tiểu luận hợp đồng tín dụng và những vấn đề thực tiễn - Pdf 13

1 KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
LỚP K09404B
 Môn: Luật kinh tế

Đề tài:

HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN

GVHD: Ths. Đào Thị Thu Hằng
Nhóm thực hiện: Nhóm 16 – K09404B
2

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 – KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG 4

III.1. Những biện pháp hoàn thiện pháp luật. 23
III.2. Những biện pháp đảm bảo thực hiện pháp luật 27
Tài liệu tham khảo: 29
DANH SÁCH NHÓM TRÌNH BÀY 30 3

LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ quyết định Đổi mới sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đại
hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế nước ta đã có nhiều biến chuyển sâu sắc. Các
thành phần kinh tế đa dạng. Khu vực kinh doanh tư nhân, khu vực đầu tư nước
ngoài ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu GDP đất nước. Để duy trì và
phát triển hoạt động kinh doanh, các chủ thể kinh doanh cần có một nguồn vốn dồi
dào và tín dụng là một kênh quan trọng cung cấp cho các doanh nghiệp, công ty…
Các tổ chức tín dụng mà nổi bật là các ngân hàng thương mại chính là những tổ
chức tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể kinh doanh tiếp xúc với nguồn tín dụng
tốt nhất.
Hiện nay, trong số các vụ tranh chấp dân sự, kinh tế thì tranh chấp về hợp
đồng chiếm tỷ lệ lớn nhất trong đó phải kể đến tranh chấp HĐTD. Theo báo cáo
môi trường kinh doanh 2008 công bố ngày 26/9/2007 của ngân hàng thế giới
(WB), lĩnh vực vay vốn của Việt Nam xếp hạng 48/178, tiến bộ đáng kể so với vị
trí 83/175 năm 2006. Cũng theo báo cáo, Việt Nam trong năm 2006 đã mở rộng
phạm vi các tài sản được dùng để thế chấp qua đó các doanh nghiệp tiếp cận tín
II. Phân loại TD
Dựa vào từng tiêu chí mà có nhiều cách phân loại TD khác nhau sau đây:
- Dựa vào thời hạn TD: có 3 loại.
 TD ngắn hạn : dưới 1 năm.
 TD trung hạn: từ 1 đến 5 năm.
 TD dài hạn: 5 năm trở lên.
- Dựa vào mục đích sử dụng:
 TD sản xuất và lưu thông hàng hóa.
 TD tiêu dùng.
- Dựa vào chủ thể trong quan hệ TD:
 TD thương mại: là hình thức mua bán chịu hàng hóa, giấy nợ trong
việc mua bán nợ này là thương phiếu ( nó bao gồm hối phiếu và lệnh
phiếu).
 TD nhà nước: bao gồm tín phiếu kho bạc (TD ngắn hạn) và trái phiếu
(TD dài hạn).
Chủ thể cho vay (nguồn
cung TD):
 Tiết kiệm cá nhân.
 Tiết kiệm doanh
nghiệp.
 Thặng dư ngân sách
nhà nước
 ….

Chủ thể đi vay (nguồn cầu

III.3.Quy trình tín dụng ngân hàng
III.3.a. Quy trình tín dụng ngân hàng là gì?
Quy trình tín dụng ngân hàng là bản tổng hợp mô tả công việc của ngân
hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết
định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng.
III.3.b. Ý nghĩa của quy trình tín dụng
- Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt
quan trọng đối với một ngân hàng thương mại.
- Về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng
cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng.
- Về mặt quản lý, quy trình tín dụng có tác dụng:
 Làm cơ sở cho việc phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong
hoạt động tín dụng.
 Làm cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn.
III.3.c. Một quy trình tín dụng căn bản: gồm 7 bước.
Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn
6

Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:
- năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng
- khả năng sử dụng vốn vay
- khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)
Bước 2: Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lai của khách
hàng trong việc sử dụng vốn vay + hoàn trả nợ vay.
Bước 3: Ra quyết định tín dụng
Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay
đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng.
Bước 4: giải ngân
Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng như ký kết

