Tài liệu môn đường lối - ĐẢNG LÃNH ĐẠO, THỰC HIỆN ĐỔI MỚI ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI (1986 - 1991) - Pdf 13

ĐẢNG LÃNH ĐẠO, THỰC HIỆN ĐỔI MỚI
ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI (1986 - 1991)
1. Đổi mới tư duy và hoạt động đối ngoại của Đảng thời kỳ 1986 - 1989
Để góp phần đề ra chính sách đối ngoại trong Đại hội VI của Đảng
ngay từ ngày 12-6-1986, Bộ Chính trị đã đề ra nghị quyết số 32 Về tình hình
thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng ta. Nghị quyết đã khẳng định
những cố gắng về mặt đối ngoại của Việt Nam từ năm 1975 đến nay tăng
cường sự hợp tác toàn diện với các nước trong cộng đồng XHCN, góp phần
vào cuộc đấu tranh duy trì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.
Nghị quyết cho rằng xu thế của thời đại đang tiến đến một thế giới hoà
bình, hợp tác, cùng phát triển trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền mỗi quốc
gia. Tuy vậy, đế quốc Mỹ vẫn chưa từ bỏ âm mưu bá chủ của thế giới, ráo riết
chạy đua vũ trang, tiến hành các vụ thử hạt nhân. Mỹ đang cùng các thế lực
chống Việt Nam tìm mọi cách không chế ba nước Đông Dương. Nghị quyết xác
định chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là ra sức kết hợp tốt
nhất sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại, góp phần giữ vững hoà
bình ở Đông Dương, Đông – Nam Á và trên toàn thế giới, củng cố quan hệ với
Lào và Campuchia, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với Liên Xô
và các nước trong cộng đồng XHCN, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi nhất
cho việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp
phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và CNXH. Nghị quyết đã nêu ra nguyên tắc giải quyết vấn đề
Campuchia bằng con đường hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền của
Campuchia, vì lợi ích của cách mạng ba nước Đông Dương, góp phần xây dựng
Đông – Nam Á thành khu vực hoà bình ổn định, hợp tác cùng phát triển.
Hạn chết của nghị quyết là chưa nhận thức được những diễn biến mới,
sự phức tạp của tình hình Đông Âu và Liên Xô.
1
Tình hình đất nước trước Đại hội VI diễn biến phức tạp. Sản xuất trong
nước bị đình đốn, lưu thông rối ren. Lạm phát lên tới đỉnh điểm
(1)

chống Mỹ kết thúc mà Đại hội V chưa giải quyết được về cơ bản. Đó là nhu
cầu tìm ra con đường để Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng và quá độ lên
CNXH phù hợp với Việt Nam. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá
đúng sự thật. Đại hội cho rằng: “Trong mười năm qua đã phạm nhiều sai lầm
trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật
cải tiến XHCN và quản lý kinh tế”
(1)
.
Những sai lầm đó là nghiêm trọng, kéo dài về chủ trương, chính sách
lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện. “Khuynh hướng tư
tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách
kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn nóng
vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buôn lỏng trong quản
lý kinh tế xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của
Đảng”
(2)
. Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế - xã hội bắt
nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác
cán bộ của Đảng”
(3)
, và do “sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các
quy luật đang hoạt động trong thời kỳ quá độ”.
Báo cáo chính trị khẳng định trách nhiệm trước hết thuộc về Ban chấp
hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Hội đồng Bộ trưởng, Đại hội VI
đã “Không đánh giá thấp những nguyên nhân khách quan, Đại hội đã nghiêm
khắc nêu ra những nguyên nhân chủ quan của tình hình khó khăn là do những
sai lầm, khuyết điểm trong sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước”
(4)
. Để
khắc phụ những sai lầm, khuyết điểm và những bất cập dẫn đến khủng hoảng

