Quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 13


TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
QUẢN
TRỊ KINH
DOANH
KHOA
LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
QUẢN
TRỊ RỦI
RO
TRONG
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
VIỆT
NAM
SINH
VIÊN
THỰC
HIỆN
LỚP
GIÁO VIÊN
HƯỚNG
DẪN
ị~77u
•••i-Nị

NÓI
ĐẨU
1
CHƯƠNG
ì:

LUẬN
CHUNG VẾ
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

RỦI
RO
TÍN
DỤNG TRONG
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
3
1.1.
Một số vãn đề về ngân hàng thương mại
3
1.1.1.
Quá trình hình thành và phát
triển
của
ngân hàng thương mại
3
1.1.2.
Chức năng
của
các ngân hàng thương mại
5

Rủi
ro
tín
dụng
12
1.3.1.
Khái
niệm
rủi
ro
tín
dụng
12
1.3.2.
Các nguyên nhân gây
ra
rủi
ro
tín
dụng
ngân hàng
12
1.3.3.
Các
chỉ
tiêu đánh giá về
rủi
ro
tín
dụng

20
1.4.3.
Một số
biện
pháp nhằm phân tán -
giảm
thiểu
rủi
ro
tín
dụng
ngân hàng
22
1.4.4.Duy
trì
quan
hệ khách hàng lâu dài
24
1.4.5.
Thịc
hiện
tốt
các bảo
đảm
tín
dụng
24
1.5.
Kinh
nghiệm quản

hệ
thống
ngần
hàng
29
2.1.2.
Về
vốn
31
2.1.3.
Về
công
nghệ
32
2.1.4.
Về
khả
năng
cạnh
tranh
33
2.1.5.
Về mức
độ
tự
do hóa
trong hoạt
động ngân hàng
34
2.2.

38
2.3.
Đánh giá
rủi
ro
tín dụng

quản
trị
rủi
ro
tín dụng

Việt
Nam 41
2.3.1.
Tỷ
lệ
nợ
xấu,
nợ khó đòi cao
41
2.3.2.
Tinh
hình ban hành các quy
chế
liên
quan
đến
quản

hợp
tác của
khách hàng chưa
cao
55
2.3.7.
Các ngân hàng không có
khả
năng
tự
bù đừp
rủi
ro
57
2.3.8.
Tính đa
dạng
chưa
cao
58
CHƯƠNG
IU:
MỘT số
GIẢI PHÁP
HẠN
CHÊ RỦI
RO TRONG
KINH
DOANH
TÍN

tín dụng

hiệu
quả
61
3.2.2.Đào
tạo

bồi
dưỡng
đội
ngũ cán bộ 64
3.2.3.
Đa
dạng
hóa các hình
thức cấp tín
dụng
68
3.2.4.
Dự phòng
rủi
ro
71
3.2.5.
Linh
hoạt
trong
xử


động
của
cõng
ty
bẬo
hiếm
tiền
gửi
79
3.3.4.
Nhanh chóng phát
triển
thị
trường vốn 80
3.3.5.
Nâng cao
hiệu
quẬ
điều
hành chính sách tín
dụng,
đổi
mới cơ
chế
quẬn

tín
dụng
ngàn hàng
của

chặt
chẽ
đan xen
lẫn
nhau,
mỗi
biến
động
trong
nền
kinh
tế
của một nước không chỉ
có tác động đến nước đó mà gây ọnh
hường
dãy
chuyền
đến
hoạt
động cùa
cọ
khu
vực,
của
tất
cọ các nước trên
thế
giới.
Trong
xu

kinh
tế.
Chính vì
thế

kinh
doanh
ngân hàng
chứa
đựng
rất nhiều
rủi
ro,
đặc
biệt

trong
môi trường
kinh
tế
quốc
tế
cạnh
tranh
khốc
liệt,
các ngân hàng thương mại còn non
trẻ
cùa
Việt

nước.
Đòi
hỏi
hệ
thống
ngân hàng thương mại
Việt
Nam
phọi

nhũng đối
sách phù
hợp.
Do
những
đòi
hỏi
về mặt lý
thuyết
cũng
như
thực
tiễn
nêu trên mà
việc
nghiên cứu đề tài:
"quọn
trị rủi
ro
trong

ro tín
dụng

rủi
ro
lớn
nhất,
phức tạp
nhất,
việc
quọn
lý phòng
ngừa
khó khăn
nhất;
trên
thực tế