 Mục đích sử dụng vốn vay.
 Giới hạn vốn vay.
- Thứ năm, nội dung hợp đồng tín dụng phải có:
o Điều kiện vay
o mục đích sử dụng tiền vay
o hình thức vay, số tiền vay
o lãi suất
o thời hạn vay
o hình thức bảo đảm
o giá trị tài sản bảo đảm
o phương thức trả nợ
o những cam kết khác được các bên thỏa thuận

(Điều 51 Luật các TCTD)
- Thứ sáu, tổ chức tín dụng có quyền xem xét, quyết định cho vay hay không
dựa trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế
chấp của khách hàng vay, bảo lãnh của bên thứ ba và chịu trách nhiệm về
quyết định của mình. Tổ chức tín dụng không được cho vay trên cơ sở cầm
cố bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng cho vay.
- Thứ bảy, mức lãi suất cho vay: phù hợp với quy định của NHNN Việt Nam.
- Thứ tám, lãi suất nợ quá hạn: không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp
dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp
đồng tín dụng.
- Thứ chín, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng: Thẩm phán phải theo
dõi lãi suất cơ bản do Thống đốc NHNN công bố trong từng thời kỳ.
8

- Thứ mười, nếu bên vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích đã thỏa
thuận, thì ngân hàng lập tức được quyền chấm dứt hợp đồng, phạt vi phạm
và thu hồi nợ trước hạn.

có quyền thu hồi nợ trước hạn.
III.1.b. Cơ cấu lại thời hạn trả nợ
Trường hợp bên vay không có khả năng trả nợ theo đúng thoả thuận ban
đầu, nếu đủ điều kiện thì có thể được ngân hàng xem xét cho cơ cấu lại thời hạn
trả nợ, bao gồm hai cách là gia hạn nợ và điều chỉnh kỳ hạn trả nợ.
- Trước 2005, NHNN quy định:
 Khoản vay ngắn hạn chỉ được gia hạn tối đa bằng thời hạn cho vay.
 Khoản vay trung, dài hạn tối đa bằng ½ thời hạn cho vay.
9

- Từ 2005 đến nay, theo quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03
tháng 2 năm 2005 của thống đốc NHNN: các khoản nợ được gia hạn
nhiều lần, với thời hạn không bị hạn chế.
III.1.c. Thẩm quyền kí hợp đồng
Mỗi bên chỉ cần một người đại diện có thẩm quyền ký hợp đồng tín dụng
và khế ước nhận nợ. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều trường hợp bên ngân hàng có
hai chữ ký (giám đốc và trưởng phòng tín dụng), đồng thời yêu cầu bên vay cũng
có hai chữ ký (giám đốc và kế toán trưởng đối với doanh nghiệp hoặc hai vợ
chồng đối với cá nhân).
Ngoài ra, đối với cả ngân hàng và bên vay là doanh nghiệp, thì dòi hởi phải
có sự thông qua của cấp có thẩm quyền đối với các trường hợp khoản tín dụng đạt
đến một mức nhất định như:
- Bên vay là doanh nghiệp phải thông qua Hội đồng Thành viên hoặc Chủ sở
hữu công ty hoặc HĐQT trong trường hợp giá trị khoản vay hay giá trị tài sản
cầm cố, thế chấp “bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong
báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ
khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty” (§ 47, 64 và 108 LDN).
- Đối với ngân hàng, nếu các khoản cho vay có giá trị từ 10% tổng tài sản của
ngân hàng trở lên, thì cũng phải thông qua HĐQT hoặc được HĐQT phân cấp,
uỷ quyền. Đối với các khoản vay trên 15% vốn tự có của ngân hàng, thì phải

