ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
ĐỀ TÀI MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ
NGHIÊN CỨU VỀ FDI VÀO VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2000-2010
Giảng viên hướng dẫn:
Tiến sĩ Hoàng Vĩnh Long
Nhóm thực hiện:
Nhóm 5 - K08402A
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2010
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
MSSV Họ và tên Nhiệm vụ
1 K084020119 Hồ Thị Trà Dung Chương 1: Cơ sở lý luận
2 K084020171 Lê Thị Quỳnh Như Chương 1: Cơ sở lý luận
3 K084020191 Nguyễn Thị Phương Thu
2.1 Sơ lược về thực trạng và
tác động của FDI tại Việt Nam
vào giai đoạn 1990 – trước
năm 2000
4 K084020168 Nguyễn Thùy Yến Nhi
2.2 Thực trạng và tác động của
FDI tại Việt Nam giai đoạn
2000 – hết năm 2001
5 K084020147 Ngô Nguyễn Phương Lan
2.3 Thực trạng và tác động của
FDI tại Việt Nam giai đoạn
2002 – 2003
6 K084020225 Trần Thị Yến
2.4 Thực trạng và tác động của
FDI tại Việt Nam giai đoạn
2.1 Sơ lược về thực trạng và tác động của FDI tại Việt Nam vào giai đoạn
1990 – trước năm 2000…………………………………….……………………12
2.1.1 Thực trạng …………………………………….…………………………..…12
2.1.2 Tác động…………………………………….…………………………….….17
2.2 Thực trạng và tác động của FDI tại Việt Nam giai đoạn 2000–hết năm
2001…………………………………….………………………................……….20
2.2.1 Thực trạng…………………………………….……………...………………20
2.2.2 Tác động…………………………………….………………….……………22
2.3 Thực trạng và tác động của FDI vào Việt Nam giai đoạn 2002-2003
2.3.1 Thực trạng…………………………………….……………………...………23
2.3.2 Tác động …………………………………….……………………….....……27
2.4 Thực trạng và tác động của FDI vào Việt Nam giai đoạn 2004 – 2006
2
2.4.1 Thực trạng…………………………………….………………...……………32
2.4.2 Tác động…………………………………….……………….....……………33
2.5 Thực trạng và tác động của FDI vào Việt Nam giai đoạn 2006 - 2007
2.5.1 Thực trạng…………………………………….………………………...……37
2.5.2 Tác động …………………………………….………………………….……39
2.6 Thực trạng và tác động của FDI tại Việt Nam vào giai đoạn 2008 –
hiện nay…………………………………….……………………………………..39
2.6.1 Thực trạng và tác động của FDI tại Việt Nam vào năm 2008……….………39
2.6.2 Thực trạng và tác động của FDI tại Việt Nam vào năm 2009………….……47
2.6.3 Thực trạng và tác động của FDI tại Việt Nam vào năm 2010………….……54
CHƯƠNG 3: HIỆU QUẢ VÀ NHỮNG MẶT TRÁI ĐANG TỒN TẠI……....59
3.1 Hiệu quả kinh tế…………………………………….………………………59
3.1.1 Mặt tích cực…………………………………….……………………………59
3.1.2 Mặt tiêu cực…………………………………….……………………………61
3.2 Mặt trái tồn tại…………………………………….…………………..….…63
3.3 Biện pháp khắc phục…………………………………….…………………67
TỔNG KẾT…………………………………….…………………………………70
các quyết định quản lý của công ty.
Vốn tái đầu tư
Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh
doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.
Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ
Giữa các chi nhánh, công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể
cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.
1.3.3. Phân theo động cơ của nhà đầu tư
Vốn tìm kiếm tài nguyên
Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi
dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng
giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này
còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận
(như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng nhằm khai thác các tài sản trí tuệ
của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các
nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.
Vốn tìm kiếm hiệu quả
Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước
tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như
điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất
kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v...
Vốn tìm kiếm thị trường
Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị
đối thủ cạnh tranh dành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận
dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu
2
vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường
khu vực và toàn cầu.
1.3.4. Phân theo hình thức tồn tại
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
nhân mới của nước nhận đầu tư.
Hoạt động dưới sự chi phối của Luật pháp nước nhận đầu tư.
Ngoài ra còn có các hình thức khác như đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát
triển kinh tế, thực hiện những hợp đồng xây dựng – vận hành – chuyển giao
(BOT). Những dự án BOT thường được Chính Phủ các nước đang phát triển tạo
mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế.