Việt
Nam
hiện
nay,
hoạt
động tín
dụng

hoạt
động mang
lại
nguồn thu

quọn
trị
rủi
ro
tín
dụng
trong
các ngân hàng thương mại
Việt
Nam.
Bằng
việc
sử
dụng
nhiều
phương pháp nghiên cứu khác
nhau
như
thống
kê,
phân tích,
tổng
hợp,
hệ
thống
hoa lý
luận luận
văn đã có
thể cung
cấp


cũng
như

mô nhằm
khấc phục
rủi
ro
tín
dụng
trong
hệ
thống
ngân hàng
Việt
Nam.
Các
kết
quả
nghiên cứu được trình bày
theo
bố
cục
như
sau:
Chương
ì:

lun
chung về

tín
dụng
3
CHƯƠNG
ì:

LUẬN
CHUNG VẾ
NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
VÀ RỦI
RO
TÍN
DỤNG TRONG
CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG
MẠI
1.1. Một số vấn đề về ngán hàng thương mại
i.7.7.
Quá
trình
hình thành

phát triển
của ngân hàng thương mại
Lịch
sử hình thành và phát
triển
của ngân hàng gắn
liền

triển
kinh tế.
Nghề ngân hàng
bắt
đầu
với nghiệp
vậ
đổi
tiền
hoặc
đúc
tiền
của các
thợ
vàng.

vậy,
những
ngân hàng
loại
này
còn được
gọi
là ngân hàng
thợ
vàng.
Việc
lưu hành
những
đổng


người
giàu trước
đó có thê đã làm
nghề
cho vay
nặng
lãi.
Họ
thường

két
tốt
để
cất giữ
để đảm
bảo
an
toàn.
Do
yêu
cầu
cất trữ
tiền
cùa các lãnh chúa,
các nhà
buôn
nhiều
người
làm

trung gian
làm
nảy
sinh
thanh
toán không dùng
tiền
mặt,
những
ưu
điểm
của
thanh
toán không dùng
tiền
mặt
đa
thu
hút các thương
gia gửi
tiền
nhiều
hơn.
Đầu
tiên,
những
nhà buôn
tiền
đã
dùng vốn

tiền
một lúc,
đã
tạo
số

thường xuyên
trong
két.
Do
tính
chất

danh
của
tiền,
nhà
buôn
tiền

thể
sử
dậng
tạm
thời
một
phần
tiền
gửi
của khách

chứng
chỉ
tiền
gửi
(lun
thông
thay
vàng
hoặc bạc)
phát hành
chứng
chỉ
khống
đỗ cho
vay.
Thực
trạng
này đã đẩy
nhiều
ngân hàng đến chỗ mất khả năng
thanh
toán và phá
sản.
Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó khăn cho
hoạt
động
thanh
toán,
ảnh
hưởng

ngắn
hạn và
thanh
toán
hộ.
Ngán hàng này
gọi

ngân hàng thương
mại.
Thực
hiện
các
nghiệp
vụ
truyền
thống
của
ngân hàng như
huy
động
tiền
gửi,
thanh
toán,
cất giữ
hộ
và cho
vay.
Sau

năng xây
dựng

quản

chính sách
tiền
tệ quốc
gia,
các ngân hàng còn
lại
dù có một số
nghiệp
vụ
khách
nhau song
đều
chung
đặc
điếm
đó là
trung
gian
tài chính
thực
hiện
kinh
doanh
tiền
tệ.