vốn khả thi, khả năng tài chính của mình và người bảo lãnh trước khi quyết định
cho vay;
- Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vay vốn;
dự án, phương án vay vốn không có hiệu quả, không phù hợp với quy định của
pháp luật hoặc ngân hàng không có đủ nguồn vốn để cho vay.
- Kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách
hàng.
- Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn khi phát hiện
khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng.
- Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc khởi kiện bên thứ ba
cầm cố, thế chấp, bảo lãnh theo quy định của pháp luật.
- Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có thoả
thuận khác thì ngân hàng có quyền bán tài sản bảo đảm tiền vay theo sự thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay để thu nợ theo
quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người thứ ba thực hiện nghĩa vụ cầm cố,
thế chấp, bảo lãnh cho khách hàng vay vốn.
- Miễn, giảm lãi tiền vay theo quy định của ngân hàng; gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ
hạn nợ theo quy định.
- Mua bán nợ, đảo nợ, khoanh nợ, xoá nợ và cơ cấu lại nợ theo quy định của
Chính phủ và hướng dẫn của NHNN Việt Nam.
III.3.b. Nghĩa vụ của bên cho vay
Giải ngân cho bên vay theo đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật.
11

- Trong số các nghĩa vụ của bên cho vay, thì nghĩa vụ giải ngân là quan trọng
nhất. Nếu nghĩa vụ này không được thực hiện, thì sẽ không phát sinh quyền và
nghĩa vụ khác của hai bên.
III.4. Các đối tượng không được vay (Điều 77 luật các TCTD 1997)

Cho vay đối với các đối tư
ợng bị hạn chế cho vay
< 05% vốn tự có

3

Cho vay đối với 1 khách hàng < 15% vốn tự có

4

Cho vay + Bảo lãnh đối với 1 khách hàng < 25% vốn tự có

5

Cho vay đối với 1 nhóm khách hàng liên quan < 50% vốn tự có

12

S
TT
Tổng dư nợ cho vay và bảo lãnh Giới hạn
6

Cho vay + Bảo lãnh đối với 1 nhóm khách hàng

< 60% vốn tự có

7

Cho vay để đầu tư và kinh doanh chứng khoán < 20% v

thậm chí thương hiệu của bên vay.
Tranh chấp HĐTD còn có thể xuất phát từ việc vi phạm nghĩa vụ trả lãi và
thậm chí cả gốc và lãi. Trên thực tế, có trường hợp hai bên không thoả thuận rõ
13

ràng về lãi suất đối với cả thời hạn vay hoặc ban đầu do cần tiền để thực hiện kế
hoạch của mình nên khách hàng chấp nhận mức lãi suất đó nhưng sau một thời
gian thực hiện hợp đồng phía khách hàng nhận thấy lãi suất đó cao quá nên không
đồng ý. Tuy nhiên, đa phần là dạng tranh chấp về vi phạm nghĩa vụ trả nợ của
khách hàng khi đáo hạn.
Năm 1995, do nhu cầu sản xuất kinh doanh mở rộng, công ty trách nhiệm
hữu hạn Phương Đông (CTPĐ) đã vay của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển
Nông Thôn (NH NN&PTNT) số tiền là 400,667 triệu VNĐ, trong đó lần vay cuối
cùng ngày 24/6/1996 là 80 triệu VNĐ do trung tâm tư vấn doanh nghiệp bảo lãnh.
Số vay còn lại được công ty Phương Đông thế chấp bằng ngôi nhà ba tầng có diện
tích 482m
2
, là trụ sở làm việc và mặt bằng sản xuất của công ty. Nhưng sau đó, do
hoạt động kinh doanh thua lỗ nên khi đến hạn công ty Phương Đông đã không thể
thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn như đã cam kết. Vì thế, ngày 12/4/1999 NH
NN&PTNT đã khởi kiện công ty Phương Đông phải thanh toán cả gốc và lãi là
802.877 triệu VNĐ.
Sau đây, chúng ta xem xét một vài ví dụ cụ thể về hành vi của bên cho vay
và bên vay về tranh chấp lãi suất trong hợp đồng tín dụng.
I.1.a. Thỏa thuận thay đổi lãi suất khi thời hạn chưa kết thúc
Về mặt lí luận, khi các bên đã thỏa thuận về lãi suất cố định trong HĐTD
thì lãi suất sẽ không được điều chỉnh trong suốt thời hạn vay. Tuy nhiên, pháp luật
không cấm điều chỉnh lãi suất trong trường hợp các bên có sự thống nhất ý chí. Do
đó, tranh chấp về thỏa thuận thay đổi lãi suất khi thời hạn vay chưa kết thúc chỉ
xảy ra trong hai trường hợp: một là, khách hàng yêu cầu giảm lãi suất hoặc miễn