dạng, khi CNTB vẫn còn đang mạnh. Cùng tồn tại hoà bình mới tạo ra bầu
không khí ổn định, hữu nghị hợp tác là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự
phát triển của mỗi dân tộc và nhân loại.
Hoà bình ở mỗi khu vực và hoà bình ở trên thế giới có quan hệ gắn kết
với nhau. Thế giới có hoà bình thì các khu vực mới có hoà bình và hoà bình ở
mỗi khu vực là một bộ phận trong nền hoà bình của thế giới. Do vậy, cùng
nhau giữ vững hoà bình ở Đông – Nam Á và hoà bình thế giới luôn là phương
châm trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Nhiệm vụ đối ngoại của Việt Nam là tranh thủ tối đa những điều kiện
quốc tế thuận lợi để thực hiện những mục tiêu tổng quát của cách mạng Việt
Nam. Trước hết trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn phải giải quyết
4
những vấn đề cấp bách như ổn định tình hình kinh tế - xã hội và tạo ra những
tiền đề cần thiết cho chặng đường tiếp theo. Đồng thời chỉ rõ phương hướng,
giải pháp đối với từng đối tác cụ thể cho phù hợp với sự thay đổi của nó trong
xu thế phát triển chung của thế giới.
Với Liên Xô và các nước XHCN, Việt Nam coi Liên Xô là đối ngoại
quan trọng nên: “Tăng cường đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô luôn
là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước”
(1)
. Quan
điểm đó là thuỷ chung, nhất quán trong suốt thời gian từ sau khi Việt Nam
thống nhất đất nước, nhất là từ Đại hội VI, Liên Xô được Việt Nam đánh giá
cao trong hệ thống XHCN thế giới. Liên Xô đóng vai trò quan trọng trong hệ
thống XHCN thế giới, luôn có ảnh hưởng sâu sắc, giữ vai trò quyết định to
lớn trong cục diện thế giới. Sự giúp đỡ của Liên Xô đối với Việt Nam là rất
lớn lao. Tính đến năm 1986 (Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam) sau hơn
30 năm Liên Xô – Việt Nam ký các hiệp định thương mại, trao đỏi hàng hoá
giữa hai nước tăng lên 100 lần, Liên Xô giúp Việt Nam hơn 200 dự án trong
các ngành kinh tế quan trọng. Liên Xô đã đào tạo theo hướng bao cấp toàn bộ

cầu hoá sâu sắc. Toàn cầu hoá thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh
mẽ đòi hỏi các quốc gia phải cải cách thể chế và cơ cấu kinh tế để có sức
mạnh trong cuộc cạnh tranh trên thế giới. Các nước vừa hợp tác, vừa đấu
tranh trong cùng tồn tại hoà bình cùng chạy đua về kinh tế và khoa học kỹ
thuật. Trước tình hình đó, các nước lớn, nhỏ đều phải điều chỉnh chiến lược
với ưu tiên hàng đầu là phát triển kinh tế. Hoà bình, độc lập, hợp tác để phát
triển trở thành nguyện vọng chung của các dân tộc trên thế giới. Cũng chính
nhu cầu tập trung sức phát triển kinh tế đã thúc đẩy Xô - Mỹ đi vào hoà bình,
thúc đẩy quá trình cải thiện quan hệ tay đôi trong tam giác chiến lược Mỹ -
Xô – Trung. Tình hình ấy đã ảnh hưởng lớn đến chính sách đối ngoại của Việt
Nam. Trước mắt Việt Nam có thể lợi dụng những thành tựu mới của khoa học
và công nghệ hiện đại để sớm khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội, đi
vào đối thoại và cải thiện quan hệ với Trung Quốc, các nước trong tổ chức
ASEAN và một số nước khác nhằm phá vỡ thế bị bao vây, cấm vận.
Với Trung Quốc, nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc vốn có
quan hệ hữu nghị lâu đời, đã từng đoàn kết, giúp đỡ nhau trong đấu tranh
chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập, tự do và xây dựng đất nước. Lợi ích
chung của nhân dân hai nước là hoà bình, độc lập và phát triển kinh tế. Chính
phủ và nhân dân Việt Nam, trước sau như một, quý trọng và nhất định làm hết
sức mình để khôi phục tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, đã đưa ra nhiều
6
đề nghị nhằm sớm bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Cộng hoà nhân
dân Trung Hoa. Lập trường cơ bản của Việt Nam là lấy lợi ích cơ bản và lâu
dài của hai nước làm quan trọng, Việt Nam cho rằng: “Việt Nam sẵn sàng
đàm phán với Trung Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu
nhằm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, vì lợi ích của nhân dân hai
nước, vì hoà bình ở Đông – Nam Á và trên thế giới”
(1)
.
Quan hệ Việt – Trung được xác định ở Đại hội VI cụ thể hơn hai kỳ

hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh ở các nước TBCN, chống sự áp bức, bóc lột của
CNTB lũng đoạn, chống chạy đua vũ trang hạt nhân, vì hoà bình dân chủ,
việc làm và cải thiện mức sống. Chúng ta ủng hộ chính sách đoàn kết, tập hợp
mọi lực lượng dân chủ và tiến bộ của các Đảng Cộng sản và công nhân anh
em”
(1)
.
Đối với Mỹ, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương: “Tiếp tục bàn
bạc với Mỹ để giải quyết các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại và sẵn
sàng cải thiện quan hệ với Mỹ vì lợi ích của hoà bình, ổn định ở Đông – Nam
Á”
(2)

