ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA: NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ
BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY Hà Nội – 04/2013
MỞ ĐẦU
Ngày nay nền kinh tế thị trường càng phát triển thì vị trí và vai trò của tài chính nhà
nước ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Vì vây, xây dựng nền tài
chính tự chủ vững mạnh là yêu cầu cơ bản cấp bách trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện
đại hóa. Ở nước ta, NSNN đóng vai trò chủ động trong nền tài chính quốc gia.
NSNN là nơi tập trung quỹ tiền tệ lớn nhất trong nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với
tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân cùng mối quan hệ khăng khít với tất cả các
khâu của hệ thống tài chính, đặc biệt là tài chính doanh nghiệp và tín dụng. Hơn nữa,
NSNN là kế hoạch tài chính vi mô, khâu chủ đạo trong hệ thống các khâu tài chính quyết
định sự phát triển kinh tế, công bằng xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng thực hiện công
bằng xã hội.
Xử lý bội chi ngân sách nhà nước ( NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ
1. Khái niệm Ngân sách nhà nước, thu chi Ngân sách nhà nước và bội chi Ngân sách
nhà nước
1.1. Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước (NSNN) là toàn bộ các khoản thu, chi của quốc gia trong dự toán đã
được cơ quan chính phủ có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để
đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
Như vậy quản lý chi ngân sách nhà nước cũng là một phần quan trọng trong quản lý ngân
sách nhà nước.
Theo cách hiểu đơn thuần thì quản lý chi ngân sách nhà nước là quản lý những khoản chi
tiêu của nhà nước, và nó được thực hiện bởi chủ thể là những cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, tổ chức cá nhân được nhà nước trao quyền.
1.2. Thu chi Ngân sách nhà nước
1.2.1. Thu Ngân sách nhà nước
Thu NSNN là quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính những để hình thành nên
quỹ tiền tệ tập trung nhằm thoả mãn các nhu cầu chi tiêu của quốc gia.
Thu NSNN bao gồm các khoản thu chủ yếu từ Thuế, phí, lệ phí và các khoản thu từ hoạt
động kinh tế của Nhà Nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản
viện trợ của nước ngoài, …
1.2.2. Chi Ngân sách nhà nước
Chi NSNN là quá trình Nhà nước phân bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ đã được tập trung
vào ngân sách để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các chức năng
nhiệm vụ của Nhà Nước.
Chi ngân sách nhà nước luôn gắn với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước phải
đảm nhận. Mức độ và phạm vi chi tiêu ngân sách nhà nước phụ thuộc vào nhiệm vụ của
nhà nước trong từng thời kỳ.
Tính hiệu quả của các khoản chi ngân sách nhà nước được thể hiện ở tầm vĩ mô và mang
tính toàn diện cả về kinh tế, xã hội, chính trị và ngoại giao.
Các khoản chi ngân sách nhà nước đều là các khoản cấp phát mang tính không hoàn trả
trực tiếp.
Chi ngân sách nhà nước thường liên quan đến phát triển kinh tế xã hội, tạo việc làm mới,
BCNSNN = Tổng chi –Tổng thu= (D+E+F) – (A+B)
Trong đó:
A: Thu thường xuyên (gồm thuế, phí, lệ phí)
B: Thu về vốn
C: Khoản bù đắp thâm hụt từ viện trợ, nguồn dự trữ, vay thuần (vay mới và trả nợ gốc)
D: Chi thường xuyên
E: Chi đầu tư
F: Cho vay thuần
1.3.1. Phân loại Bội chi ngân sách nhà nước
Thâm hụt ngân sách hay Bội chi ngân sách (BCNS) được chia ra thành hai loại: thâm hụt
cơ cấu và thâm hụt chu kỳ.
Thâm hụt cơ cấu: là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tuỳ biến
của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho
giáo dục, quốc phòng.
Thâm hụt chu kỳ: là các khoản thâm hụt gây ra bở tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là
bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Vì dụ khi nền kinh tế suy
thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi
ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.
1.3.2. Nguyên nhân Bội chi ngân sách nhà nước
Các nguyên nhân khách quan
Do kinh tế suy thoái mang tính chu kỳ. Kinh tế suy thoái sẽ làm cho nguồn thu
NSNN sút giảm, nhu cầu chi tiêu gia tăng ( trợ cấp xã hội, những khoản chi để phục hồi
nền kinh tế), kết quả NSNN có thể bị bội chi.
