Phân tích báo cáo tài chính ACB giai đoạn 2008-2012 - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH ACB
GIAI ĐOẠN 2008-2012 GVHD: PGS.TS: TRƯƠNG QUANG THÔNG
LỚP: NH Đêm 1 – Khóa 22 – Nhóm 7
DSN: Cao Nữ Nguyệt Anh
Hoàng Thị Khánh Hội
Trần Ngọc Uyên Phương
Lê Thị Phương Thảo
Mai Nguyễn Huyền Trang Tháng 11 năm 2013
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K22

1
I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2008-2012: 2

GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1
–K22

2

I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ HỆ THỐNG NGÂN
HÀNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2012:

1.1 Tình hình kinh tế xã hội:
Sau giai đoạn 2000-2007 đạt mức tăng trưởng cao, những vấn đề bất ổn về kinh tế vĩ
mô giai đoạn 2008-2011 cho thấy mô hình tăng trưởng theo chiều rộng của Việt Nam đã
đi đến giới hạn. Để tránh khỏi vết xe đổ của nhiều nước ASEAN, Việt Nam cần một cuộc
cải cách toàn diện và triệt để về thể chế cũng như chính sách, nhằm nâng cao hiệu quả
phân bố và sử dụng các nguồn lực, tức là phải thực hiện một cuộc đổi mới lần 2.
Giai đoạn 2008-2011: Hồi kết của một kỷ nguyên tăng trưởng cao. Kể từ 2008 đến
nay, Việt Nam đã phải trải qua 3 giai đoạn bất ổn về kinh tế vĩ mô: Lần thứ nhất xảy ra
vào giữa năm 2008; lần thứ hai xảy ra vào cuối năm 2009 và đầu năm 2010 và cả năm
2011
Mặc dù có quy mô khác nhau nhưng các giai doạn bất ổn về kinh tế vĩ mô nói trên
đều có cùng diễn biến, nguyên nhân, cũng như hệ quả: lạm phát cao cùng với quy mô
thâm hụt thương mại lớn đã dẫn đến những lo ngại VND mất giá, từ đó thúc đẩy người
dân và doanh nghiệp chuyển đổi tài sản từ VND sang USD, khiến thanh khoản của hệ
thống ngân hang trở nên căng thẳng. Lãi suất trên thị trường từ đó gia tăng mạnh. Những
điều này lại xảy ra cùng với việc NHNN phải thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát đã
khiến tình hình càng trở nên trầm trọng.
Trong giai đoạn 2008-2010, tính trung bình, Việt Nam đã phải chịu mức lạm phát 2
con số; lãi suất huy động và cho vay kỳ hạn 12 tháng luôn ở mức cao. Tuy nhiên, tăng

các kỳ hạn;
- Phát hành bắt buộc 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN và quy định các tín phiếu
NHNN không được sử dụng để vay tái cấp vốn tại NHNN;
- Lãi suất cơ bản được điều chỉnh lên mức 12 rồi 14%. Hệ thống lãi suất điều hành
gồm cặp lãi suất tái cấp vốn cũng được điều chỉnh tăng lên 15% và 13%
- Khống chế mức tín dụng và yêu cầu kiểm soát chặt những lĩnh vực cho vay có
rủi ro cao, đặc biệt cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán và bất động sản…
- Cùng với CSTT, chính sách cắt giảm chi tiêu công cũng được đặt ra thông qua
chủ trương rà soát, sắp xếp giảm chi đầu tư các dự án chưa thực sự cấp bách, các
dự án có khả năng đưa vào sử dụng trong năm 2008, tiết kiệm thêm 10% chi
thường xuyên.
1.2.2 Giai đoạn kích cầu 2009.
Từ cuối 2008, CSTT lại hướng vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhằm đối phó
với suy thoái kinh tế trong nước và khủng hoảng kinh tế thế giới thông qua các công cụ:
- Triển khai thực hiện cơ chế hổ trợ lãi suất mà thực chất là mở rộng cung tiền
- Hạ lãi suất cơ bản từ 14% xuống 8,5% và cặp lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn
xuống 7,5% và 9,5%
- Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền đồng xuống còn 5%
- Thực hiện thanh toán trước hạn 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN. Nghiệp vụ thị
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1
–K22

4
trường mở chủ yếu là mua giấy tờ có giá để cung ứng thêm tiền;
- Duy trì lãi suất cơ bản ở mức 7% trong suốt năm 2009, tăng lên 8% vào 11/2009
1.2.3 Giai đoạn thực hiện chính sách vĩ mô thận trọng nhằm ổn định và duy
trì mục tiêu tăng trưởng năm 2010. 5
Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động và linh hoạt, từ ưu tiên kiềm chế lạm
phát cao năm 2008 sang tập trung ngăn chặn suy giảm kinh tế năm 2009, khôi phục đà tăng
trưởng năm 2010 và kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
năm 2011, 2012.

