FDI VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2009 - Pdf 13

Thực hiện bởi lớp K8T – ĐH Kinh
Tế

Lu
ĐHQG TP.HCM
ật
FDI VAO VIET NAM GIAI ĐOAN
2000 - 2009
GVHD: TS. Hoàng Vĩnh Long
Danh sách nhóm thực hiện
Nhóm 06 – Lớp K08401T + K08404T
1. Tô Lý Diễm Trúc K084010088
2. Nguyễn Hữu Trường K084040091
3. Lê Ngọc Hạnh K084040500
4. Trần Thị Kim Hiệp K084040506
5. Phan Thị Bảo Linh K084040525
6. Hoàng Thị Mai Ly K084040530
7. Phan Nữ Quỳnh Mơ K084040533
8. Nguyễn Lê Phan K084040552
9. Lã Văn Thọ K084040573
Thực hiện bởi lớp K8T – ĐH Kinh Tế Luật ĐHQG TP.HCM
MỤC LỤC
Chương 1. Tổng quan về FDI
1.1. Khái niệm và đặc
điểm 2
1.1.1. Khái niệm về
FDI
2

9
1.2.8. Hình thức công ty hợp danh

10
1.2.9. Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập
(M&A) 11
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới thu hút vốn FDI

12
1.3.1. Các chính sách kinh tế vĩ mô.

12
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng
khác. 13
1.4. Tác động của FDI đối với nước nhận đầu
tư. 15
1.4.1. Các tác động tích cực của
FDI.
15
1.4.2. Các tác động tiêu cực của
FDI

Nam. 42
2.2.3. Tác động của FDI vào xuất nhập khẩu của nền kinh tế Việt
Nam
47
Chương 3. Một số giải pháp đề xuất đối với nguồn vốn FDI vào
Việt Nam trong thời gian tới
3.1.Các giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

55
3.1.1. Nhóm giải pháp thứ
nhất
55
3.1.2. Nhóm giải pháp thứ hai.

55
3.1.2. Nhóm giải pháp thứ
ba
55
3.2.Các giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt
Nam
58
1
FDI vao Viet Nam giai đoan 2000 đen 2009. Nhom 06 – Lơp K08401T+K08404T.
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta biết đến kinh tế học là một môn nghiên cứu những lựa chọn của cá nhân
và xã hội về cách thức sử dụng các nguồn tài nguyên có giới hạn. Trong đó, kinh tế

Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nươc
khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để có được quyền sở
hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục
tiêu tối đa hoá lợi ích của mình.
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy
móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bát động sản, các loại hợp đòng và giáy phép có
giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý…)
hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…). Như vậy FDI
bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài.
1.1.2.
Các đặc điểm của FDI.
Tỷ lệ vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định cuả dự án đạt mức tối
thiểu tùy theo luật đầu tư của từng nước quy định.
Các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý dự án mà họ bỏ vốn đầu tư. Quyền
quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỉ lệ góp vốn của chủ đầu tư trong vốn pháp
định của dự án.
Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được phân chia cho các bên
theo tỉ lệ góp vốn và vồn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức
cổ phần nếu có.
FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại
toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn
tính hoặc sát nhập các doanh nghiếp với nhau.
FDI vao Viet Nam giai đoan 2000 đen 2009. Nhom 06 – Lơp K08401T+K08404T.
3
1.2. Các hình thức FDI phổ biến và đặc trưng cơ bản của chúng
1.2.1.
Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh với nươc ngoài gọi tắt là liên doanh là hình thức được sử
dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới từ trước đến nay. Nó
là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và có hiệu