nhân,
quá
trình tích
tụ

tập
trung
vốn
trong
ngân hàng đã dẫn đến hình thành ngân
hàng cổ
phần.
Quá trình
gia
tăng
vai
trò
quản
lý của nhà nước
đối với hoạt
động
hoạt
động ngân hàng đã
tạo
nên các ngân hàng
thuộc
sở hữu nhà
nước,
các ngân hàng liên
doanh,

tự
có hàng
chục tỷ
đô
la
Mỹ, đổng
thời
cũng
tạo
ra
mối liên hệ
ràng
buộc
ngày càng
chặt
chẽ,
sự phụ
thuộc
lẫn nhau
ngày càng
lớn
giữa
5
chúng. Các
hoạt
động ngàn hàng xuyên
quốc gia
và đa
quốc gia
đã và đang

Chức năng của
các
ngân hàng thương mại
- Ngán hàng

một
trung gian
tài
chính
Đế
hiểu
được
vai
trò đặc
biệt
cùa ngân hàng
trong
nền
kinh tế,
chúng ta
hãy hình
dung
một
thế
giới
giỉn
đơn
trong
đó không
tổn

trong
một
thế
giới
không có
ngân hàng thì
luồng
tiền
chuyển
vào các công
ty

rất
ít
bời
các lý do như:
Chi
phí giám sát
hoạt
động của các công ty
rất
tốn kém; chi phí
chuyển
nhượng
(thanh
khoỉn)
các
chứng
khoán công
ty

lực
tiết
kiệm,
tăng tiêu dùng
hoặc
là tăng
tiết
kiệm

dạng
tiền
mặt.
Tuy nhiên, chúng ta đang
sống
trong
một
thế
giới
mà ở đó hệ
thống
ngân hàng phát
triển
mạnh
mẽ và được
coi
như là bộ xương
sống
của nền
kinh tế.
Ngân hàng là mội

thâm
hụt chi
tiêu cẩn bổ
sung vốn;

(2)
các cá nhân và
tổ chức
thặng

trong
chi
tiêu,
tức

thu nhập
hiện
tại
của họ
lớn
hơn các
khoỉn
chi
tiêu cho hàng hóa,
dịch
vụ
và do vậy họ có
tiền
để
tiết

thu nhập gia
tăng
là động
lực
tạo ra
mối
quan
hệ tài chính
giữa
hai
nhóm. Nếu cỉ
hai
dòng
tiền
di
chuyển
với
điều
kiện
phỉi
quay
lại
với một
lượng
lớn hơn
trong
một
6
khoảng
thời

ro
cho
người
gửi
tiền
- Tạo phương
tiện thanh toán
Trong
điều
kiện
phát
triởn
thanh
toán qua ngân hàng, các khách hàng
nhận
thấy
nếu họ có được số dư
trên
tài khoản
tiền
gùi
thanh
toán,
họ có
thở
chi trả
đở có hàng hóa và
dịch
vụ
theo

dịch
cùa các khách hàng
tại
các
ngân
hàng,
thứ
ba là
tiền
gửi
trên các
tài khoản
tiền
gửi
tiết
kiệm

gửi
có kì
hạn
Khi ngân hàng cho vay các ngàn hàng đã
tạo ra
phương
tiện
thanh
toán
(tham gia
tạo ra Mị).
Toàn bộ hệ
thống

làm tăng số dư
tiền gửi)
của
một khách hàng khác
tại
một ngân hàng
riêng
lẻ
nào có
thở
cho
vay
lớn
hơn dự
trữ

thừa,
toàn bộ hệ
thống
ngân hàng có
thở tạo ra
một
khối
lượng
tiền
gửi
gấp
bội
thông qua
hoạt

giá
trị
hàng hóa và
dịch
vụ.
Đở
việc
thanh
toán
nhanh
chóng,
thuận
tiện

tiết
kiệm chi
phí,
ngân hàng đưa
ra
cho khách hàng
nhiều
hình
thức thanh
toán
như
thanh
toán
bằng séc,
ủy
nhiệm

thanh
toán không
chỉ
giữa
các ngân hàng
trong
một
quốc
gia
mà còn
giữa
các mà còn
giữa
các ngân hàng trên toàn
thế giới
7

thể
nói ngân hàng thương mại
ra
đời,
tổn
tại
và phát
triển
là một
tất
yếu
khách
quan


chất
lượng
trở
thành
những
trung gian
tài
chính
lớn
nhất,
nụm
giữ
phẩn lớn
tài sản của nền
kinh tế,
đồng
thời
ngân
hàng dùng chính tài sản đó cho vay các thành
phần
kinh
tế
làm cho đồng
tiền
sinh
lời.
LU. Các
hoạt
động