Mở rộng quy mô vốn chủ sở hữu
Có thể nói rằng, vốn chủ sở hữu của một NHTM là thước đo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
cũng như tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Vốn chủ sở hữu thấp dẫn đến rủi ro tiềm ẩn cho ngân
hàng khi nợ xấu phát sinh tăng vượt quá quy mô vốn chủ sở hữu. Trong trường hợp như
vậy, vốn chủ sở hữu đã bị ăn mòn hết. Hậu quả là ngân hàng rất dễ bị tổn thương và nguy
cơ phá sản rất cao. Để đáp ứng các chỉ tiêu an toàn vốn theo thông lệ Basel II, NHNN đã
yêu cầu các NHTMCP tăng vốn điều lệ từ 70 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng bắt đầu thực hiện
từ năm 2007 và hạn chót là hết năm 2011. Chính vì vậy, vốn chủ sở hữu của các nhóm ngân
hàng cũng được mở rộng tương ứng bởi vì vốn điều lệ là thành phần chính của vốn chủ sở
hữu.
Vốn chủ sở hữu của NHTMNN và NHTMCP tăng nhanh từ năm 2008 đến 2011 (Biểu
đồ 1) là nhờ có nguồn vốn thặng dư từ cổ phiếu, lợi nhuận tăng trưởng cao trong giai đoạn
này đãkéo theo quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và lợi nhuận giữlại tăng lên. Các ngân hàng
liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài có mức tăng trưởng vốn chủ sở hữu chậm
hơn là do không có phần thặng dư vốn cổ phần. Tuy nhiên, vốn chủ sở hữu của 2 nhóm
NHTMCP và ngân hàng nước ngoài giảm nhẹ năm 2012 so với năm 2011; trong khi vốn
chủ sở hữu của các NHTMNN vẫn tăng. Sự sụt giảm vốn chủ sở hữu của 2 nhóm ngân
hàng trên trong năm 2012 là do nợ xấu phát sinh tăng, nguồn lợi nhuận chưa phân phối của
năm 2011 sẽ được kết chuyển cho mục đích trích lập dự phòng rủi ro để giảm tỷ lệ nợ xấu
xuống mức an toàn và làm trong sạch bảng tổng kết tài sản hơn.

GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1
–K22

7

Tổng tài sản của 2 khối NHTMNN và NHTMCP tăng nhanh trong giai đoạn
2008-2011 là do quy mô hoạt động của nhiều ngân hàng được mở rộng, thặng dư cổ phiếu
sau đợt IPO ra công chúng từ 3 NHTMNN hoặc phát hành thêm cổ phiếu hoặc gia tăng
quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ từ lợi nhuận của các NHTMCP. Nguyên nhân quan trọng
hơn cả giải thích sự tăng trưởng nhanh tổng tài sản của 2 khối NHTMNN vàNHTMCP là
sự bùng nổ mạng lưới chi nhánh của một số ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV,
ACB, Sacombank, Techcombank đã dẫn đến tốc độ tăng trưởng vượt bậc về huy động
vốn, khai thác hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Quy mô tổng tài sản của các ngân
hàng nước ngoài tăng trưởng chậm một phần do quy mô mạng lưới phát triển chậm so với
NHTMNN và NHTMCP, một phần là do người gửi tiết kiệm chưa tiếp cận với nhóm ngân
hàng này mặc dù họ có rất nhiều chương trình marketing, khuyến mại để thu hút nguồn
tiền gửi từ dân cư.
Năm 2012, tổng tài sản của khu vực NHTMNN vẫn tăng trưởng cao hơn so với năm
2011, trong khi hai khu vực NHTMCP và ngân hàng nước ngoài giảm sút. Nguyên nhân
tổng tài sản của khu vực NHTMNN tăng một phần có sự đóng góp không nhỏ của việc
Vietcombank bán 15% vốn cổ phần cho ngân hàng Mizuho của Nhật Bản, tương đương
11.800 tỷ đồng với thặng dư vốn cổ phần lên tới hơn 8.300 tỷ đồng.