Cay đắng trước thất bại ở Việt Nam, Mỹ đã siết chặt cấm vận và phối
hợp với các lực lượng thù địch ngăn cản sự hoà hợp của Việt Nam, Lào và
Campuchia với các nước trong khu vực, gây trở ngại cho Việt Nam trong việc
tiến hành đối thoại, thiết lập quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế
giới. Chính sách của Việt Nam thể hiện thiện chí trong quan hệ Việt - Mỹ và
với các nước trong khu vực vì lợi ích hoà bình và ổn định, hợp tác và phát
triển của cả nhân loại.
Đối với các nước có chế độ chính trị khác nhau, Việt Nam: “Chủ
trương ủng hộ chính sách cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ chính
trị xã hội khác nhau, loại trừ chiến tranh xâm lược và mọi hình thức chủ nghĩa
khủng bố, nhất là chủ nghĩa khủng bố Nhà nước đế quốc Mỹ coi là quốc sách
(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Sđd tr.103.
(2)
Đảng Cộng sản: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Sđd tr.108, 105.
8
của họ”

9
tử đối lập trong Đảng và trong xã hội ép Thủ tướng Racôpxki tuyên bố tại Hội
nghị Uỷ ban Trung ương Đảng công nhân thống nhất Ba Lan rằng Ban lãnh
đạo Đảng sẵn sàng mở ngay các cuộc hội nghị bàn tròn thảo luận về vấn đề đa
nguyên công đoàn.
Ở Hunggari các tổ chức chính trị đối lập ra đời, ngày 27-9-1988, Hội
nghị Uỷ ban Trung ương Đảng công nhân xã hội chủ nghĩa Hunggari chấp
nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, mở đường cho các thế lực chống
CNXH hoạt động lật đổ chế độ vào năm 1989.
Lợi dụng sự khủng hoảng trầm trọng của Liên Xô và các nước XHCN,
chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch do Mỹ cầm đầu đã mở cuộc phản
kích quyết liệt nhằm vào CNXH. Chúng đặc biệt chú ý tới các nước Đông Âu
là những mắt xích yêu nhất do Liên Xô suy yếu, không đủ sức bao cấp, để
thực hiện bạo loạn phản cách mạng hoặc cuộc “cách mạng nhung lụa”. Đế
quốc Mỹ đã phối hợp với các lực lượng đối lập CNXH ở Ba Lan và Tiệp
Khắc, kích động các tín đồ công giáo… để chuẩn bị cho cuộc bạn loạn, đảo
chính trong năm 1988 – 1991.
Tình hình trên đã tác động bất lợi đến công cuộc đỏi mới theo định
hướng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Cách mạng Việt Nam
phải đương đầu với những kẻ thù có âm mưu thâm độc khác trước trong khi
những đồng minh chiến lược đang bị khủng hoảng nghiêm trọng.
Trong lúc đó cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng trầm trọng,
nhất là trong ba năm 1986 – 1988. Hậu quả của cuộc tổng điều chỉnh giá
lương - tiền năm 1985 và những sai lầm, khuyết điểm trong quản lý Nhà
nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội tác động mạnh đến tình hình mọi mặt
của đất nước, đến mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam,
trước hết là trên lĩnh vực kinh tế - xã hội. Các mặt của đời sống xã hội như
sản lượng lương thực, ngân sách Nhà nước sút kém, kỷ cương và pháp luật bị
vi phạm. Đạo đức xã hội bị suy giảm, tệ nạn xã hội tăng, trật tự an ninh lỏng
10