Cho vay được
coi

hoạt
động
sinh
lời
cao,
do đó các
ngân hàng đã tìm mọi cách để huy động được
tiền.
Mội
trong
những nguồn
quan
trọng
là các
khoản
tiền
gửi
thanh
toán và
tiết
kiệm
của khách hàng.
Ngân hàng mờ
dịch
vụ
nhận
tiền

khách hàng
về việc
sẩn
sàng
hi sinh
nhu cẩu tiêu dùng trước mụt và cho phép ngân hàng
sử
dụng
tạm
thời
để
kinh
doanh
- Cho
vay
+ Cho vay thương
mại: ngay

thời
kỳ
đầu,
các ngân hàng đã
chiết
khấu
thương
phiếu

thực
tế
là cho vay

+ Cho vay
tiêu
dùng:
Trong
giai
đoạn
đầu hầu
hết
các ngân hàng
không tích cực cho vay
đối
vối
cá nhân và hộ
gia
đình
bởi
vì họ
tin
ràng
khoản
cho
vay
tiêu dùng
rủi
ro
vỡ nợ tương
đối cao.
Sự
gia
tăng

ngắn
hạn,
các ngân hàng ngày càng
trờ
nên năng động
trong việc
tài
trợ trung,
dài
hạn:
tài
trợ
xây
dựng
nhà
máy,
phát
triển
ngành
nghề
công
nghệ
cao.
Một số
ngàn hàng còn cho
vay
để đầu

vào
đất.

chính,
giấy
tờ
cầm
cố,
hoặc những
giấy tờ
quan
trọng
khác cùa khách
với
nguyên
tắc
an
toàn,

mặt,
thuận
tiện.
- Cung cáp các
tài
khoản giao dịch và thực hiện thanh
toán:
Khi
khách hàng
gửi
tiền
vào ngân
hàng,
ngân hàng không

chỉ
cần
viết
giấy chi trả
cho khách,
khách hàng mang
giấy
đến ngân hàng sẽ được
nhận
tiền.
Cùng
với
sự phát
triển
của công
nghệ
thông
tin,
bên
cạnh
các
thể
thức
thanh
toán như
séc,
ủy
nhiệm
chi,
nhờ

quỹ,
trong
đó ngân hàng đổng ý
việc thu

chi
cho một cõng
ty
kinh
doanh

tiến
hành đầu tư
phẩn
thặng

tiền
mặt tạm
thời
vào các
chứng
khoán
sinh
lợi
và tín
dụng ngấn
hạn cho đến
khi
khách hàng cần
tiền

toán cùa ngân hàng cho một khách
hàng
rất
lớn
và do ngân hàng nắm
giữ
tiền
gửi
của
các khách
hàng,
nên ngân
hàng có uy tín
trong
bảo lãnh cho khách hàng.
Trong
những
năm gần đây.
nghiệp
vụ bảo lãnh ngày càng đa
dạng
và phát
triển
mạnh.
Ngân hàng
thường
bảo lãnh cho khách hàng của mình mua
chịu
hàng hóa và
trang

Cuợi
hợp đồng
thuê,
khách hàng có
thể
mua
(vì
vậy còn
gọi

hợp
đổng
thuê
mua).
Rất
nhiều
ngân hàng tích cực cho khách hàng
quyền lựa
chọn
thuê các
thiết
bị,
máy móc cẩn
thiết
thông qua hợp đổng thuê mua,
trong
đó ngân hàng mua
thiết
bị
và cho khách hàng thuê

dài
hạn
- Cung cấp
dịch
vụ ủy
thác
và tư
vân:
Do
hoạt
động
trong
lĩnh
vực tài
chính,
các ngân hàng có
rất nhiều
chuyên
gia
về
quản
lý tài
chính.