1.4 Ưu điểm và nhược điểm của FDI
1.4.1 Ưu điểm
1.4.1.1 Đối với nước nhận đầu tư
Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý
Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu
công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy
và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn.
Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn
đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước
có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công
lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia
mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.
Nguồn thu ngân sách lớn
Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế
do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách
quan trọng.
4
Ví dụ: Ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50
phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006.
Phát triển thị trường lao động
Giải quyết việc làm cho người lao động
• Thông qua hoạt động đầu tư các doanh nghiệp FDI góp phần giải quyết
việc làm cho người lao động. Các doanh nghiệp FDI trực tiếp tạo việc
và trình độ nghiệp vụ của người lao động tương đối cao so với mặt
bằng chung.
• Những yêu cầu trên đòi hỏi phải không ngừng
phát triển bản thân cả về thể lực và trí lực. Bên cạnh đó, để người lao
động đáp ứng được các yêu cầu của công việc các doanh nghiệp FDI
thường tiến hành tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ khá chặt
chẽ, nhất là các ngành nghề đòi hỏi chất lượng lao động cao. Do đó,
FDI vừa gián tiếp khuyến khích người lao động tăng đầu tư cho phát
triển nguồn nhân lực vừa trực tiếp đầu tư cho phát triển nguồn nhân
lực.
• Thêm vào đó, do chi phí thuê lao động nước ngoài
cao hơn lao động địa phương, các doanh nghiệp trong khu vực FDI
phải tuyển dụng lao động địa phương. Để người lao động có thể sử
dụng máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại các doanh nghiệp FDI
phải có kế hoạch đào tạo. Thế nên, trong chiến lược phát triển của các
tập đoàn lớn hay các công ty đa quốc gia luôn có kế hoạch đào tạo lao
động địa phương nhằm từng bước thay thế lao động người nước ngoài.
Phát triển thị trường lao động
• Bên cạnh những tác động tích cực trong việc giải quyết việc làm cho
người lao động cũng như sự phát triển nguồn nhân lực, thông qua các
hoạt động của mình, đầu tư FDI còn góp phần thúc đẩy sự phát triển
của thị trường lao động.
6
• Cùng với sự gia tăng về chất lượng và trình độ của lao động, người lao
động có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn nơi làm việc. Bên cạnh
đó, lao động có trình độ cao có khuynh hướng tìm việc thông qua các
kênh lao động chính thức cao hơn lao động trình độ thấp. Đây là tiền
đề quan trọng cho sự phát triển của các dịch vụ tư vấn – giới thiệu việc
làm và thị trường lao động.
• Bên cạnh đó, khi nhận thức của người lao động được nâng lên, họ sẽ
đồng trong việc điều hành quản lý nguồn vốn.
Chủ đầu tư nước ngoài đưa cơ sở sản xuất gần vùng nguyên, nhiên liệu,
lao động, thị trường tiêu thụ và có được những lợi thế về giá cả yếu tố sản
xuất nên giảm được chi phí sản xuất, lợi nhuận thu được cao hơn so với
vốn đầu tư trong nước.
Tránh được hàng rào mậu dịch của quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Tận dụng chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư nước ngoài của quốc gia
tiếp nhận đầu tư, điều này dẫn đến hiệu quả vốn đầu tư cao.
1.4.2 Nhược điểm
1.4.2.1 Đối với nước đi đầu tư
Rủi ro đầu tư cao nếu môi trường kinh tế, chính trị của nước tiếp nhận đầu
tư không ổn định.
1.4.2.2 Đối với nước nhận đầu tư
Vì mục đích của nhà đầu tư là hiệu suất của vốn cao và thời gian thu hồi
vốn nhanh nên chủ đầu tư chỉ tập trung vào các ngành và vùng có điều
kiện thuận lợi nhất phục vụ cho mục đích đó. Điều này dẫn đến hậu quả là
cơ cấu ngành và vũng của nước nhận đầu tư phát triển không đồng đều,
mất cân đối. Ví dụ: tại nước ta, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
thường đầu tư vào các lĩnh vực có lợi nhuận cao như công nghiệp (công
nghiệp khai thác tài nguyên, khoáng sản, công nghiệp chế biến), dịch vụ tại
Hà Nội, TP.HCM, Đồng Nai…
Nguồn tài nguyên bị khai thác quá mức, ảnh hưởng đến môi trường.