Thiên tai, tình hình bất ổn của an ninh thế giới. Tình hình bất ổn của an ninh thế
giới và diễn biến phức tạp của thiên tai sẽ làm gia tăng nhu cầu chi cho quốc phòng an
ninh trật tư xã hội, gia tăng nhu cầu chi NSNN để khắc phục hậu quả của thiên tai.
Các nguyên nhân chủ quan
Do quản lý và điều hành NSNN bất hợp lý. Quản lý và điều hành NSNN bất hợp lý
được thể hiện qua việc đánh giá và khai thác nguồn thu chưa tốt; phân bổ và sự dụng
NSNN còn nhiều bất cập, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực tài chính nhà nước; phân cấp
ngân sách Nhà nước.
1.3.3.2. Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội.
Mục tiêu chủ yếu trong đường lối phát triển kinh tế ở nước ta là làm cho dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.Và để đạt được mục tiêu tốt đẹp ấy thì Nhà
nước ta đã thực thi rất nhiều biện pháp quan trọng. Một trong những chính sách ấy là tiến
hành xây dựng rất nhiều công trình công cộng phục vụ nhu cầu đời sống của nhân dân
như: điện, đường, trường, trạm… đây là những công trình hết sức thiết thực và cần thiết
nhưng để xây dựng được thì chúng ta cần phải có một lượng vốn lớn. Trong những năm
đầu của quá trình cải cách mở cửa thì việc huy động vốn của nước ta gặp rất nhiều khó
khăn, trở ngại, chính vì lẽ đó mà ta luôn lâm vào tình trạng thu không đủ chi. Ngân sách
Nhà nước bị thiếu hụt thường xuyên, điều này về lâu về dài sẽ gây ra những ảnh hưởng
tiêu cực đến nên kinh tế đất nước. Nếu như chúng ta có những biện pháp thu hút thêm
nhiều nguồn vốn hơn nữa cả ở trong và ngoài nước, tiến hành việc xây dựng một cách có
trọng điểm, chật lượng, tiết kiệm, hiệu quả đồng thời quản lí nguồn ngân quỹ một cách
chặt chẽ, khoa học.điều đó sẽ tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, mở rộng khả năng
thu, chi cho ngân sách, giảm thiểu một cách tối đa tình trạng thâm hụt ngân sách.
1.3.3.3. Mục tiêu, quan điểm chiến lược tài chính tiền tệ
Có thể nói chính sách tài chính quốc gia là một trong những chính sách quan trọng nhất
có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định, phát triển của nền kinh tế đất nước nói chung và
bội chi ngân sách Nhà nước nói riêng. Bằng việc cải tổ cơ bản chính sách tài chính, cơ
cấu thu chi ngân sách, chính sách thuế để tiến tới kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả, sức
mua của đồng tiền, ổn định tình hình kinh tế xã hội. Ngoài ra chính sách tài chính còn góp
phần tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất của
nhân dân.Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, nguồn tài
chính còn hạn hẹp do đó mà chúng ta cần phải thận trong việc lựa chọn các hình thức tài
chính thích hợp, quản lí chặt chẽ nguồn tài chính quý giá, kiên quyết chống mọi chủ
trương bảo thủ trì trệ, vô chính phủ, buông trôi quản lí tài chính, gây thất thoát tiền của
đất nước.
Trên cơ sở những mục tiêu đó thì chúng ta cần phải xây dựng chính sách tài chính dựa
trên những quan điểm sau:
cạnh đó thì ta cũng đã tranh thủ được những sự trợ giúp quý báu của các tổ chức tài chính
quốc tế thông qua viện trợ ODA. Chính những yếu tố đó đã góp một phần đáng kể trong
việc cân đối cán cân thu chi ngân sách Nhà nước, giảm thiểu tình trạng thâm hụt ngân
sách.