Huy động vốn của các khối ngân hàng:
Khoảng cách huy động vốn thu hẹp giữa khối NHTMNN và NHTMCP
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1
–K22
9
NHTMNN. Các ngân hàng nước ngoài có tốc độ tăng trưởng huy động vốn cũng theo xu
hướng chung của nền kinh tế. Khi chính sách tiền tệ được thắt chặt để kiểm soát lạm phát
từ cuối năm 2011, tốc độc tăng trưởng huy động vốn của khối ngân hàng nhà nước đã
chững lại trong năm 2012.
Tuy nhiên, quy mô huy động vốn giữa ba khu vực ngân hàng đã có sự thay đổi lớn từ
năm 2008 đến 2011. Nếu số dư huy động vốn năm 2008 giữa NHTMCP và ngân hàng
nước ngoài chỉ chênh lệch khoảng hơn 300 nghìn tỷ đồng thì sự chênh lệch giữa hai nhóm
đến cuối năm 2012 đã kéo rộng tới hơn 3,5 lần, tương đương với mức chênh lệch hơn 1,1
nghìn tỷ đồng. Như vậy, sự chênh lệch này cho thấy các NHTMCP đã rất nỗ lực trong việc
thực hiện chính sách giá, chăm sóc khách hàng và mở rộng quy mô hoạt động. Điều này
đồng nghĩa với việc các NHTMCP có đủ năng lực cạnh tranh với các ngân hàng nước
ngoài có lợi thế hơn về kinh nghiệm quản lý, công nghệ và sự phát triển đa dạng sản phẩm
dịch vụ.
Ngược lại, khoảng cách huy động vốn giữa nhóm NHTMNN và NHTMCP đã thu
hẹp đáng kểtừnăm 2008 đến 2012. Nếu khoảng cách giữa 2 nhóm ngân hàng này là trên
300 nghìn tỷ năm 2008 thì khoảng cách đó đã thu hẹp xuống dưới 60 nghìn tỷ năm 2012.
Điều này khẳng định sựnỗlực của các NHTMCP trong việc mởrộng thịphần huy động vốn
nhằm tiến tới giảm sự phục thuộc nguồn vốn từ các NHTMNN cũng như tự chủ hơn nữa
trong quản trị thanh khoản.

Hoạt động tín dụng dịch chuyển về tỷ trọng:
Nếu khoảng cách về số dư huy động vốn có sự thay đổi mạnh mẽ trong vòng 4 năm
qua thì dư nợ của các nhóm ngân hàng này cũng có sự dịch chuyển nhưng chưa nhiều.
Biểu đồ 4 mô tả tín dụng của 3 khu vực này với tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất trong
2 năm 2009-2010 thuộc về nhóm NHTMCP. Đây cũng chính lànhững năm tăng trưởng tín
dụng nóng dẫn đến lạm phát bùng nổ năm 2011 lên tới hơn 18%.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 và2012 đã chững lại do NHNN thực

Bưu điện sẽ có lợi thế phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ thông qua việc khai thác gần
10.000 điểm giao dịch tiết kiệm trải rộng trên cả nước. NHTMCP Sài Gòn-Hà Nội hợp
nhất với NHTMCP Nhà Hà Nội tạo ra NHTMCP với quy mô rộng lớn, mở rộng thị phần
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1
–K22

11
và nâng cao quyền lực thị trường.
Hàng loạt sự sáp nhập hoặc cấu trúc lại của các NHTMCP Phương Tây, Đại Á, Tiên
Phong, Dầu khí toàn cầu cũng củng cố năng lực cạnh tranh của khu vực này. Một điểm nổi
bật là thời gian tới sẽ là sự sáp nhập của 2 ngân hàng lớn của khu vực NHTMCP là
Eximbank và Sacombank. Quy mô hoạt động của hai ngân hàng này sau sáp nhập sẽ tiến
sát quy mô của Vietcombank. Theo báo cáo tài chính riêng lẻ, tổng tài sản của Sacombank
và Eximbank đến hết năm 2012 đạt 321.483 tỷ đồng, trong khi của Vietcombank đạt 414
tỷ đồng (trong đó có 118.000 tỷ từ phát hành cổ phiếu cho Mizuho). Tương tự như vậy, tín
dụng của hai ngân hàng đạt 167.591 tỷ đồng và huy động vốn 177.603 tỷ đồng, trong khi
của Vietcombank lần lượt là 239.773 tỷ đồng và 285.096 tỷ đồng.
Như vậy, xu hướng cạnh tranh đang có sự thay đổi lớn, NHTMCP đã tạo được hình ảnh
và vị thế nhiều hơn, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh hơn. Tuy nhiên, sự lớn mạnh
của khu vực NHTMCP sẽ là thách thức khi NHTMNN cũng quyết tâm giữ vững thị phần,
trong khi khối ngân hàng nước ngoài đầy tham vọng mở rộng thị phần để tạo ra nền tảng
phát triển bền vững và nâng cao sức mạnh của các hoạt động liên quan đến đồng nội tệ
thay vì chỉ khai thác lợi thế từ hoạt động liên quan đến ngoại tệ như trước đây. II. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ACB