thuận yêu cầu của ngân hàng vì ông M. chưa thực hiện đầy đủ điều kiện theo thỏa
thuận nên nghĩa vụ giảm lãi suất và giảm tiền phạt chậm trả của ngân hàng P.
không phát sinh.
Đối với những vụ tranh chấp như vậy, nguyên nhân chủ yếu thuộc về lỗi
của bên vay, bởi vì nghĩa vụ giảm lãi của TCTD chỉ phát sinh khi khách hàng vay
vốn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận.

TCTD yêu cầu nâng lãi suất cho vay
Điều khoản về lãi suất trong HĐTD là điều khoản vô cùng quan trọng.
Thông thường để hạn chế rủi ro lãi suất, TCTD không thỏa thuận lãi suất cố định
với hợp đồng trung – dài hạn mà quy định trong HĐTD lãi suất cho vay tính bằng
lãi suất tiền gửi cộng một biên độ và thay đổi định kì. Trong một số hợp đồng vay
ngắn hạn, lãi suất cho vay được thỏa thuận là lãi suất cố định trong suốt thời gian
vay. Khi thị trường có những biến động khiến TCTD phải nâng lãi suất huy động
để thu hút nguồn vốn trong dân cư, việc cho vay với lãi suất thấp hơn (ở những
HĐTD kí kết từ trước đó nhưng vẫn trong quá trình giải ngân) so với lãi suất huy
động hiện tại sẽ khiến TCTD mất đi một phần lợi nhuận. Vì vậy, không ít TCTD
đã yêu cầu khách hàng chấp nhận tăng lãi suất cho vay mới tiếp tục giải ngân. Đây
chính là tình trạng xảy ra rất nhiều trong thời gian giữa năm 2008 khi áp dụng
chính sách điều hành lãi suất “thắt chặt” của NHNN, lãi suất huy động và lãi suất
cho vay được đẩy lên rất cao. Tình trạng này không chỉ xảy ra ở đơn lẻ một TCTD
nào hay đối với một đối tượng cụ thể nào, chính vì thế đã có những tác động to lớn
đối với người dân tham gia vào quan hệ tín dụng. Dưới đây là một vụ việc điển
hình trong số ít những vụ việc có sự phản ứng mạnh mẽ từ phía người đi vay,
trong khi hầu hết những vụ việc khác bên vay thường chịu thiệt thòi tăng mức lãi
suất nhằm có được khoản vốn phục vụ nhu cầu của mình.
Theo HĐTD được kí vào ngày 02/11/2007, NHTMCP X đồng ý cho ông
Nguyễn Thành Kham (cư xá Chu Văn An, quận Bình Thạnh, TPHCM) vay gần
400 triệu đồng, phục vụ mục đích tiêu dùng, thời hạn giải ngân tối đa đến hết ngày
31/12/2008. Lãi suất cho vay là 0,88%/tháng (tương đương 10,56%/năm) và mức

suất nợ quá hạn và cách tính lãi đối với các khoản nợ quá hạn.
I.1.b. Lãi suất trong hạn và cách tính lãi trong hạn
Với Thông tư số 12/2010/TT-NHNN và Luật Các tổ chức tín dụng 2010 có
hiệu lực từ ngày 01/01/2011, TCTD được cho vay bằng đồng Việt Nam với khách
hàng theo lãi suất thỏa thuận. Khi chuyển sang cơ chế trần lãi suất cho vay, nhiều
TCTD với những HĐTD kí kết trước 19/5/2008 lâm vào cảnh vượt quá mức trần
là 150% lãi suất cơ bản. Trước đây cơ chế lãi suất thỏa thuận từng được áp dụng
trong khoảng thời gian từ tháng 6/2002 đến tháng 5/2008. Tại Thông tư số
04/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy
định tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất tối đa bằng mức lãi suất tiền gửi không kỳ
hạn thấp nhất của tổ chức tín dụng theo từng đồng tiền trong trường hợp tổ chức,
cá nhân rút tiền gửi trước hạn. Có thể thấy rằng, mỗi lần NHNN thay đổi chính
16