được những thành tựu quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt
Nam đã tích lũy được một số kinh nghiệm qua đổi mới từng phần, đất nước
có truyền thống đoàn kết, yêu nước, kiên cường, gắn bó máu thịt giữa Đảng
và Nhân dân…
Trong bối cảnh như vậy nhu cầu tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi
cho công cuộc đổi mới, phá vỡ thế bị bao vây, cô lập trên trường quốc tế, làm
thất bại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc đối với Việt
Nam, góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ
và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới trở thành nhu cầu cần thiết. Trước
những khó khăn và thuận lợi thời kỳ đầu đổi mới về đối ngoại, Đảng Cộng
sản Việt Nam đặc biệt quan tâm đến vấn đề bình thường hóa quan hệ với
Trung Quốc, thực hiện chủ trương giải quyết các vấn đề Campuchia bằng giải
pháp chính trị, góp phần xây dựng Đông – Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn
định, hợp tác phát triển theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ của mỗi nước. Đồng thời Đảng và Nhà nước Việt Nam kiên
quyết đấu tranh với nhà cầm quyền một số nước lợi dụng vấn đề Campuchia,
vấn đề người Việt Nam di tản ở nước ngoài, vấn đề “dân chủ” và “nhân
quyền”…. để chống và can thiệp vào công cuộc nội bộ và xâm phạm chủ
quyền của Việt Nam.
Ngày 11-10-1987, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt
Nam về vấn đề Campuchia, theo sự thỏa thuận của Chính phủ Việt Nam và
Chính phủ Cộng hòa nhân dân Campuchia, Bộ quốc phòng hai nước ra thông
cáo chung về rút (đợt 6) quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia về nước
trong tháng 11-1987.
Đảng và Nhà nước Việt Nam trước sau vẫn chủ trương phải giải quyết
vấn đề người Việt Nam ra tản ra nước ngoài theo tinh thần nhân đạo. Đây là
một vấn đề nhạy cảm đầy khó khăn và phức tạp nhằm gây ảnh hưởng tốt về
Chính trị và đối ngoại, đồng thời đảm bảo an ninh và ổn định xã hội trong
nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng vu cáo chống Việt Nam lâu dài.
Tuy vậy, việc tiếp nhận người di tản bất hợp pháp hồi hương phải đáp ứng

được lịch sử hàng ngàn năm thể nghiệm, đổi mới tư duy cho phù hợp với
những bước phát triển mới của xã hội loài người về vai trò lãnh đạo của
Đảng.
Nghị quyết 13 Bộ Chính trị (1988) đã đổi mới tư duy về công tác đối
ngoại. Đổi mới tư duy về đối ngoại bao gồm đổi mới tư duy cho kịp với
những bước phát triển nhanh chóng của tình hình thế giới đồng thời có quan
điểm về việc kết hợp sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới của tình hình
thế giới.
Thế giới trong 40 năm trước đó có những biến đổi sâu sắc trong quá
trình phát triển của loại người từ CNTB lên CNXH. Nghị quyết nhận định:
“Từ giữa những năm 70 nhất là những năm gần đây, tình hình thế giới có
nhiều chuyển biến rất quan trọng, đặt ra nhiều vấn đề mới cho tất cả các
nước”. Cụ thể là: “Sau thất bại của Mỹ ở Việt Nam, trong điều kiện nền kinh
tế thế giới ngày càng quốc tế hóa, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa Liên
Xô và Mỹ đến đỉnh cao, sự thức tỉnh của các dân tộc và của cả loài người đấu
tranh cho sự hòa bình, độc lập và phát triển ngày càng mạnh mẽ. Khả năng
đẩy lùi nguy cơ chiến tranh thế giới không ngừng tăng lên, các thế lực đế
quốc và phản động dùng chiến tranh cục bộ chống các dân tộc, nhưng cuộc
đấu tranh của các dân tộc vì độc lập, tự do vẫn không ngừng phát triển. Cách
mạng khoa học kỹ thuật và bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất
(1)
Hội thảo khoa học: 50 năm ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam: Học viên
Quan hệ quốc tế. H.1995. tr.27.
13
thế giới đã đặt ra cho các nước thuộc cả hai hệ thống nhiều vấn đề cấp bách
cần phải giải quyết. Các nước lớn, kể cả các nước có tiềm lực mạnh, buộc
phải giảm chạy đua vũ trang hạt nhân và chi phí quốc phòng, giảm cam kết về
quân sự ở bên ngoài và dàn xếp với nhau về các vấn đề khu vực để tập trung
vào củng cố bên trong, chạy đua ráo riết về kinh tế và khoa học kỹ thuật nhằm
tạo ra một nền kinh tế phát triển cao vào cuối thế kỷ này. Xu thế đấu tranh và

giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham. Với chủ trương bình thường hóa quan hệ
với Trung Quốc. Trong cuộc gặp Thứ trưởng ngoại giao Liên Xô, Việt Nam
đề nghị Liên Xô thông báo cho Trung Quốc biết lập trường của Việt Nam là
sẵn sàng bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, rút hết quân tình nguyện ở
Campuchia về nước trong năm 1990 như Việt Nam đã tuyên bố. Việt Nam
ủng hộ một nước Campuchia hòa bình, độc lập, trung lập, không liên kết.
Ngày 1-12-1988, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Tiền Kỳ Tham thăm chính thức
Liên Xô. Liên Xô đã nói rõ lập trường xây dựng của Việt Nam để tìm giải
(1)
Nghị quyết số 13 về đối ngoại (1988) của Bộ Chính trị, Tài liệu lưu Ban đối ngoại Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam.
(2)
Nghị quyết số 13 về đối ngoại (1988) của Bộ Chính trị, Tài liệu lưu Ban đối ngoại Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam.
(3)
Nghị quyết số 13… sđd
(1)
Nghị quyết số 13… sđd
14
pháp cho vấn đề Campuchia và cho rằng cuộc đối thoại giữa Việt Nam và
Trung Quốc có vai trò quan trọng đói với vấn đề Campuchia.
Tại lễ kỷ niệm 10 năm ngày quốc khánh nước Cộng hòa nhân dân
Campuchia ở Phnông Pênh ngày 6-1-1989, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn
Văn Linh, trưởng đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang dự lễ kỷ
niệm đã đọc bài diễn văn quan trọng, trong đó nêu rõ lập trường của Việt
Nam về Campuchia và quan hệ với các nước Đông – Nam Á với Trung Quốc
và với các nước trên thế giới.
Đồng chí Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh đã
cho rằng, về vấn đề Campuchia, Việt Nam hoàn toàn nhất trí với Cộng hòa
nhân dân Campuchia về việc Việt Nam rút hết quân tình nguyện Việt Nam

15
định chính trị tiến hành cải cách, đổi mới nhưng chưa ra khỏi tình trạng khủng
hoảng kinh tế - xã hội như Trung Quốc, Việt Nam.
Trước các biến động lớn ở Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu và
Trung Quốc, các thế lực thù địch ráo riết hoạt động, nuôi hy vọng gây nên
những vụ lộn xộn về chính trị như có nhiều nhân tố không ổn định như Bắc
Triều Tiên, có nước giữ được ổn định chính trị tiến hành cải cách, đổi mới
nhưng chưa ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội như Trung Quốc,
Việt Nam.
Trước tình hình kinh tế xã hội gặp nhiều khoá khăn như vậy, trong hai
ngày 16 và 17-6-1989, Bộ chính trị đã bàn một số vấn đề kinh tế cấp bách.
Chủ trương này được cụ thể trong báo cáo của Hội đồng bộ trưởng về kinh tế
xã hội, tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước và tình hình lưu thông tiền tệ
6 tháng đầu năm 1989 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá VIII từ ngày 19 đến 30-
6-1989. Theo báo cáo của hội đồng bộ trưởng thì hoạt động kinh tế có bước
tiến mới: hàng xuất khẩu tăng 28% so với cùng kỳ năm 1988, các hình thức
hợp tác liên doanh đầu tư trực tiếp phát triển.
Tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở và chủ trương điều
chỉnh chiến lược quốc phòng, vào cuối tháng 7 và trong tháng 8-1989, Đoàn
đại biểu Chính phủ Việt Nam đã tham gia vào đóng góp tích cực vào Hội nghị
quốc tế lần thứ nhất về Campuchia tại Paris (vòng 1 từ 30-7 đến 1-8; vòng 2
từ 28 đến 30-8) theo thoả thuận đã đạt được ở JIM 1 (7-1988) và JIM 2 (từ 19
đến 22-2-1989). Hội nghị Quốc tế lần này đã đạt được những điểm đồng cơ
bản, đặt cơ sở cho "một giải pháp toàn bộ về cuộc xung đột bi thảm ở
Campuchia" như Hội nghị đã tuyên bố.
Từ ngày 21 đến 26-9-1989 Việt Nam đã rút quân tình nguyện còn lại ở
Campuchia cùng toàn bộ vũ khí, phương tiện theo ba đường bộ, sông, biển
dưới sự quan sát của các tổ chức và phóng viên quốc tế. Đại diện Đảng và
Nhà nước Campuchia đã đánh giá việc rút quân tình nguyện Việt Nam về
16