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra quá trình hội nhập kinh tế hết sức nhanh chóng, quá
trình toàn cầu hoá đang phát triển mạnh mẽ, khoa học công nghệ, các kỹ thuật hiện đại
không ngừng được phát minh sáng chế, sự hợp tác cũng như sự cạnh tranh đang diễn ra
hết sức mạnh mẽ, điều đó đòi hỏi chúng ta cần phải có những chính sách tranh thủ được
sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, thu hút thêm nữa những nguồn vốn đầu tư, viện trợ từ
nước ngoài để phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước, đồng thời bên cạnh đó thì
chúng ta cũng cần phải phát huy nội lực của bản thân mình, không để đối tác họ có cơ hội
chèn ép, gây khó khăn cho ta. Có như vậy thì chúng ta mới có thể làm chủ được nguồn tài
chính cuả mình, phát huy hiệu quả tối đa của hệ thống tài chính nước nhà.
1.3.3.5. Những nhân tố kỹ thuật, chuyên môn ảnh hưởng đến cách xác định mức bội
chi ngân sách Nhà nước
Những tác động của bội chi ngân sách đến nền kinh tế là rất to lớn, nhưng để xác định
được một mức bội chi chính xác không phải là một điều dễ dàng. Sau khi tham khảo các
tiêu thức quốc tế, căn cứ vào quan hệ biện chứng giữa thâm hụt ngân sách Nhà nước vợi
nợ Nhà nước và quan niệm về ổn định tỷ suất nợ đề tài đã đưa ra một số nhân tố có ảnh
hưởng trực tiếp đến cách xác định bội chi ngân sách Nhà nước.
Ta thấy là khi lãi suất càng cao và tăng trưởng càng thấp thì làm cho mức chênh lệch giữa
lãi suất và tăng trưởng càng cao, hoặc khi tổng dư nợ càng nhiều thì giá trị của thâm hụt
ngân sách bậc một càng nhỏ dần lại thậm chí phải có thặng dư và số thặng dư này phải
cao dần mới đảm bảo duy trì được sự ổn định của tỷ suất nợ trên GDP.
Trong điều kiện có lạm phát thì nhìn chung lạm phát càng cao thì gánh nặng nợ càng nhẹ.
Tuy nhiên cái giá của việc sử dụng lạm phát không phải là nhỏ. Bởi vì khi mà nền kinh tế
có một mức lạm phát cao trong nhiều năm thì sẽ dẫn đến tăng lãi suất từ đó sẽ gây ra tình
trạng suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng. Theo thời gian thì lạm phát sẽ làm tăng
những khoản nợ nước ngoài, suy giảm sức cạnh tranh quốc tế của những hàng hoá sản
xuất trong nước, gây ra sự dịch chuyển thu nhập từ người cho vay sang người đi vay một
648.833
1 Chi đầu tư phát triển
183.166
2 Chi trả nợ, viện trợ
88.772
3 Chi thường xuyên (2)
376.620
4 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính
275
II Kinh phí chuyển nguồn năm 2010 sang năm 2011 thực
hiện cải cách tiền lương
20.291
III Kinh phí đã xuất quĩ ngân sách năm 2010 chưa quyết
toán, chuyển sang năm 2011 quyết toán và số chuyển
nguồn năm 2010 sang năm 2011 để chi theo chế độ qui
định
181.750
nhà nước và các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế để hình thành quỹ.
Bộ tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo điều kiện cho sự phát triển đồng bộ các thị
trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường khoa học công nghệ, thị trường lao động,
thị trường bất động sản …
Theo các chuyên gia tài chính, trong giai đoạn hiện tại, nhu cầu phát triển kinh tế kéo theo
yêu cầu đầu tư xây dựng hạ tầng lớn. Đồng thời các chính sách an sinh xã hội cũng cần
được đầu tư trên diện rộng nên bội chi sẽ còn tiếp tục.
Do vậy, để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia, Bộ Tài chính đưa
ra mục tiêu sẽ giữ tỷ lệ bội chi ngân sách trung bình giai đoạn 2011-2015 mức dưới 5%
GDP.
Đối với giải ngân vốn đầu tư XDCB ước thực hiện cả năm đạt khoảng 92 - 95% dự toán;
vốn trái phiếu Chính phủ đạt 100% dự toán.