trường chưa có (cho vay tiêu dùng, dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union, thẻ tín
dụng).

• Giai đoạn 1996 - 2000: ACB là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt
Nam phát hành thẻ tín dụng quốc tế MasterCard và Visa. Năm 1997, ACB bắt đầu tiếp
cận nghiệp vụ ngân hàng hiện đại theo một chương trình đào tạo toàn diện kéo dài hai
năm, do các giảng viên nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng thực hiện. Thông qua
chương trình này, ACB đã nắm bắt một cách hệ thống các nguyên tắc vận hành của một
ngân hàng hiện đại, các chuẩn mực và thông lệ trong quản lý rủi ro, đặc biệt trong lĩnh
vực ngân hàng bán lẻ, và nghiên cứu ứng dụng trong điều kiện Việt Nam. Năm 1999,
ACB triển khai chương trình hiện đại hóa công nghệ thông tin ngân hàng, xây dựng hệ
thống mạng diện rộng nhằm trực tuyến hóa và tin học hóa hoạt động giao dịch. Cuối
năm 2001, ACB chính thức vận hành hệ thống công nghệ ngân hàng lõi là TCBS (The
Complete Banking Solution: Giải pháp ngân hàng toàn diện), cho phép tất cả chi nhánh
và phòng giao dịch nối mạng với nhau, giao dịch tức thời, dùng chung cơ sở dữ liệu tập
trung. Năm 2000, ACB đã thực hiện tái cấu trúc như là một bộ phận của chiến lược phát
triển trong nửa đầu thập niên 2000. Cơ cấu tổ chức được thay đổi theo định hướng kinh
doanh và hỗ trợ. Việc tái cấu trúc nhằm đảm bảo sự chỉ đạo xuyên suốt toàn hệ thống,
sản phẩm được quản lý theo định hướng khách hàng và được thiết kế phù hợp với từng
phân đoạn khách hàng, quan tâm đúng mức việc phát triển kinh doanh và quản lý rủi ro.

• Giai đoạn 2001 - 2005: Năm 2003, ACB xây dựng hệ thống quản lý chất lượng
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1
–K22

13


Đây cũng là trung tâm dữ liệu xây dựng theo chuẩn quốc tế đầu tiên tại Việt Nam. Trong
năm, ACB đưa vào hoạt động thêm 45 chi nhánh và phòng giao dich.
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1
–K22

14
• Năm 2012: Sự cố tháng 08/2012 đã tác động đáng kể đến nhiều mặt hoạt động
của ACB, đặc biệt là huy động và kinh doanh vàng. ACB đã ứng phó tốt sự cố rút tiền
xảy ra trong tuần cuối tháng 8. Sau đó, nhanh chóng khôi phục số dư huy động tiết kiệm
VND chỉ trong thời gian 2 tháng. Đáng lưu ý là tuy tổng tiền gửi khách hàng có giảm
nhưng huy động tiết kiệm VND của ACB tăng trưởng 16,3% so với đầu năm. ACB cũng
lành mạnh hóa cơ cấu bảng tổng kết tài sàn thông qua việc xử lý các tồn đọng liên quan
đến hoạt động kinh doanh vàng theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước. Trong năm
2012, ACB thành lập mới 16 chi nhánh và phòng giao dịch, nâng tổng số chi nhánh và
phòng giao dịch trên cả nước lên thành 345 đơn vị.