vậy,
nhiều
cá nhân và
doanh
nghiệp
đã nhờ ngân hàng

chúc,
quản
lý tài sản cho khách
hàng đã qua
đời bằng
cách công bợ tài
sản,
bảo
quản
các tài sản có giá.
Nhiều
khách hàng còn
coi
ngân hàng như một chuyên
gia
tư vấn tài chính.
Ngân hàng
sẩn
sàng tư
vấn
về đầu
tư,
về
quản

tài
chính,
về thành
lập,
mua

vụ môi
giới
chứng
khoán,
cung
cấp cho khách hàng cơ
hội
mua cổ
phiếu,
trái
phiếu
và các
chứng
khoán khác.
10
- Cưng cáp
các
dịch
vụ bảo
hiêm:
Từ
nhiều
năm
nay,
các
ngân hàng
đã
bán bảo
hiểm
cho khách hàng,

kiệm
gắn
với
bảo
hiếm
như
tiết
kiệm
an
sinh,
tiết
kiệm
hưu
trí
- Cung
cấp
các
dịch
vụ
đại
lí:
Nhiều
ngăn hàng
trong
quá
trình
hoạt
động
không
thể

tiền
gửi,
làm ngàn hàng đâu mối
trong
đổng
tài
trợ
1.2. Rủi ro
trong
hoạt
động
của
ngân hàng thương
mại
1.2.1
.
Khái niệm
rủi
ro
Danh
từ
"rủi
ro"
đã
được
nhiều
nhà
kinh
tế
hửc định

bất
trắc
cụ
thể
liên
quan
đến một
biến
cố
không mong
đợi"
121
.
Irriving
Pefer
lại
cho
rằng:
"
rủi
ro là
tổng
hợp
của những sự ngẫu
nhiên

thể
đo
lường
bàng

xác
định
được"
01
.
Theo
ông:
"kinh
nghiệm
hoạt
động của
một
doanh
nghiệp

thể
cung
cấp
chứng
cứ của
tần
số các
biến
cố
riêng
biệt
(the
írequency
of
particular

- The economic theory of
risk
&
insurance
- Filadelphia - Universỉty of Pesylvania
Press,
USA 1951, trang 61
(3): Marilu
Hun Mĩ Carty - Managerial Economics
vvith
application. 1986. trang 421
li
Như
vậy,
các định
nghĩa tuy

những
mặt khác
nhau
nhưng đều
thống
nhất
một
nội
dung,
coi
rủi
ro
là sự


bất
trắc

thế
không
lệ
thuộc
vào
con
người
có muốn hay không
thì nó vửn cứ
bất thần xuất hiện.
Nhưng
rủi
ro

thể
đo
lường
được,
chính
đây là cánh cửa hè mở cho các nhà
kinh
doanh
đi vào
thế
giới
rủi

quản
lý ngăn
ngừa
được
rủi
ro

chấp nhận
được
rủi
ro

mức độ hợp
lý,
chứ
không
phải run sợ,
né tránh.
1.2.2.
Phán
loại
rủi
ro
Hoạt
động chù
yếu là
huy động
vốn
và cho
vay.

Rủi
ro
trong kinh
doanh
ngân hàng
rất
đa
dạng,

thể hiện
trên
nhiều
mật
nghiệp vụ:
thường có các
rủi
ro
chủ yếu sau:
• Rủi
ro
tín
dụng:(sẽ
được đề
cập
trong
phẩn
1.3)
• Rủi
ro
lãi

quan
chặt
chẽ
với
rủi
ro
tín dụng.
• Rủi
ro hôi
đoát
2)
:
là khả
năng
xảy
ra
những
tổn
thất
mà ngân hàng
phải
chịu
khi tỷ
giá
hối
đoái
thay đổi
vượt
quá
thay đổi

mại,
MXB
Thống
Kê, 2004.
Ir.
120
12
đoái của ngân hàng
tạo ra
thu
nhập
thặng

hoặc
thâm
hụt
tạm
thời.
Tuy
nhiên có
những
thay đổi tỷ
giá ngoài dự
kiến
dẫn đến
tổn
thất
cho ngân hàng
• Rủi
ro

làm cho ngân
hàng mất
khả
năng
thanh
toán
• Rủi ro hoạt
động
0
':
Bao gồm toàn bộ các
rủi
ro có
thể
phát
sinh
từ
cách
thừc
mà một ngàn hàng
điều
hành các
hoạt
động của mình. Các ví dụ
cụ thể
về
rủi
ro
hoạt
động