Đối với vấn đề nợ công, tính đến hết 31/12/2010, dư nợ Chính phủ bằng 44,3% GDP, dư
nợ quốc gia bằng 42,2% GDP và dư nợ công bằng 56,6% GDP. Tuy nhiên, xét về cơ cấu,
tỷ trọng huy động vay nợ trong nước ngày càng tăng, vay nợ nước ngoài giảm; các khoản
vay nước ngoài của Chính phủ phần lớn đều có thời hạn dài, lãi suất ưu đãi, việc bố trí
thanh toán nợ hàng năm đều bảo đảm đầy đủ, đúng hạn, không có nợ xấu.
2. Thực trạng bội chi ngân sách năm 2011
CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Đơn vị: Tỷ đồng
STT
NỘI DUNG
DỰ TOÁN
2011
ƯỚC THỰC
491.500
4 Chi thực hiện cải cách tiền lương
6.000
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
100
6 Dự phòng 18.400 7 Chi chuyển nguồn
22.400
C BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC -120.600
Tổng phương tiện thanh toán năm 2011 ước tính tăng 10% so với tháng 12/2010, thấp hơn
so với kế hoạch đặt ra là 15-16%. Trong khi đó, tổng dư nợ tín dụng tăng 12%, so với
mức kế hoạch là dưới 20%.
Chính phủ dự kiến bố trí 9.100 tỷ đồng từ nguồn tăng thu ngân sách trung ương để giảm
bội chi NSNN năm 2011, đưa xuống mức 111.500 tỷ đồng, tương đương 4,9% GDP,
giảm 0,4% so với dự toán đầu năm. Trong bối cảnh tình hình kinh tế-xã hội có nhiều biến
động, việc Chính phủ phấn đấu giảm bội chi thể hiện sự cố gắng, nỗ lực trong quản lý và
điều hành NSNN. Đây là mức giảm khá, tạo cơ sở cho việc giảm bội chi theo lộ trình và
hạ dần mức nợ công. Mặt khác, việc bố trí tăng chi trả nợ năm 2011 (15.000 tỷ đồng)
cũng có thể coi như gián tiếp giảm bội chi.
3. Thực trạng bội chi ngân sách năm 2012
CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2012
Đơn vị: Tỷ đồng
STT
Chỉ tiêu
Dự toán
năm 2012
A TỔNG THU CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 740.500
1 Thu nội địa 494.600
2 Thu từ dầu thô 87.000
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 153.900
4 Thu viện trợ 5.000
trưởng bình quân 6,5% trong kế hoạch tài chính 5 năm Chính phủ trình, bội chi NSNN
năm 2015 dự kiến là 202.500 tỷ đồng, nếu tính cả trái phiếu chính phủ năm 2015 (45.000
tỷ đồng) thì bội chi là 247.500 tỷ đồng, bằng 5,5%GDP (dự kiến GDP đến năm 2015 là
4.500 ngàn tỷ đồng). Do đó, để thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI, Chính phủ cần có lộ trình giảm bội chi quyết liệt hơn.
Theo Ủy ban TCNS, trong điều kiện kinh tế còn khó khăn, thu chưa đáp ứng nhu cầu chi,
việc phân bổ ngân sách trung ương năm 2012 phải được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên:
Một là, ưu tiên chi đầu tư cho con người, bảo đảm chi cho an sinh xã hội và các đối tượng
chính sách xã hội; Hai là, quan tâm đến các tỉnh nghèo, khó khăn có nguồn thu ngân sách
thấp; các tỉnh bị thiệt hại nặng nề do thiên tai, bão lũ; Ba là, bố trí vốn đầu tư phát triển có
trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên cho các dự án công trình hoàn thành năm 2012, các dự án,
công trình giao thông, thủy lợi cấp bách; Bốn là, quan tâm đầu tư cho vùng kinh tế động
lực có khả năng thu ngân sách lớn; ưu tiên cho các vùng kinh tế trọng điểm, các khu kinh
tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao và các tỉnh có khả năng bứt phá để tự cân đối
ngân sách.
Theo Bộ KHĐT, năm 2012 bội chi ngân sách nhà nước giảm xuống bằng 4,8% GDP
(năm 2011 là 4,9%).
Ước tính năm 2012, dư nợ công, dư nợ Chính phủ, dư nợ quốc gia trong giới hạn an toàn
cho phép.