khó khăn, thử thách gay go. Cuộc đấu tranh để bảo vệ và phát triển CNXH
đang diễn ra quyết liệt. Nhưng chúng ta tin tưởng rằng CNXH nhất định sẽ
vượt qua được thử thách, từng bước khắc phục khó khăn, tiếp tục tiến lên"
(1)
.
Hội nghị đã xác định quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô và các nước
XHCN khác trong hoàn cảnh mới, thúc đẩy Đảng và nhân dân Việt Nam phải
nỗ lực vươn lên tự giải quyết các vấn đề của mình với tinh thần độc lập, tự
chủ, sáng tạo, khắc phục tư tưởng ỷ lại, chủ động hơn trong quan hệ quốc tế.
Mở rộng và đa dạng hoá quan hệ hợp tác, tham gia tích cực vào sự phân công
lao động quốc tế.
Đầu tháng 9-1990, để xúc tiến quá trình bình thường hoá quan hệ giữa
Việt Nam và Trung Quốc, theo thoả thuận giữa hai bên, Đoàn đại biểu cấp
cao Đảng và Nhà nước Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Văn linh dẫn đầu
đã sang Trung Quốc hội đàm với Đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước
Trung Quốc do tổng bí thư Giang Trạch Dân dẫn đầu. Cuộc hội đàm Việt -
Trung ở Thành Đô (Tứ Xuyên) đã diễn ra trong bầu không khí thẳng thắn và
hiểu biết nhau hơn, thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ giữa Việt
Nam và Trung Quốc.
Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) họp từ
ngày 7 đến 12-1-1991 góp ý dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành
Trung ương Đảng trình Đại hội VII nhấn mạnh một trong những yếu tố thể
hiện kinh tế đang có sự thay đổi về chất như đã tự cân đối nhiều hơn bằng sức
mình, gần đạt cân đối xuất nhập khẩu, tuy nhập khẩu còn thấp hơn so với yêu
cầu.
Từ năm 1986 đến năm 1991, trong điều kiện đất nước gặp rất nhiều khó
khăn, thử thách, tình hình quốc tế và trong nước diễn biến nhanh và phức tạp
như Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo cuộc đổi mới toàn
(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hàng Trung ương Đảng (Khoá VI) Nxb

19
vận, có một số biểu hiện thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹ phát triển. Khi Việt Nam
ký hiệp định Paris (10-1991) quan hệ Việt - Mỹ có những tiến triển mới.
Dưới sự chỉ đạo của tư duy đối ngoại đổi mới theo nghị quyết 13 Bộ
Chính trị, quan hệ Việt - Mỹ được chú trọng cải thiện. Nếu trước đó việc bình
thường hoá quan hệ Việt - Mỹ chưa được quan tâm đúng mức thì sau nghị
quyết 13 Bộ Chính trị được nhận thức và thúc đẩy phát triển. Cay đắng trước
thất bại ở Việt Nam, Mỹ tìm mọi cách để xoá bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam
nhưng không phải vì thế mà Việt Nam coi nhẹ quan hệ với Mỹ. Mỹ là một
nước lớn, có tiềm lực, sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ trở thành siêu cường quốc
duy nhất. Với sức mạnh mà sự hận thù lịch sử, Mỹ khống chế, ngáng trở quan
hệ Việt Nam với các nước đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Nhiều
nước quan hệ với Việt Nam nhưng vẫn trông đợi sự phát triển quan hệ Việt -
Mỹ. Thúc đẩy sự phát triển quan hệ Việt - Mỹ dẫn tới sự bình thường hoá
quan hệ giữa hai nước là một khâu then chốt mà đối ngoại Việt Nam đã nhậnu
thức và hành động trong thời kỳ này.
Thời kỳ 1986 - 1991, trong điều kiện tình hình thế giới diễn biến phức
tạp, CNXH trì trệ, khủng hoảng và sự sụp đổ trên một mảng lớn lành thay đổi
cơ bản quan hệ chính trị quốc tế. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện
đại đã tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia dân tộc với mức độ khác
nhau. CNTB đứng đầu là Mỹ sử dụng được những thành tựu cách mạng khoa
học công nghệ nên thích nghị và tiếp tục phát triển, ráo riết chạy đua vũ trang
chống Liên Xô và Việt Nam, chiến lược "Diễn biến hào bình", bao vây, cô lập
về chính trị, cấm vận về kinh tế hòng làm sụp đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.
Các thế lực thù địch gây cho Việt Nam nhiều khó khăn, gây ra cuộc chiến
tranh hai đầu biên giới và cuộc chiến tranh phá hoại tổng hợp chống Việt
Nam. Mặt khác, tình hình trong nước cũng gặp nhiều khó khăn do hậu quả
của chiến tranh kéo dài, do mô hình kinh tế được xây dựng trong chiến tranh
bộc lộ những yếu kém không phù hợp, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status