• Các
rủi
ro
khác:
rủi
ro
khác
là khả
năng
xảy
ra
cướp ngân
hàng,
nhầm
lẫn
trong
thanh
toán,
hòa
hoạn,
1.3.
Rủi ro tín
dụng
1.3.1.
Khái niệm
rủi
ro
tín
dụng'
4


khoản
vay đó sẽ bị
tổn
thất.
Tuy
nhiên,
những khoản
cho vay đó
luôn hàm
chừa
rủi
ro.
Một
số
ý
kiến
cho
rằng
trên
quan
điểm
quản
lý toàn bộ
ngân
hàng,
tỷ
lệ tổn
thất
dự

1.3.2.
Các nguyên nhăn gãy
ra
rủi
ro
tín
dụng ngân hàng
Xét một cách khái
quát,

thể
kể đến
hai
nhóm nguyên nhân chính dẫn đến
rủi
ro
tín dụng
đó

các nguyên nhân khách
quan
và nguyên nhàn chủ
quan.
1.3.2.1.
Các nguyên nhãn khách quan
- Môi trường pháp
lý:
Môi trường pháp lý không
thuận
lợi

hồi
vốn của ngân hàng. Sự lơ là
trong
quản
lý của các cơ
quan
pháp
luật
cũng

thể tạo
ra
những
"kẻ hờ" cho các
doanh
nghiệp thực hiện
các vụ làm ăn
phi
pháp, gây
nguy

rủi
ro cao cho
ngân hàng Đợc
biệt
tính
thiếu
đổng
bộ,
sự

như
chiến
lược dài hạn
-
Biến
động
thị
trường:
Tinh
hình an
ninh
chính
trị

kinh
tế
trong

ngoài nước không ổn
định.
Do tác động cùa
thời
kỳ khùng
hoảng,
suy thoái
của
chu kỳ
kinh
tế,
sự phát

động tín
dụng cũng
khá an toàn còn
trong
thời
kỳ
khủng
hoàng suy thoái sản
xuất
đình
trệ
nên các
khoản
tín
dụng
sẽ
trở
nên khó đòi
trong
khi
tình hình
trở
nên
khó khăn
bởi
giá
trị
tín
dụng
quá

cùa
nhiều
tệ nạn xã
hội
như buôn
lậu,
hàng giả
sẽ
dẫn đến sự phá sản của các
doanh
nghiệp
và hậu quả là ngân hàng sẽ
khó khăn
trong
việc
mở
rộng
tín
dụng,
đánh giá môi trường tín
dụng
và thu
hổi
các
khoản
nợ đã cho vay
- Một số nguyên nhân khác: Là nguyên nhân
bất
khả kháng thường
thuộc

tập
trung
ờ một số
loại
sau:
• Khách hàng gặp khó khăn
trẽn
thị
trường
cung
cấp nguyên
vật
liệu
hoặc
thị
trường tiêu
thụ
sản phẩm nên không
thu
được
lợi
nhuận
dự
kiến
do đó ảnh hướng đến
kết
quả sản
xuất
kinh
doanh,

• Vốn vay sử
dụng
sai
mục
đích:

những
trường hợp
doanh
nghiệp
sử
dụng
vốn vay
vào
những
mục đích khác
với
mục đích
khai
báo
với
ngân
hàng,
khiến
cho ngân hàng không
thể kiểm
soát được
khoản
tín
dụng

doanh
nghiệp
bị
chiếm
dụng
quá
nhiều
do
cạnh
tranh
đế
kinh
doanh,
nên đến hạn
doanh
nghiệp
không có
khả
năng
thanh
toán cho ngán
hàng.
Do tình
trạng
tham
nhũng,
gian lận diễn ra
trong
nội
bộ

gọi từ
phía các ngân hàng
cũng
như các
doanh
nghiệp
làm ăn chân chính
nhưng
cuối
cùng chính
những
doanh
nghiệp
này
lại
chịu
hậu quả của
hiện
tượng này.