Trước đó, đầu năm 2012, Bộ Tài chính đặt mục tiêu phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi để
giảm bội chi ngân sách xuống dưới 4,8% GDP. Như vậy, mức bội chi này đạt kế hoạch đề
ra.
Ông Bùi Hà, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp (Bộ KHĐT) cho biết: Có được kết quả này nhờ
năm qua, dù nền kinh tế thế giới biến động phức tạp, kinh tế trong nước gặp nhiều khó
khăn, thách thức nhưng với sự nỗ lực của các cấp các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và
nhân dân cả nước, tình hình KT-XH đã có những chuyển biến tích cực.
Dự báo trong năm 2012, tổng thu cân đối ngân sách nhà nước ước đạt 741,5 nghìn tỷ,
tăng 0,14% so với dự toán và tăng 5,3% so với năm 2011. Tổng chi cân đối ngân sách nhà
nước ước đạt 904,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,11% so với dự toán và tăng 14,% so với năm
2011. Bội chi ngân sách nhà nước bằng 4,8% GDP.
NSNN: vay trong nước, vay nước ngoài hoặc phát hành tiền. Tùy từng điều kiện và hoàn
cảnh cụ thể mà các nguồn bù đắp bội chi được sử dụng riêng rẽ hay kết hợp. Từ đó cũng
gây ra tác động nền kinh tế khác nhau.
Khi chính phủ sử dụng giải pháp bù đắp bội chi NSNN bằng cách phát hành trái phiếu (kể
cả phát hành trong nước và phát hành ra nước ngoài), thì tất yếu chính phủ phải trả tiền nợ
gốc và lãi trái phiếu trong tương lai đồng thời gây áp lực lên xã hội bằng việc tăng thuế.
Tuy nhiên bằng cách này, bội chi NSNN sẽ không gây lạm phát và đặc biệt trong trường
hợp bội chi được tài trợ cho các dự án đầu tư sinh lời thì nó lại là động lực cho sự phát
triển của nền kinh tế trong dài hạn.
Khi chính phủ sử dụng giải pháp bù đắp bội chi NSNN bằng việc phát hành tiền, hành
động này ngay lập tức làm cho lượng tiền cung ứng trong lưu thông tăng. Cung tiền tăng
là một yếu tố quan trọng làm tăng tổng cầu. Trong bối cảnh suy thoái kinh tế tăng cung
tiền có tác dụng kích thích nền kinh tế, thúc đẩy đầu tư tăng tổng sản phẩm tiến tới mức
tiềm năng, ảnh hưởng lạm phát là tối thiểu. Tuy nhiên duy trì bội chi kéo dài trong thời kỳ
kinh tế tăng trưởng phát hành tiền sẽ gây ra lạm phát cao, rất nguy hại.
1.2. Các giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước
1.2.1. Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách
Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách có nhược điểm lớn là chứa đựng nguy cơ lạm
phát, tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Thực tế đã cho
chúng ta những bài quý giá về việc phát hành tiền quá dễ dãi để bù đắp bội chi ngân sách
gây ra lạm phát cao trong thập niên 80. Từ 1-4-1990 chúng ta đã thành lập hệ thống kho
bac Nhà nước trực thuộc bộ tài chính (người chịu trách nhiệm về bội chi ngân sách Nhà
nước) độc lập với ngân hàng Nhà nước (người chịu trách nhiệm về việc phát hành tiền
vào trong lưu thông) được xem là một cuộc cách mạng cơ cấu nhằm tách chức năng quản
lí quỹ ngân sách Nhà nước ra khỏi chức năng phát hành tiền, tranh được tình trạng” mang
tiền túi nọ bỏ vào tui kia”. Cơ chế đó đã góp phần tích cực trong việc kiềm chế bội chi và
lạm phát trong những năm qua. Thực tế thì trong những năm qua thì Nhà nước ta đã
không phát hành tiền để trang trải thâm hụt ngân sách nữa mà thay vào đó là việc phát
hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc Nhà nước và vay nợ nước ngoài để bù đắp bội chi,
những việc làm này cũng gốp phần tích cực trong việc kiềm chế lạm phát.
Chính phủ có thể giảm bội chi ngân sách bằng các nguồn vốn nước ngoài thông qua việc
nhận viện trợ nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài tư các chính phủ nước ngoài, các định
chế tài chính thế giới như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tế quốc tế ( IMF), Ngân
hàng phát triển Châu Á (ADB), các tổ chức liên chính phủ, tổ chức quốc tế….
Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức nhằm thực
hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn
phát triển chính thức ODA.
+ Ưu Điểm: Đây là một biện pháp giảm bội chi ngân sách hữu hiệu, có thể bù đắp được
các khoản bội chi mà lại không gây sức ép lạm phát cho nền kinh tế. Đây cũng là một
nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế- xã hội.
+ Nhược Điểm: Nó sẽ khiến chính phủ gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm
khả năng chi tiêu cho chính phủ. Đồng thời, nó cũng dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị
phụ thuộc vào nước ngoài. Thậm chí, nhiều khoản vay, khoản viện trợ còn đòi hỏi kèm
theo đó là nhiều các điều khoản về chính trị, quân sự, kinh tế khiến cho các nước đi vay bị
phụ thuộc nhiều.
1.2.3. Bù đắp sự thiếu hụt ngân sách bằng biện pháp tăng thuế
Tăng thuế bằng biện pháp trực tiếp tăng thuế suất là giải pháp khó triển khai và tốn kém.
Mặc dù Nhà nước hoàn toàn có quyền tăng thuế hoặc ban hành thêm thuế mới để tạo
nguồn bù đắp bội chi ngân sách. Tuy nhiên cần tính đến tác động nhiều chiều của giải
pháp này.
Trên thực tế, tăng thuế là giải pháp không mấy dễ áp dụng và tốn kém. Tăng thuế có khả
thi hay không còn phụ thuộc vào sức chịu đựng cuả nền kinh tế, sự hiệu quả của hệ thống
thu, phụ thuộc vào hiếu suất của từng sắc thuế. Trong thời kì nền kinh tế suy thoái, hoạt
động kinh tế mờ nhạt thì việc tăng thuế không những không khả thi mà còn làm cản trở
của hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng số lượng nợ đọng thuế của các doanh nghiệp,
đẩy các doanh nghiệp lâm vào tình trạng tài chính không lành mạnh và làm giảm nguồn
thu ngân sách.
Nếu tăng thuế chỉ nhằm vào các giải pháp tăng thuế suất và ban hành thêm các sắc thuế
mới, nhất là tăng thuế trực thu thì về mặt lý thuyết là có thể tăng thu ngay nhưng trên thực
thân của những cơ quan liên quan đến dự án.
-Thứ hai: Nhà nước hầu như không thể kiểm soát các khoản đầu tư của các DNNN một
mặt là do chính sách phân cấp trong quản lý đầu tư, và mặt khác là do một số tập đoàn lớn
đã tự thành lập ngân hàng riêng.
-Thứ ba: Với tốc độ lạm phát nhanh như hiện nay thì chỉ cần giữ được tổng đầu tư công
theo đúng dự toán cũng được coi là một thành tích đáng kể.
-Thứ tư : Kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng việc giảm chi thường xuyên rất khó khăn
nên đây là hạng mục cuối cùng nằm trong danh sách cắt giảm .
KẾT LUẬN
Như vậy là có nhiều cách để chính phủ bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, nhưng phải sử
dụng cách nào, nguồn nào thì còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế, chính sách kinh
tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia, bởi mỗi giải pháp bù bắp đều có những
ưu nhược điểm làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô. Và hậu quả của bội chi ngân
sách nhà nước là ảnh hưởng nghiêm trọng tới kinh tế xã hội của đất nước dù mức nào đi
chăng nữa. Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần phải tính toán kỹ lưỡng để đưa ra các giải
pháp bù đắp phù hợp với thực trạng hiện nay, khi nền kinh tế của Việt Nam đang hoạt
động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nền tài chính quốc gia cũng được
đổi mới.
Bội chi ngân sách nhà nước là một vấn đề mà các quốc gia đều phải gặp phải. Việc xử lý
bội chi ngân sách nhà nước là một vấn đề nhạy cảm, xử lý không chỉ tác động trước mắt
tới nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Vì vậy mỗi
quốc gia đều có những biện pháp thích hợp nhằm khắc phục bội chi ngân sách đưa bội chi
ngân sách nhà nước đến một mức nhất định. Và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như: giá xăng dầu tăng cao,