1.2.2.
Doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài nhưng ít phổ biến hơn hình thức liên doanh trong hoạt động đầu
tư quốc tế.
Khái niệm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh có tư
cách pháp nhân, được thành lập dựa trên các mục đích của chủ đầu tư và nước sở
tại.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành quản lý của chủ
đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều kiện về môi trường kinh
doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về chính trị, kinh tế, luạt pháp, văn hoá,
mức độ cạnh tranh…
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân là 1 thực thể pháp lý độc
lập hoạt động theo luật pháp nước sở tại, thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm
hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Đối với nước tiếp nhận:
-Ưu điểm: nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mặc dù DN bị lỗ; giải
quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư; tập trung thu hút vốn và
công nghệ của nước ngoài vào những linh vực khuyến khích xuất khẩu; tiếp cận
được thị trường nước ngoài.
-Nhược điểm: khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài để nâng
cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kĩ thuật ở các doanh nghiệp trong nước.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài:
FDI vao Viet Nam giai đoan 2000 đen 2009. Nhom 06 – Lơp K08401T+K08404T.
5
-Ưu điểm: chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp thực hiện được chiến
lược toàn cầu của tập đoàn; triển khai nhanh dự án đầu tư; được quyền chủ động
tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển chung của tập
đoàn.

Đối với nước đầu tư:
-Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở tại vào
được những lĩnh vực hạn chế đầu tư thâm nhập như thị trường truyền thống của
nước chủ nhà; không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và
xây dựng các mối quan hệ; không bị tác động lớn do khác biệt về văn hoá; chia sẻ
được chi phí và rủi ro đầu tư.
-Nhược điểm: không được trực tiếp quản lý điều hành dự án, quan hệ hợp tác với
đối tác nước sở tại thiếu tính chắc chắn làm các nhà đầu tư e ngại.
1.2.4.
Đầu tư theo hợp đồng BOT
BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) là một thuật ngữ để chỉ một số mô hình
hay một cấu trúc sử dụng đầu tư tư nhân để thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn
được dành riêng cho khu vực nhà nước. Trong một dự án xây dựng BOT, một
doanh nhân tư nhân được đặc quyền xây dựng và vận hành một công trình mà
thường do chính phủ thực hiện. Công trình này có thể là nhà máy điện, sân bay, cầu,
cầu đường… Vào cuối giai đoạn vận hành doanh nghiệp tư nhân sẽ chuyển quyền
sở hữu dự án về cho chính phủ. Ngoài hợp đồng BOT còn có BTO, BT.
Hợp đồng BOT là văn bản kí kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan có
thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng (kể cả
mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá công trình) và kinh doanh trong một thời gian nhất
định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đó chuyển giao không bồi hoàn toàn
bộ công trình cho nước chủ nhà.
Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh BTO và hợp đồng xây dựng chuyển
giao BT, được hình thành tương tự như hợp đồng BOT nhưng có điểm khác là: đối
với hợp đồng BTO sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tư nước ngoài chuyển
giao lại cho nước chủ nhà và được chính phủ nước chủ nhà dành cho quyền kinh
FDI vao Viet Nam giai đoan 2000 đen 2009. Nhom 06 – Lơp K08401T+K08404T.
7
doanh công trình đó hoặc công trình khác trong một thời gian đủ để hoàn lại toàn bộ
vốn đầu tư và có lợi nhuận thoả đáng về công trình đã xây dựng và chuyển giao.

rộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.
Holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở mức đủ để
kiểm soát hoạt động quản lí và điều hành công ty đó thông qua việc gây ảnh hưởng
hoặc lựa chọn thành viên hội đồng quản trị.
Holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giới hạn hoạt
động của mình trong việc sở hữu vốn, quyết định chiến lược và giám sát hoạt động
quản lí của các công ty con, các công ty con vẫn duy trì quyền kiểm soát hoạt động
kinh doanh của mình một cách độc lập, tạo rất nhiều thuận lợi:
-Cho phép các nhà đầu tư huy động vốn để triển khai nhiều dự án đầu tư khác nhau
mà còn tạo điểu kiện thuận lợi cho họ điều phối hoạt động và hỗ trợ các công ty trực
thuộc trong việc tiếp thị, tiệu thụ hàng hoá, điều tiết chi phí thu nhập và các nghiệp
vụ tài chính.
-Quản lí các khoản vốn góp của mình trong công ty khác như một thể thống nhất và
chịu trách nhiệm về vịệc ra quyết định và lập kế hoạch chiến lược điều phối các
hoạt động và tài chính của cả nhóm công ty.
-Lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát các luồng lưu chuyển vốn trong danh mục đầu tư.
Holding company có thể thực hiện cả hoạt động tài trợ đầu tư cho các công ty con
và cung cấp dịch vụ tài chính nội bộ cho các công ty này.
-Cung cấp cho các công ty con các dịch vụ như kiểm toán nội bộ, quan hệ đối
ngoại, phát triển thị trường, lập kế hoạch, nghiên cứu và phát triển (R&D)…
1.2.6.
Hình thức công ty cổ phần
Công ty cổ phần (công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn) là doanh nghiệp trong đó
vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, các cổ đông chỉ
chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm
vi vốn đã góp vào doanh nghiệp. Cổ đông có thể là tổ chức cá nhân với số lượng tối
đa không hạn chế, nhưng phải đáp ứng yêu cầu về số cổ đông tối thiểu. Đặc trưng
FDI vao Viet Nam giai đoan 2000 đen 2009. Nhom 06 – Lơp K08401T+K08404T.
9
của công ty cổ phần là nó có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng và các cổ