Rủi ro
đạo
đức:
Khách hàng cố tình dùng
những
thủ
đoạn để
lừa
đảo,
chiếm

+ Nguyên nhân từ phía Ngăn hàng
Nếu
như hai nguyên nhân đã đề cập ờ trên là
những
nguyên nhân tác
động từ bên ngoài đối với ngân hàng và ngân hàng khó có thế ngán
ngừa,
hạn chế thì nguyên nhân nội tại
trong
các ngân hàng là nguyên nhân đáng
quan
tám
nhất
bời vì đây là
những
nguyên nhãn mà ngân hàng có thê
khắc
phục
được. Các khoản cho vay có vấn đề và thiệt hại cho vay có thể xảy ra
do sơ hở về thù tục
trong
nội bộ ngân hàng. Đây được gịi là các
hoạt
động
cho vay không hoàn hảo và nó xuất hiện do các nguyên nhân sau đây:
Thứ
nhất,
phải nói đến là ngân hàng thiếu thông tin
hoặc
thông tin không

cũng
như tình hình tài chính của hị. Điều đó dẫn tới sự sai lệch
trong
việc đánh
giá hiệu quả cùa các khoản vay, cho vay quá khả năng chi trà của khách
hàng.
Thứ hai, ngân hàng quá chú trịng về lợi tức nên đã lựa chịn đầu tư vào
các dự án có mức
sinh
lời cao nhưng đi kèm với độ rủi ro lớn
thay

những
dự án an toàn cao hơn.
Cũng
có thể ngân hàng
cạnh
tranh
không lành
mạnh
với
các ngân hàng khác để
mong
muốn có tỷ trịng cho vay nhiều hơn.
Cạnh
tranh
không lành
mạnh
ở đây có thể hiểu rằng ngân hàng đã bỏ qua một số
bước

thất
cho ngân hàng cùng
với
năng
lực
nghiệp
vụ
thì
tư cách
của
cán bộ tín
dụng cũng
là một yếu
tố
quan
trọng
tác động không nhỏ
tới
độ an toàn
trong
hoạt
động
tín dụng của
ngân hàng.
Thứ
tư, hoạt
động
kiểm
tra,
kiểm

vấn
đề .
Cuối
cùng là sản phẩm cùa ngân hàng còn đơn
điệu,
ngân hàng chỉ
tập
trung
vào các
hoạt
động cho vay mà không đa
dạng
hóa
hoạt
động của mình
trong
lĩnh
vực
dịch
vụ như
thanh
toán,
kinh
doanh
ngoại
tệ,
thực
hiện
các
nghiệp

rủi
ro
trong
hoạt
động
tín dựng
ngân
hàng,

nhiều
chỉ
tiêu
để
nhận
biết
được mức độ
rủi ro, trong
đó nợ quá hạn là
chỉ
tiêu chính. Nợ
quá hạn cho
ta
thấy

nhất

trực
tiếp
nhất
liên

Từ
việc
xem xét nợ quá hạn và
lấy
nợ quá hạn như

một cái mốc để phân rõ
mức độ
rủi
ro
trong
hoạt
động tín
dụng,
cần
phải
thấy
trong
các
khoản
nợ
quá hạn thì nợ khó đòi và
tổn
thất
tín
dụng
còn
nguy
hiểm


trả
nợ
gốc
hay
lãi.
Loại
rủi
ro
này được
chia
thành
hai
loại:
17
+
Chậm
trả gốc:

rủi
ro
đối với
những
món
vay
khi
đến hạn
phải
thanh
toán



những
khoản
nợ
quá hạn
khó có
khả năng
thu hồi (cả vốn vay

lãi).
Tuy
nhiên,
căn cứ
vào khả năng
thu hồi
thì
nợ khó
đòi không

khả năng
thu
hồi.
-
Tổn
thất
tín
dụng

những
mất

khoản
thu hổi
được
với
khoản
tín
dụng

ngân hàng phát ra
cho
khách
hàng vay
vốn,
bên
cạnh
đó
trong
quá
trình
tiến
hành
thu hổi
khoản
vay
còn
phát
sinh nhiều chi phí:
thời
gian,
nhân viên nhằm