2.2 Tầm nhìn và chiến lược hoạt động
2.2.1 Tầm nhìn
Ngay từ những ngày đầu thành lập, tầm nhìn của Ngân hàng ACB đã xác định là trở
thành một NHTMCP bán lẻ hàng đầu Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam
vào thời điểm đó “Ngân hàng bán lẻ với khách hàng mục tiêu là cá nhân, doanh nghiệp
vừa và nhỏ” là một định hướng rất mới đối với ngân hàng Việt Nam, nhất là một ngân
hàng mới thành lập như ACB.
2.2.2 Chiến lược hoạt động

dựng được mối quan hệ với các định chế tài chính khác, thí dụ như các tổ chức thẻ quốc
tế (Visa, MasterCard), các công ty bảo hiểm (Prudential, AIA, Bảo Việt, Bảo Long),
chuyển tiền Western Union, các ngân hàng bạn (Banknet), các đại lý chấp nhận thẻ, đại
lý chi trả kiều hối, v.v Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng, ACB đang quan hệ hợp tác
với các định chế tài chính và các doanh nghiệp khác để cùng nghiên cứu phát triển các
sản phẩm tài chính mới và ưu việt cho khách hàng mục tiêu, mở rộng hệ thống kênh
phân phối đa dạng. Đặc biệt, ACB đã có một đối tác chiến lược là SCB, Ngân hàng nổi
tiếng về các sản phẩm của ngân hàng bán lẻ. ACB đang nỗ lực tham khảo kinh nghiệm,
kỹ năng chuyên môn cũng như công nghệ của các đối tác để nâng cao năng lực cạnh
tranh của mình cho quá trình hội nhập.
- Tăng trưởng thông qua hợp nhất và sáp nhập: ACB ý thức là cần phải xây dựng
năng lực tiếp nhận đối với loại tăng trưởng không cơ học này và thực hiện chiến lược
hợp nhất và sáp nhập khi điều kiện cho phép.
Đa dạng hóa
Đa dạng hóa là một chiến lược tăng trưởng khác mà ACB quan tâm thực hiện, ACB
đã có các công ty: Công ty chứng khoán ACB, Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản
(ACBA), Công ty Cho thuê tài chính và Công ty Quản lý quỹ. Với vị thế cạnh tranh đã
được thiết lập khá vững chắc trên thị trường, trong thời gian sắp tới, ACB có thể xem xét
thực hiện chiến lược đa dạng hóa tập trung để từng bước trở thành nhà cung cấp dịch vụ
tài chính toàn diện thông qua các hoạt động sau đây:
- Cung cấp và tăng cường quan hệ hợp tác với các công ty bảo hiểm để phối hợp
cung cấp các giải pháp tài chính cho khách hàng.
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1
–K22

16

18
Nguồn: BCTC qua các năm của ACB, đvt: triệu đồngTốc độ tăng trưởng quy mô tài sản bình quân 5 năm qua đạt 20.3%. Dư nợ cho vay
và nguồn vốn huy động cũng tăng trưởng tương ứng với tổng tài sản qua các năm nhưng
với tốc độ chậm hơn: tăng trưởng dư nợ bình quân 5 năm đạt 34%, tăng trưởng nguồn
vốn chủ sở hữu bình quân 5 năm đạt 13%. Riêng dư nợ cho vay có tốc độ tăng trưởng
bính quân cao hơn so với tổng tài sản do sự gia tăng đột biến trong dư nợ vào năm 2009
tăng với mức 78,78% khiến tăng trưởng bình quân đạt 29,01% trong 5 năm Chứng
khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ chưa
đến 5% qua các năm. Năm 2010 là năm Ngân hàng đầu tư chứng khoán mạnh nhất với
hơn 49.000 tỷ đồng, chiếm 24% tổng tài sản nhưng đã nhanh chóng giảm hơn 45% vào
năm sau đó.
Năm 2012, tổng tài sản của ACB đạt 176.307 tỷ đồng, giảm 37% so với cuối năm
2011. Nguyên nhân dư nợ cho vay trên thị trường và chứng khoán kinh doanh giảm là do
nền kinh tế gặp khó khăn, lãi suất giảm mạnh, một số ngân hàng nhỏ gặp khó khăn về
thanh khoản khiến cho các ngân hàng thu hẹp hoạt động cho vay trên thị trường liên
ngân hàng. Mặt khác, thị trường chứng khoán ảm đạm, chưa ổn định nên các ngân hàng
có xu hướng thu hẹp hoạt động kinh doanh chứng khoán nhằm kiểm soát rủi ro, chuyển
hướng sang các kênh đầu tư khác hiệu quả hơn?
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1
–K22

20

đồng, vốn điều lệ đạt 9.377 tỷ đồng. Mặc dù Vốn điều lệ được tăng liên tục để nhằm cải
thiện tình hình tài chính của ACB tuy nhiên vẫn không tăng vượt so với sự tăng trưởng
lớn mạnh của Tổng tài sản trong đó chiếm tỷ lệ tăng cao là Tổng dư nợ qua từng năm
trong giai đoạn 2008-2012.