Hình thức công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài
các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là
cá nhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu
trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Công ty hợp danh không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào. Các thành
viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty, còn
thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ quy định tại điều lệ
công ty nhưng không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân
danh công ty.
Khác với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hình
thức đầu tư này mang đặc trưng của công ty đối nhân tiền về thân nhân trách nhiệm
vô hạn, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ. Hình thức đầu tư này trước hết rất phù hợp với các
doanh nghiệp nhỏ, nhưng vì có những ưu điểm rõ rệt nên cũng được các doanh
nghiệp lớn quan tâm. Việc cho ra đời hình thức công ty hợp danh ỏ các nước nhằm
tạo thêm cơ hội cho nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư cho phù hợp với yều cầu,
lợi ích của họ. Thực tế cho thấy một số loại hình dịch vụ như tư vấn pháp luật,
khám chữa bệnh, thiết kế kiến trúc đã và đang phát triển nhanh chóng. Đó là
những dịch vụ mà người tiêu dùng không thể kiểm tra được chất lượng cung ứng
trước khi sử dụng, nhưng lại có ảnh hưởng đến sức khởe tính mạng và tài sản của
người tiêu dùng khi sử dụng. Việc thành lập công ty hợp danh là hình thức thức đầu
tư phù hợp trong việc phát triển và cung cấp các dịch vụ nêu trên. Trong đó những
người có vốn đóng vai trò là thành viên góp vốn và chịu trách nhiệm hữu hạn còn
các nhà chuyên môn là thàn viên hợp danh tổ chức điều hành, cung ứng dịch vụ và
chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của họ.
FDI vao Viet Nam giai đoan 2000 đen 2009. Nhom 06 – Lơp K08401T+K08404T.
11
1.2.9.
Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A)

công ty tự thâm nhập thị trường.
So với đầu tư truyền thống, từ quan điểm của nước tiếp nhận đầu
tư:
-Về bổ sung vốn đầu tư, trong khi hình thức đầu tư truyền thống bổ sung ngay một
lượng vốn FDI nhất định cho đầu tư phát triển thì hình thức MA chủ yếu chuyển sở
hữu từ các doanh nghiệp đang tồn tại ở nước chủ nhà cho các công ty nước ngoài.
Tuy nhiên, về dài hạn, hình thức này cũng thu hút mạnh được nguồn vốn từ bên
ngoài cho nước chủ nhà nhờ mở rộng quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
-Về tạo việc làm, hình thức đầu tư truyền thống tạo ngay được việc làm cho nước
chủ nhà, trong khi hình thức M&A không những không tạo được việc làm ngay mà
còn có thể làm tăng thêm tình trạng căng thẳng về việc làm (tăng thất nghiệp) cho
nước chủ nhà. Tuy nhiên về lâu dài, tình trạng này có thể được cải thiện khi các
doanh nghiệp mở rông quy mô sản xuất.
-Về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đầu tư truyền thống tác động trực tiếp dến
thay dổi cơ cấu kinh tế thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới trong khi đó
M&A không có tác động trong giai đoạn ngắn hạn.
-Về cạnh tranh và an ninh quốc gia, trong khi đầu tư truyền thống thúc đẩy cạnh
tranh thì M&A không tác động đáng kể đến tình trạng cạnh tranh về mặt ngắn hạn
nhưng về dài hạn có thể làm tăng canh tranh độc quyền. Mặt khác, M&A có thể ảnh
hưởng đến an ninh của nước chủ nhà nhiều hơn hình thức đư truyền thống vởi vì tài
sản của nước chủ nhà được chuyển cho người nước ngoài.
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới thu hút vốn FDI
1.3.1. Các chính sách kinh tế vĩ mô.
- Chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước tiếp nhận đầu tư:
Yếu tố đầu tiên ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu tư.
Tỷ giá đồng bản bị nâng cao hay bị hạ thấp đều bị ảnh hưởng xấu tới hoạt động xuất
nhập khẩu.
FDI vao Viet Nam giai đoan 2000 đen 2009. Nhom 06 – Lơp K08401T+K08404T.
13
- Chính sách thương nghiệp:

năng và triển vọng) có ý nghĩa nhất định.
- Khả năng hồi hương vốn đầu tư.
Vốn và lợi nhuận được tự do qua biên giới (hồi hương) là tiền đề quan trọng để thu
hút vốn đầu tư nước ngoài.ở một số nước mang ngoại tệ nước ngoài phải xin giấy
phép của ngân hàng trung ương khá rườm rà.
- Bảo vệ quyền sở hữu.
Quyền này gồm cả quyền của người phát minh sang chế, quyền tác gỉa, kể cả nhãn
hiệu hàng hóa và bí mật thương nghiệp vv Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa lớn
đối với những người muốn đầu tư vào các ngành hàm lượng khoa học cao và phát
triển năng động (như sản xuất máy tính, phương tiện liên lạcvv ) ở một số nước,
lĩnh vực này được kiểm tra, giám sát khá lỏng lẻo, phổ biến là sử dụng không hợp
pháp các công nghệ ấy của nước ngoài. Chính vì lý do này mà một số nước bị các
nhà đầu tư loại khỏi danh sách các nước có khả năng nhận vốn đầu tư.
- Điều chỉnh hoạt động đầu tư của các công ty đầu tư nước ngoài.
Luật lệ cứng nhắc cũng tăng chi phí của các công ty đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu
tư rất thích có sự tự do trong môi trường hoạt động và do vậy họ rất quan tâm đến
một đạo luật mềm dẻo giúp cho họ ứng phó linh hoạt, có hiệu quả với những diễn
biến của thị trường. Ví dụ có những nước cấm sa thải công nhân là không phù hợp
với lợi ích của công ty nước ngoài. Chính sách lãi suất ngân hàng và chính sách biệt
đãi đối với một số khu vực cũng có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư ở một số nước.
- Ổn định chính trị ở nước muốn nhận đầu tư và trong khu vực này.
Đây là yếu không thể xem thường mỗi khi bỏ vốn đầu tư vì rủi ro chính trị có thể
gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài.
- Cơ sở hạ tầng phát triển.
Nếu các yếu tố nói trên đều thuận lợi nhưng chỉ một khâu nào đó trong kết cấu hạ
tầng (giao thông liên lạc, điện nước) bị thiếu hay bị yếu kém thì cũng ảnh hưởng và
làm giảm sự hấp hẫn của các nhà đầu tư.
FDI vao Viet Nam giai đoan 2000 đen 2009. Nhom 06 – Lơp K08401T+K08404T.
15
1.4. Tác động của FDI đối với nước nhận đầu tư.

