lợi nhuận ròng tương đối cao hơn vì
các công ty này quản lý các nguồn vốn của mình có hiệu quả hơn. Xét từ góc độ nhà đầu
tư, một công ty sẽ ở vào tình trạng thuận lợi nếu có mức lợi nhuận ròng cao hơn lợi nhuận
ròng trung bình của ngành và, nếu có thể, có mức lợi nhuận liên tục tăng. Ngoài ra, một
công ty càng giảm chi phí của mình một cách hiệu quả – ở bất kỳ doanh số nào – thì mức
lợi nhuận ròng của nó càng cao.
• Hệ số thu nhập trên cổ phần
Hệ số thu nhập trên cổ phần ROE là thước đo tỷ suất lợi nhuận của các cổ đông.
Nhà phân tích chứng khoán, cũng như các cổ đông, đặc biệt quan tâm đến hệ số này.
Nói chung, hệ số thu nhập trên cổ phần càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn. Hệ
số này là một cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi nhuận của công ty khi so
sánh với hệ số thu nhập trên cổ phần của các cổ phiếu khác. Hệ số này có thể được tính
như sau:
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 11
Mục đích của công thức này là so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty, và
cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả,
thì thu nhập và ROI sẽ cao, và nếu ngược lại, thu nhập và ROI sẽ thấp.
b) Nhóm chỉ số thanh toán và nợ:
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 12
Chỉ số thanh toán thử nghiệm mức độ thanh toán của một công ty. Hai hệ số thông
dụng được sử dụng để xác định khả năng thanh toán của một công ty bao gồm hệ số
khả năng thanh toán hiện tại tỷ lệ tài sản trên nợ và hệ số khả năng thanh toán nhanh
hay còn gọi là hệ số thử axit.
• Hệ số khả năng thanh toán hiện tại:
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại là mối tương quan giữa tài sản lưu động và các
khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn
Ví dụ: Hệ số khả năng thanh toán hiện tại
Một công ty với tài sản lưu động trị giá 20 triệu USD và có các khoản nợ ngắn hạn
trị giá 10 triệu USD sẽ có hệ số khả năng thanh toán hiện tại là 2,0.
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại = $20.000.000 / $10.000.000 = 2,0
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại cho thấy mức độ an toàn của một công ty trong
việc đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số này có thể khác nhau, tuỳ
thuộc vào ngành công nghiệp và loại công ty. Hệ số bằng 2,0 hoặc lớn hơn có thể tốt cho
một công ty sản xuất, trong khi hệ số bằng 1,5 có thể chấp nhận được với một công ty
dịch vụ công cộng vì nguồn tiền mặt dự tính thu vào cao và nợ hiện tại hay nợ ngắn hạn
nhỏ.
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại không phản ánh được tính linh hoạt của một
công ty. Hiển nhiên là một công ty có dự trữ tiền mặt lớn và các chứng khoán khả mại sẽ
có khả năng thanh toán lớn hơn một công ty có mức hàng tồn kho lớn. Một hệ số được
thiết lập chi tiết hơn khi xem xét vấn đề cơ cấu tài sản có thể loại bỏ được những thành tố
kém tính thanh khoản nhất trong tài sản lưu động chính là hệ số khả năng thanh toán
nhanh.
• Kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân cho thấy khoảng thời gian trung bình cần thiết để một công
ty thu hồi các khoản nợ từ khách hàng.
Xem xét xu hướng của kỳ thu tiền bình quân qua các thời kỳ của một công ty là có
hiệu quả nhất. Nếu vòng quay các khoản phải thu tăng từ năm này qua năm khác cho thấy
khả năng yếu kém trong việc quản lý công nợ ở một công ty.
Kỳ thu tiền BQ =( Phải thu khách hàng x 365 ngày) / Doanh thu bán chịu
• Số ngày vòng quay hàng tồn kho:
Số ngày vòng quay hàng tồn kho cho thấy khoảng thời gian trung bình hàng tồn
kho được lưu giữ.
Sự tăng lên của vòng quay hàng tồn kho qua các năm cho thấy sự chậm đi trong
công việc kinh doanh hoặc là sự tích trữ hàng tồn kho ở một công ty, điều đó cũng có thể
được hiểu rằng đầu tư vào hàng tồn kho đang trên mức cần thiết.
Số ngày vòng quay HTK = (Hàng tồn kho x 365 ngày) / Giá vốn hàng bán
• Kỳ thanh toán bình quân:
Kỳ thanh toán tiền bình quân cho thấy khoảng thời gian trung bình của một công ty
trong việc thanh toán các khoản nợ với nhà cung cấp.
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 14
Sự gia tăng kỳ thanh toán tiền bình quân qua các năm là dấu hiệu của việc thiếu hụt
vốn đầu tư dài hạn hoặc khả năng quản lý tài sản lưu động yếu kém, đó là kết quả của việc
gia tăng các khoản phải trả nhà cung cấp, gia tăng hạn mức thấu chi tại ngân hàng.
Kỳ TTBQ = (Phải trả khách hàng x 365 ngày) / Tổng giá trị hàng mua chịu trong
năm
d) Nhóm chỉ số đầu tư của cổ đông
• Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS):
Thu nhập của mỗi cổ phần cho thấy khả năng sinh lợi của một công ty. Thu nhập
trên mỗi cổ phần được xem như là chỉ số đơn lập quan trọng nhất trong việc xác định giá
trị cổ phiếu.