sách lãi suất cho vay, những HĐTD đang có hiệu lực cũng chịu ảnh hưởng không
nhỏ, nhất là khi có tranh chấp xảy ra.
Đây là một vụ việc điển hình cho vấn đề này: Đơn cử trường hợp tháng
12/2009, TAND quận Gò Vấp (TPHCM), xử sơ thẩm vụ tranh chấp HĐTD giữa
NHTMCP T. với khách hàng L.Đ.H. Diễn biến vụ việc như sau: tháng 02/2008,
ông H. kí hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng T., thỏa thuận trong hợp
đồng hàng tháng ông H. có trách nhiệm thanh toán toàn bộ dư nợ tối thiểu cho
ngân hàng trước ngày đến hạn. Sau khi được cấp thẻ tín dụng hạn mức 15.000.000
đồng, ông H. đã rút gần 14.500.000 đồng để tiêu xài. Tháng 4/2008, ông H. thanh
toán được khoảng 1.500.000 đồng cho ngân hàng. Tháng 7/2009, ngân hàng khởi
kiện, và hai bên thỏa thuận ông H. trả góp mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi
hết nợ. Tại tòa, đại diện ngân hàng xác định số tiền nợ cả gốc lẫn lãi của ông H.
tính đến ngày xét xử là gần 40.000.000 đồng. Trong trường hợp hai bên hòa giải
được, ngân hàng sẽ giảm cho ông H. hơn 8.500.000 đồng tiền phí vượt hạn mức và
một phần phí thanh toán trả chậm. Số nợ còn lại ông H. phải thanh toán làm ba lần
trong vòng hai tháng kể từ ngày hòa giải thành. Ngược lại, ông H. không đồng ý

khách hàng.
Ba là, cơ quan xét xử chia bình quân lãi suất trong thời gian vay để xác
định tính hợp pháp của thỏa thuận lãi suất trong từng giai đoạn tương ứng với từng
cơ chế điều hành lãi suất của NHNN.
I.1.c Lãi suất nợ quá hạn và cách tính lãi đối với khoản nợ quá hạn
Lãi suất nợ (gốc) quá hạn là một trong những nội dung thường xảy ra tranh
chấp trong hoạt động tín dụng. Trên thực tế việc áp dụng cách tính lãi suất nợ quá
hạn còn nhiều vấn đề chưa được rõ ràng. Hiện nay trong pháp luật Việt Nam có
hai quy định không thống nhất về cách thức tính lãi suất quá hạn. Cách thứ nhất
theo quy định tại Khoản 5 Điều 474 BLDS 2005 thì lãi suất quá hạn được tính
không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Trong khi đó cách tính thứ hai căn cứ vào
pháp luật chuyên ngành là Khoản 2 Điều 11 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN
lãi suất quá hạn không vượt quá 150% lãi suất trong hạn. Theo đó, có nhiều tranh
chấp xảy ra về cách tính lãi suất nợ quá hạn mà nhiều bản án sơ thẩm bị kháng
cáo, kháng nghị vì lí do này. Trên thực tế, cơ quan tài phán cũng không hoàn toàn
nhất quán trong quá trình giải quyết. Việc áp dụng quy định của pháp luật chuyên
ngành hay quy định của BLDS cũng chứng tỏ không ít sự lúng túng của cơ quan
có thẩm quyền.
Một số vụ việc cụ thể như sau có thể chứng minh rằng việc áp dụng pháp
luật vẫn còn nhiều bất cập khiến quyền lợi của các bên tranh chấp bị ảnh hưởng.
Dưới đây là 2 vụ xét xử về hợp đồng tín dụng ở TAND tỉnh Sóc Trăng sau đó
được phúc thẩm lại tại TANDTC ở TP Hồ Chí Minh.
NHTMCP Việt Nam Thương Tín (sau đây gọi là VietBank) kiện bà Phan
Ngọc H. Nội dung vụ việc như sau:
 HĐTD số 686/NHVNTT ngày 26/11/2007 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung
số 01/HĐSĐ,BS ngày 04/7/2008.
 Số tiền vay 250.000.000 đồng.
 Thời hạn vay là 12 tháng từ ngày 27/11/2007 đến 27/11/2008.
 Lãi suất vay được tính từ ngày 27/11/2007 đến 04/7/2008 là 1,05%/tháng,
từ ngày 04/7/2008 trở đi là 1,75%/tháng. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi

150% lãi suất trong hạn trong hợp đồng là 150% x 1,75%/tháng. Tòa phúc thẩm
TANDTC tại TPHCM xét xử phúc thẩm cho rằng việc áp dụng quy định của
BLDS 2005 là hợp pháp và không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tại bản án
số 56/2010/KDTM-PT và 57/2010/KDTM-PT cùng ngày 08/4/2010.
Khác với hai vụ việc trên, trong vụ “Ly hôn và tranh chấp tài sản” sau đây,
cơ quan chức năng lại đưa ra cách giải quyết ngược lại. Ông Trịnh Xuân B. và bà
Lê Thị Thanh N. kí với NHTMCP Á Châu (sau đây gọi là ACB) hai HĐTD.
 Hợp đồng thứ nhất PHT.CN.01080907 ngày 10/9/2007 và HĐTD trung,
dài hạn số 29900799 ngày 10/9/2007, nợ vốn 1.744.447.000 đồng nợ gốc
và lãi 146.533.546 đồng.
 Hợp đồng thứ hai PHT.CN.01171107 ngày 19/11/2007 và HĐTD trung,
dài hạn số 32276929 ngày 20/11/2007, tổng số tiền 633.326.000 đồng nợ
vốn và 34.075.314 đồng nợ lãi.
Bản án sơ thẩm số 61/2009/HNST ngày 31/12/2009 của TAND quận 10
(TPHCM) tuyên tiền lãi của ACB sẽ được tính tiếp tục kể từ ngày 01/01/2010 với
mức lãi suất cơ bản theo quy định của NHNN trên tổng số dư nợ gốc thực tế cho
đến khi trả hết nợ gốc căn cứ vào BLDS 2005. Sau đó ACB kháng cáo cho rằng
ông B., bà N. phải chịu lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn từ
19

01/01/2010 đến ngày trả dứt nợ. Tòa phúc thẩm TANDTC tại TPHCM chấp nhận
kháng cáo của ACB.
Có thể thấy rằng cùng một tình tiết và cùng Tòa phúc thẩm TANDTC
nhưng cách thức giải quyết vụ việc lại khác nhau, tương ứng với hai cách tính lãi
suất quá hạn. Cách thứ nhất theo quy định tại Khoản 5 Điều 474 BLDS 2005 thì
lãi suất quá hạn được tính không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Trong khi đó
cách tính thứ hai căn cứ vào pháp luật chuyên ngành là Khoản 2 Điều 11 Quyết
định số 1627/2001/QĐ-NHNN lãi suất quá hạn không vượt quá 150% lãi suất
trong hạn. Khi áp dụng quy định về lãi suất nợ quá hạn của BLDS, người bị thiệt
hại sẽ là TCTD, vì lãi suất cho vay trong hạn luôn cao hơn so với lãi suất cơ bản