Nguồn: BCTC qua các năm của ACB, đvt: triệu đồng
Thu nhập lãi thuần và thu nhập hoạt động tăng đều qua các năm trong giai đoạn
2008-2012 tuy nhiên đến năm 2012 do tình hình kinh tế khó khăn kèm theo sự kiện
không tốt ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ACB khiến cho lãi thuần gia tăng chỉ
4% so với năm 2011. Sự sụt giảm từ sự giảm của tổng thu nhập hoạt động 23,69% khiến
cho ACB sụt giảm tăng trưởng lợi nhuận trước thuế 75% so với năm 2011.
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1
–K22

21

quy mô tổng tài sản, dư nợ cho vay và số dư tiền gửi khá mạnh tuy nhiên trong năm
2012 thì sụt giảm do tình hình kinh tế khó khăn, sự kiện 7.000 tỷ đồng liên quan đến Bầu
Kiên . Những khoản vay này đều có tài sản thế chấp bao gồm: cổ phiếu của tổ chức tín
dụng khác 3.458 tỷ đồng; cổ phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết trị giá 1.989 tỷ đồng;
góp vốn vào doanh nghiệp hơn 925 tỷ đồng và thư bảo lãnh của ngân hàng 750 tỷ đồng.
Kế tiếp là vụ án lừa đảo của Huỳnh Thị Huyền Như với số tiền 718 tỷ đồng gửi tại CTG
và thêm vào đó là 700 tỷ đồng dư nợ với Vinalines được xếp vào nợ nhóm 2 cần phải
trích lập dự phòng 5%. Nói như vậy để thấy rằng, từ vụ “bầu” Kiên đã gây ra rất nhiều
tác động tiêu cực cho ACB.
Về Vốn chủ sở hữu, ACB xếp thứ 7 sau VCB, CTG, BIDV, STB, EIB, TECH. Theo
chúng tôi, nguyên nhân VCSH của ACB thấp là do Ngân hàng thực hiện chi trả cổ tức
bằng tiền mặt đợt 1 năm 2011 ở mức 20%.

3.1.3 Cơ cấu cho vay:
Cơ cấu cho vay theo loại hình tiền tệ:
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1
–K22

23Nguồn: BCTC qua các năm của ACB

Các khoản tín dụng bằng VND chiếm khoảng từ 70 – 83% qua các năm, cao nhất
đạt 83% trong năm 2009. Tỷ trọng cho vay bằng vàng và ngoại tệ dao động trong
khoảng 25 – 30%, tương đối lớn trong tương quan với các NH khác. Do đó, việc phòng
vệ rủi ro tỷ giá và rủi ro giá vàng có vai trò quan trọng đến khả năng thanh khoản của

9

N
ăm

2
0
1
0

N
ăm

2
0
1
1

N
ăm

2
0
1
2

Thương mại

23%


15%

13%

X
â
y

d

n
g

3%

4%

4%

5%

3%

Dịch vụ cá nhân và cộng
đồng

51%

37%


0%

Tư vấn và kinh doanh bất động
sản

2%

1%

1%

1%

1%

Nhà hàng và khách
sạn

1%

2%

2%

2%

2%

GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1
–K22

2011

Năm
2012

TP.
HCM

71%

65%

65%

61%

62%

Đồng bằng sông Cửu
Long

4%

4%

4%

5%

5%

22%

19%

M
i

n

Đ
ô
n
g

5%

5%

6%

6%

7%

Nguồn: BCTC qua các năm của ACB

Về địa lý, ACB chủ trương phát triển ở khu vực truyền thống là ở TP HCM và Hà
Nội, sau đó từng bước tăng sự hiện diện ra các khu vực đô thị dọc theo trục giao thông
Bắc – Nam và một số đô thị lớn ở khu vực miền Đông và miền Tây Nam Bộ. TP Hồ Chí
Minh vẫn là địa bàn cho vay chính của Ngân hàng, song tỷ trọng cho vay đã giảm dần từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status