EPS =(Tổng thu nhập thuần - cổ tức cổ đông ưu đãi) / Số lượng cổ phiếu lưu
hành bình quân.
3.1.2.5 Các chỉ số khác:
Ngoài 4 chỉ số quan trọng trên các nhà đầu tư còn dựa trên 2 chỉ số sau để phân tích
có nên đầu tư vào loại chứng khoán của công ty hay không. Đó là: chỉ số rủi ro và chỉ số
tăng trưởng tiềm năng.
a) Chỉ số rủi ro: bao gồm chỉ số rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính. Rủi ro kinh
doanh liên quan đến sự thay đổi trong thu nhập ví dụ như rủi ro của dòng tiền không
ổn định qua các thời gian khác nhau. Rủi ro tài chính là rủi ro liên quan đến cấu trúc
tài chính của công ty, ví dụ như việc sử dụng nợ.
• Chỉ số rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh được định nghĩa như là rủi ro liên quan đến những biến động
trong doanh thu. Để đo lường rủi ro kinh doanh ngưòi ta dùng nhiều phương thức từ đơn
giản đến phức tạp.
- Phương thức đơn giản:
Bốn chỉ số dưới đây đại diện cho phương thức đơn giản trong việc tính toán các chỉ
số rủi ro kinh doanh. Rủi ro kinh doanh là rủi ro mà công ty có thể kiếm được ít tiền hơn
hoặc tệ hơn là mất tiền khi doanh số giảm xuống. Trong một môi trường có doanh số đang
trên đà sụp giảm, một công ty có thể thua lỗ nếu công ty ấy sử dụng chi phí cố định quá
nhiều. Nếu phần lớn chi phí trong công ty chỉ là chi phí biến đổi thì nó sẽ ít khi nào rơi
vào tình trạng trên. Tất cả các doanh nghiệp đều sử dụng chi phí cố định và chi phí biến
đổi. Do vậy việc hiểu được cấu trúc chi phí cố định của doanh nghiệp thật sự là điều cần
thiết khi đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp đó. Một vài chỉ số thường được sử
dụng là :
+ Chỉ số biến lợi nhuận phân phối: Chỉ số này cho biết phần lợi nhuận tăng thêm từ
sự thay đổi của mỗi đô la trong doanh thu. Nếu chỉ số biên phân phối lợi nhuận của công
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 16
ty bằng 20%, sau đó nếu có sự sụp giảm $50.000 trong doanh thu thì sẽ có sự sụp giảm
$10.000 trong lợi nhuận. Biến phân phối= 1 - (chi phí biến đổi/ doanh thu)
+ Mức độ ảnh hưởng của đòn bẩy kinh doanh (OLE): Chỉ số đòn bẩy kinh doanh
được sử dụng để dự đoán bao nhiêu phần trăm thay đổi trong thu nhập và tỷ suất sinh lợi
trên tài sản đối với mỗi phần trăm thay đổi trong doanh thu.
• Chỉ số khả năng thanh toán lãi vay:
Chỉ số này cho biết với mỗi đồng chi phí lãi vay thì có bao nhiêu đồng EBIT đảm
bảo thanh toán và được đo lường:
Khả năng TT lãi vay = thu nhập trước thuế và lãi vay ( EBIT)/ lãi vay
• Chỉ số khả năng thanh toán các chi phí tài chính cố định:
Trong doanh nghiệp ngoài lãi vay thì còn một số chi phí tài chính cố định khác như
chi phí thuê tài chính, thuê hoạt động,…
Chỉ số khả năng thanh toán các chi phí tài chính cố định = thu nhập trước các chi
phí tài chính cố định/ chi phí tài chính cố định
• Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả lãi vay:
Dòng tiền hoạt động điều chỉnh được định nghĩa là dòng tiền hoạt động + chi phí
tài chính cố định + thuế phải trả
Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả lãi vay = dòng tiền hoạt động điều chỉnh/
chi phí lãi vay
• Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả các chi phí tài chính cố định:
Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả các chi phí tài chính cố định = dòng tiền
hoạt động điều chỉnh / chi phí tài chính cổ định
• Chỉ số chi tiêu vốn :
Chỉ số này cho biết thông tin bao nhiêu tiền mặt được tạo ra từ hoạt động của
doanh nghiệp sẽ được để lại sau khi thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của chi tiêu vốn để
phục vụ cho các khoản nợ của công ty. Nếu chỉ số này bằng 2, có nghĩa là công ty đang
hoạt động bằng 2 lần so với những gì nó thật sự cần để tái đầu tư cho doanh nghiệp tiếp
tục hoạt động, phần thặng dư có thể được phân bổ để trả bớt nợ.
Chỉ số chi tiêu vốn = dòng tiền hoạt động/ chi tiêu vốn.
• Chỉ số dòng tiền với nợ:
Chỉ số này cung cấp thông tin cho biết bao nhiêu tiền mặt của công ty tạo ra từ hoạt
động có thể được sử dụng để trả tổng nợ.
Chỉ số dòng tiền so với nợ = dòng tiền từ hoạt động/ tổng nợ
b) Chỉ số tăng trưởng tiềm năng: đây là các chỉ số cực kỳ có ý nghĩa với các cổ
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 18