20

Tranh chấp phát sinh từ HĐTD còn là những tranh chấp về luật áp dụng và
cơ quan giải quyết tranh chấp trường hợp một trong hai bên là bên nước ngoài mà
khi ký kết hợp đồng các bên đã không thoả thuận lựa chọn cơ quan giải quyết
tranh chấp cũng như luật áp dụng.
Tranh chấp phát sinh ngày càng nhiều, diễn biến cũng đa dạng và có tính
chất phức tạp. Do đó, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là hết
sức cần thiết. Từ đó, có những biện pháp, đường lối, chính sách nhằm khắc phục
tình trạng tranh chấp để tiến tới giảm đáng kể số lượng tranh chấp.
II. Những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng
Nguyên nhân gây ra tranh chấp HĐTD rất đa dạng, có thể xem xét theo
nhiều tiêu thức khác nhau. Một trong những cách tiếp cận thông dụng là phân tích
nguyên nhân gây ra từ phía bên cho vay, bên vay và những quy định của pháp luật.
II.1. Nguyên nhân từ phía bên cho vay có thể bao gồm :
Ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải
ngân cho khách hàng như đã cam kết. Các tổ chức tín dụng không chấp hành
nghiêm chỉnh chế độ tín dụng và điều kiện cho vay. Nhiều tổ chức cho vay không
tiến hành quy trình thẩm định theo nguyên tắc 6cs, điều mà các định chế tài chính
quốc tế luôn cảnh báo là: 6cs tính cách người vay (character), năng lực trả nợ
(capacity), dòng tiền mặt (cash folow), tài sản thế chấp (collaral), các điều kiện
môi trường (conditions), sự kiểm soát (control), mà vẫn dựa vào cảm tính của các
nhân viên ngân hàng. Điều này, tạo điều kiện cho các tổ chức “tín dụng đen” ngày
càng được tổ chức ở phạm vi rộng rãi hơn, quy mô hơn và nhiều người đã trở
thành nạn nhân của các tổ chức này. Trên thực tế, bên cho vay khi tiến hành thẩm
định cũng không thể kiểm tra được bên vay có thông qua một tổ chức tín dụng đen
nào không.
Chính sách và quy trình cho vay chưa thực sự chặt chẽ, chưa có quy trình
quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro
tín dụng để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ của khách hàng khi đáo hạn. Ở

trung bình ngành phục vụ cho việc xếp loại khách hàng vay”. Trong quá trình tiến
hành hoạt động cho vay, các bên cho vay nên đặc biệt lưu tâm tới các điều kiện
của bên vay để có những quyết định đúng đắn, tránh những tranh chấp về sau.
Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số nhân viên tín dụng chưa đủ tầm
dẫn đến có trường hợp khách hàng vay vốn có thế chấp bằng tài sản nhưng vẫn
được giữ cả vật thế chấp và giấy tờ gốc chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của
họ. Rồi sau đó, khách hàng đem bán tài sản bảo đảm cho người thứ ba. Khi đó cả
ngân hàng và người thứ ba đều cho rằng tài sản đó phải thuộc sở hữu của mình.
Trên thực tế, đã có nhiều tranh chấp HĐTD phát sinh do nguyên nhân này.
Như vậy, đối với bên cho vay cần tuân thủ nghiêm chỉnh quy trình, điều
kiện cho vay, nâng cao đội ngũ nhân lực ngân hàng, củng cố và phát triển hệ thống
thông tin tín dụng, có biện pháp để kiểm tra, giám sát hoạt động của bên vay có
đúng như cam kết không.
II.2. Nguyên nhân từ phía bên vay
Các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp HĐTD do người vay bao gồm:
22

Bên vay không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ những
nghĩa vụ của mình. Điều này, có thể do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ
quan chi phối.
Về mặt khách quan: là những nguyên nhân tác động ngoài ý chí của khách
hàng như do thiên tai, hoả hoạn, do sự thay đổi của chính sách quản lý kinh tế,
điều chỉnh quy hoạch, do biến động của thị trường trong và ngoài nước, quan hệ
cung cầu hàng hoá thay đổi… làm cho hoạt động của bên vay không tiến hành
được như kế hoạch đã định.
Về mặt chủ quan: là yếu tố xuất phát từ mỗi khách hàng. Đó có thể xuất
phát từ vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không đáp ứng
nhu cầu, năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường và thông tin về
các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng tới quá trình sản xuất, công nghệ chưa được
cải thiện nên sản phẩm tạo ra chưa có tính cạnh tranh cao, hiệu quả kinh doanh