Hầu hết các nước kém phát triển, hai lỗ hổng trên rất lớn. Vì vậy FDI góp phần làm
tăng khả năng cạnh tranhvà mở rộng khả năng xuất khẩu của nước nhận đầu tư, thu
một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu ngoại tệ từ các hoạt động dịch vụ
cho FDI.
b) Chuyển giao công nghệ.
Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, kỹ
sảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến. Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ
đầu tư không chỉ vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như
máy móc thiết bị, nhuyên vật liệu (hay còn gọi là cộng cứng) trí thức khoa hoạch
bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị thường (hay còn gọi là phần mềm.) Do vậy
đứng về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư. FDI có
thể thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng
công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, dịch
chuyển cơ cấu kinh tế, ta nhanh của các nước nhận đầu tư. FDI đem lại kinh nghiệm
quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong nước nhận
đầu tư, thông qua những chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa làm. FDI
còn mang lại cho họ những kiến thức sản xuất phức tạp trong khi tiếp nhận công
nghệ của các nước nhận đầu tư. FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố
gắng đào tạo những kỹ sư, những nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia
vào các công ty liên doanh với nước ngoài.
Thực tiễn cho thấy, hầu hết các nước thu hút FDI đã cải thiện đáng kể trình
độ kỹ thuật công nghệ của mình. Chẳng hạn như đầu những năm 60 Hàn Quốc còn
kém về lắp ráp xe hơi, nhưng nhờ chuyển nhận công nghệ Mỹ, Nhật, và các nước
khác mà năm 1993 họ đã trở thành những nước sản xuất ô tô lớn thứ 7 thế
g
i
ới.
Trong
điều kiện hiện nay, trên thế giới có nhiều công ty của nhiều quốc gia khác
nhau có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài và thực hiện chuyển giao công ghệ cho nước

hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân
công lao dộng quốc tế. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của nước phù hợp với trình độ
chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài.
Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình dịch
FDI vao Viet Nam giai đoan 2000 đen 2009. Nhom 06 – Lơp K08401T+K08404T.
18
chuyển cơ cấu kinh tế. Bởi vì: Một là, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới ở các nước nhận đầu tư.
Hai là, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp vào sự phát triển nhanh chóng trình độ kỹ
thuật công nghệ ở nhiều nghành kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động
ở một số ngành này và tăng tỷ phần của nó trong nền kinh tế. Ba là, một số ngành
được kích thích phát triển bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng cũng có nhiều
ngành bị mai một đi, rồi đi đến chỗ bị xóa bỏ.
e) Một số tác động khác.
Ngoài những tác động trên đây, đầư tư trực tiếp nước ngoài còn có một số
tác động sau:
Đóng góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước thông qua việc nộp thuế
của các đơn vị đầu tư và tiền thu tư việc cho thuê đất
Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đóng góp cải thiện cán cân quốc tế cho nước tiếp
nhận đầu tư. Bởi vì hầu hết các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là sản xuất ra các
sản phẩm hướng vào xuất khẩu phần đóng góp của tư bản nước ngoài và việc phá
triển xuất khẩu là khá lớn trong nhiều nước đang phát triển.Ví dụ như Singapore
lên72,1%, Brazin là 37,2%, Mehico là 32,1%, Đài loan là 22,7%, Nam Hàn 24,7%,
Agentina 24,9%. Cùng với việc tăng khả năng xuất khẩu hàng hóa, đầu tư trực tiếp
nước ngoài còn mở rộng thị trường cả trong nước và ngoài nước. Đa số các dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài đều có phương án bao tiêu sản phẩm. Đây gọi là hiên
tượng “hai chiều” đang trở nên khá phổ biến ở nhiều nước đang phát triển hiện nay.
Về mặt xã hội, đầu tư trục tiếp nước ngoài đã tạo ra nhiều chỗ làm việc mới,
thu hút một khối lượng đáng kể người lao độngở nước nhận đầu tư vào làm việc tại
các đơn vị của đầu tư nước ngoài. Điều đó góp phần đáng kể vào việc làm giảm bớt