tỷ trọng
như
thế
nào
trong
tổng

nợ
cho vay của
ngân
hàng.
Khi chỉ
tiêu
này
cao,
chứng
tỏ
dư nợ quá
hạn
của ngân hàng
lớn.
Một mặt nó
tiềm
ẩn sự
giảm
sút
thu
nhập
trong
tương

nhập
của ngàn hàng.
Mặt
khác,
hoạt
động tín
dụng
của
ngân hàng không được
hiộu quả, viộc
thẩm
định
kiếm
tra
các
khoản
cho
vay
được
thực hiộn
không
tốt,
gây
ra sự
mất
vốn

từ
đó


thể chia
nợ quá hạn
theo
kỳ
hạn, từ
đó tìm
hiểu
rõ nợ quá
hạn
tập trung
vào
loại
cho vay
nào và tìm
ra
các
biện
pháp
khắc phục.
Nợ
khó
đòi
Tỷ
lệ
nợ khó đòi
trong tứng
dư nợ =
Tứng
dư nợ
Chỉ tiêu này được

hường
xấu
đến
thu nhập
cùa ngân hàng, nên các ngân hàng đều cẩn
phải

biện
pháp để tìm
ra
nguyên nhãn nhằm hạn
chế
các
khoản
nợ không có khả năng
thu hồi
này.
Tuy
nhiên,
ta
cũng
thấy hai
chỉ
tiêu trên đểu
tập trung
phàn ánh khả năng
thu hồi
vốn
cũng
như

tình hình dư nợ được
tăng
lên
Nếu đem so sánh
hoạt
động
của
hai
ngân hàng thương mại
với
số
nợ
quá hạn như
nhau
nhưng nếu ngân hàng nào
nhanh
chóng mở
rộng
dư nợ
tín
dụng,
các
tỷ
lệ
trên sẽ
giảm xuống.
Tuy
nhiên,
rõ ràng lúc này
rủi

dụng,
các ngân hàng còn phân
chia
cụ
thể
nợ quá hạn thành các
mục nhô
theo
thời
gian.
Từ đó
ta
có được
chỉ
tiêu
thứ
ba là
tỷ
lệ rủi
ro
tín
dụng
theo
thời
gian,

dụ
như:
Nợ quá hạn đến 180
ngày,

hạn.
Một
khoản
nợ quá hạn có
thời
gian
càng lâu thì khả nàng
thu
hồi
càng
19
khó. Theo
World
Bank thì
đây
là chỉ
tiêu đo
lường
rủi
ro
tín
dụng
chính xác
nhất,
vì nếu
hai
ngân hàng có cùng một
tỷ lệ
nợ quá hạn như
nhau

pháp nhằm mở
rộng
hay
thu
hểp
hoạt
động cho
vay
của một ngân hàng
thương
mại,
nhằm ba mục tiêu chủ yếu là
lợi
nhuận cao,
sự an toàn và sự
lành
mạnh.
Đây là cơ sở để quàn lý cho
vay,
đảm bảo
hiệu
quà của vốn tín
dụng,
chính sách cho
vay;
cần quy định cụ
thể
trong
việc
xem xét các

của ngân hàng
đó".
Để có
hiệu quả,
chính sách tín
dụng
phải
được
soạn
thảo
bằng
văn
bản,
phải
rõ ràng nhằm vào các mục tiêu nào và sách
lược
để
đạt
được mục tiêu đó.
Thực
tế
cho
thấy
chính sách tín
dụng
phải
được
thay đổi theo từng
thời
kỳ nhằm

hạn
kỳ hạn
nợ,
thời
hạn cho
vay
• Tiêu
chuẩn
khách hàng và
tài
khoản
đảm bảo
• Tiêu
chuẩn tài
chính
tối
thiểu
khách hàng
cẩn
phải

• Mức cho
vay
một khách
hàng,
một nhóm khách hàng

Thẩm
quyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status