đưa ra các căn cứ hay những lý do chính đáng. Nhưng chưa có văn bản nào hướng
dẫn cụ thể về vấn đề này. Vì thế, phía người cho vay quan niệm rằng cho vay là
quyền được tự do kinh doanh của họ vì vậy lý do có chính đáng hay không do ho
quyết định. Còn người đi vay thì không đồng ý với cách hiểu đó và trong những
trường hợp bị từ chối họ sẵn sàng khiếu nại tới các cơ quan liên quan để yêu cầu
giải quyết. Cả hai cách hiểu đó đều không thoả đáng. Để khắc phục tình trang này,
nhất thiết phải có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng để các bên trong hợp đồng cũng như
các nhà áp dụng pháp luật được thông nhất.
Nhiều quy định còn chồng chéo nhất là các biện pháp xử lý tài sản bảo
đảm. Hiện nay, hành lang pháp lý cho hoạt động giao dịch bảo đảm chưa hoàn
chỉnh, thiếu đồng bộ và nhiều quy định không thể thực hiện được trên thực tế.
Việc đăng ký giao dịch bảo đảm thực hiện phân tán ở nhiều cơ quan khác nhau tạo
kẽ hở trong quản lý. Theo Nghị định số 163/2006/NĐ - CP cho phép các tổ chức
tín dụng được lựa chọn hình thức xử lý đa dạng như bán tài sản thế chấp, nhận các
khoản tiền và tài sản từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ,
phương thức khác do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận
được phương thức xử lý tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thì
các tài sản này được đem bán đấu giá nhưng để thực hiện được các bên lại phải ký
hợp đồng uỷ quyền tại đơn vị bán đấu giá có thẩm quyền. Điều này thường không
thực hịên được do bên thế chấp không đồng ý và khi đó các tổ chức cho vay không
có cơ chế nào để bảo vệ được quyền lợi của mình.
Để hạn chế được các tranh chấp thì trước hết phải có cách hiểu thống nhất
và những quy định cần được hướng dẫn thi hành một cách cụ thể. Đây cũng là một
trong những công tác cần làm tốt trong quá trình ban hành và sửa đổi những quy
định của pháp luật.
III. Một số biện pháp nhằm đảm bảo hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp
đồng tín dụng tại Toà án
III.1. Những biện pháp hoàn thiện pháp luật.
Thời gian qua, các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động cho vay của
các tổ chức tín dụng và những định chế tài chính khác đã được sửa đổi, bổ sung và

án.
Về thời hạn mở phiên toà xét xử sơ thẩm: Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà.
Về phiên toà sơ thẩm: Thành phần tham gia xét xử đối với thủ tục rút gọn
chỉ cần một thẩm phán mà không cần thành lập hội đồng xét xử. Không nên phải
trải qua tuần tự tất cả các bước như đối với phiên toà thông thường.
Thủ tục rút gọn giải quyết các tranh chấp HĐTD đang còn là vấn đề xa lạ
trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Mặc dù vậy, việc thừc nhận thủ tục rút
25

gọn trong giai đoạn hiện nay là phù hợp với chư trương cải cách tư pháp mà Đảng
và Nhà nước đã đề ra trong Báo cáo chính trị của Đảng: “Đẩy mạnh việc thực hiện
chiến lược cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử
làm trọng tâm”. Đồng thời đáp ứng được yêu cầu giải quyết các tranh chấp HĐTD
đang ngày càng gia tăng, giảm bớt án tồn đọng hàng năm ở các cấp Toà án, bảo vệ
kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
Hai là, ban hành những văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành một số quy
định chưa cụ thể trong BLTTDS. Ví dụ như quy định hướng dẫn thực hiện các quy
định về giao nộp chứng cứ, trách nhiệm trong trường hợp không thực hiện nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ.
Bổ sung Điều 84 BLTTDS, quy định cụ thể về thời hạn đương sự giao nộp
chứng cứ cho Toà án và có văn bản quy định chi tiết về việc xử lý trách nhiệm
trong trường hợp không nộp hoặc nộp không đầy đủ. Vì trong quá trình giải quyết
tranh chấp HĐTD chứng cứ là yếu tố quan trọng. Vì thế, cần quy định cụ thể, rõ
ràng trách nhiệm của đương sự để nâng cao trách nhiệm và giúp giải quyết nhanh
vụ tranh chấp.
Ba là, bổ sung quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và nguồn bổ nhiệm
thẩm phán và bầu hội thẩm nhân dân.
Trong nền kinh tế thị trường, tranh chấp phát sinh từ HĐTD không chỉ giới
hạn ở các chủ thể là tổ chức cá nhân Việt Nam mà còn liên quan tới các chủ thể có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status