- Rất khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao đó. Do đó nước
đầu tư thường bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp trong các doanh 6nghiệp liên
doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận.
- Gây tổn hại môi trường sinh thái. Do các công ty nước ngoài bị cưỡng chế phải
bảo vệ môi trường theo các quy định rất chặt chẽ ở các nước công nghiệp phát triển,
FDI vao Viet Nam giai đoan 2000 đen 2009. Nhom 06 – Lơp K08401T+K08404T.
20
thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài họ muốn xuất khẩu môi trường sang các nước
mà biện pháp cưỡng chế, luật bảo vệ môi trường không hữu hiệu.
- Chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất caovà do đó sản phẩm của các nước nhận
đầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Thực tiễn cho thấy, tình hình chuyển giao công nghệ của các nước công nghiệp
sang các nước đang phát triển đang còn là vấn đề gay cấn.Ví dụ theo báo cáo của
ngân hàng phát triển Mỹ thì 70% thiệt bị của các nước Mỹ La Tinh nhập khẩu từ
các nước tư bản phát triển là công nghệ lạc hậu.Cũng tương tự, các trường hợp
chuyển giao công nghệ ASEAN lúc đầu chưa có kinh nghiệm kiểm tra nên đã bị
nhiều thiệt thòi.
Tuy nhiên, mặt trái này cũng một phần phụ thuộc vào chính sách công nghệ của các
nước nhận đầu tư. Chẳng hạn như Mehico có 1800 nhà máy lắp ráp sản xuất của các
công ty xuyên quốc gia của Mỹ. Một số nhà máy này được chuyển sang Mehico để
tránh những quy định chặt chẽ về môi thường ở Mỹ và lợi dụng những khe hở của
luật môi trường ở Mehico.
b) Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường đước chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia, đã
làm nảy sinh nỗi lo rằng các công ty này sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế của
nước nhận đầu tư vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của các công ty
xuyên quóc gia. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp phần vốn bổ sung quan
trọng cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện chuyển giao công nghệ cho các
nước nhận đầu tư. Đồng thời cũng thông qua các công ty xuyên quốc gia là những
bên đối tác nươc ngoài để chúng ta có thể tiêu thụ hàng hóa vì các công ty này nắm

đó còn nhiều khe hở khiến cho các nhà đầu tư có thể lợi dụng được.
- Sản xuất hàng hóa không thích hợp:
Các nhà đầu tư còn bị lên án là sản xuất và bán hàng hóa không thích hợp cho các
nước kém phát triển, thậm chí đôi khi còn lại là những hàng hóa có hại cho khỏe
con người và gây ô nhiễm môi trường. Ví dụ như khuyến khích dùng thuốc lá, thuốc
trừ sâu, nước ngọt có ga thay thế nước hoa quả tươi, chất tẩy thay thế xà phòng vv
FDI vao Viet Nam giai đoan 2000 đen 2009. Nhom 06 – Lơp K08401T+K08404T.
22
CHƯƠNG 2. FDI VÀO VIỆT NAM
GI
A
I
ĐOẠN 2000 ĐẾN
2009.
2.1. Thực trạng nguồn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2000 đến 2009.
Trong đời sống và quan hệ quốc tế hiện đại, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng
vai trò hết sức quan trọng, không chỉ là dấu hiệu phê chuẩn hội nhập thị trường toàn
cầu về chính sách và triển vọng phát triển kinh tế của một nước mà còn là một động
lực phát triển quan hệ quốc tế ở nhiều lĩnh vực khác nhau như chính trị, ngoại
giao… thông qua đó bảo đảm lợi ích đan xen, cơ chế an ninh đa phương mà các
nước đang hướng tới.
Tầm quan trọng của FDI không chỉ ở chỗ thu hút được nhiều nguồn vốn mà còn là
kết hợp một cách hết sức hiệu quả giữa vốn, các mối quan hệ có liên quan như an
ninh quốc gia nhằm đảm bảo cho môi trường đầu tư lành mạnh, ổn định, tạo ra
nguồn nhân lực có khả năng tiếp thu quản lý tri thức và công nghệ hiện đại. Đây
thật sự là một đòn bẩy sắc bén cho phát triển kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế gắn liền với bảo đảm an ninh quốc gia trong quá trình hội nhập khu vực và
toàn cầu.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp ngày càng tích cực vào tăng trưởng kinh tế
của Việt Nam nhiều như thế, tuy nhiên, giá trị đầu tư thực tế và giá trị giải ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status