8
Nếu nước tiếp nhận đầu tư không kiểm tra, giám sát chặt chẽ thì sẽ dễ
dàng rơi vào trường hợp tiếp nhận những máy móc, thiết bị, công nghệ lạc
hậu, năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp mà giá thành lại cao.
1.5 Những nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước: Helpman và
Sibert, Richard S. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên
của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên
thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song
phương. Đối phó, Nhật Bản tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường
đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất
khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các
nước thứ ba, từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu.
Khai thác chuyên gia và công nghệ: Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ
nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí
còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để
khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ. Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã
mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các
công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào
Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự.
Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có
đầu tư vào Mỹ. Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo
mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc
tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ
sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp
nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electroincs, việc National
Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua
lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy.
Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên. Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều
công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên
10
phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật
Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này. FDI của Trung Quốc hiện nay
cũng có mục đích tương tự.
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tại Việt Nam, luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam được ban hành tháng 12/1987 đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cơ bản cho
các hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp tại Việt Nam.
Số dự án
Vốn đăng ký (triệu USD) Tổng số
vốn thực
Tổng số
Trong đó: Vốn pháp định
Tổng số
Chia ra
Nước
ngoài
góp
Việt Nam
góp
Tổng số 3240 21057 22401 17943 4458 19462
1990 107 735 720.1 623.3 96.8
1991- 1995 1409 17663 10759 8605.5 2153.5 6517.8
1991 152 1291.5 1072.4 883.4 189 328.8
1992 196 2208.5 1599.3 1343.7 255.6 574.9
1993 274 3037.4 1842.5 1491.1 351.4 1017.5
1994 372 4188.4 2539.7 2030.3 509.4 2040.6
1995 415 6937.2 3705.1 2857 848.1 2556
1996-2000 1724 26259 10921.8 8714.5 2207.3 12944.8
1996 372 10164.1 3511.4 2906.3 605.1 2714
1997 349 5590.7 2649.1 2046 603.1 3115
1998 285 5099.9 2474.2 1939.9 534.3 2367.4
1999 327 2565.4 975.1 870.5 104.6 2334.9
2000 391 2838.9 1312 951.8 360.2 2413.5
12
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và đầu tư
Trong 3 năm khởi đầu từ 1988 đến 1990, FDI chưa có tác động rõ rệt đến tình
hình kinh tế - xã hội, do mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
vốn đầu tư của cả nước.
Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký
hơn 13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998
chỉ bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ yếu là
các dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ. Vốn thực hiện tập trung vào ngành công
nghiệp, đặc biệt là khai thác dầu thô, sản xuất lắp ráp ô tô, thiết bị văn phòng,
hàng điện tử. Các doanh nghiệp FDI chiếm tới 35% giá trị sản xuất toàn ngành
công nghiệp.
Việt Nam đã trải qua một giai đoạn tụt dốc của nguồn FDI đăng ký, cụ thể là
49% năm 1997, 16% năm 1998 và 59% năm 1999, một phần là do khủng
hoảng tài chính châu Á. Năm nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam (Đài Loan,
Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông) đều từ khu vực châu Á và phải
đối mặt với những khó khăn thực sự tại quốc gia của mình. Để bảo đảm cho
hoạt động kinh doanh tại nước mình, các nhà đầu tư này đã buộc phải huỷ
hoặc hoãn các kế hoạch mở rộng ra nước ngoài. Cuộc khủng hoảng cũng buộc
các nhà đầu tư phải sửa đổi thấp đi chỉ tiêu mở rộng sang châu Á. Cuộc khủng
hoảng cũng đã dẫn đến việc đồng tiền của các nước Đông Nam Á bị mất giá.
Việt Nam, do vậy, cũng trở nên kém hấp dẫn đối với những dự án tập trung
vào xuất khẩu. Hơn nữa, các nhà đầu tư nước ngoài cũng nhận ra rằng các dự
kiến về nhu cầu của thị trường đã bị thổi phồng. Các bức rào cản cho việc
kinh doanh cũng trở nên rõ ràng hơn.
14
Phụ lục: Những thay đổi chủ yếu trong chính sách thu hút FDI trong thời kỳ
1990 – 2000 của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Lĩnh vực Luật sửa đổi năm 1992 đến 1995 Luật sửa đổi năm 1996 đến hết
1999
Trình tự
đăng ký
+ Dự án FDI được nhận giấy
phép đầu tư trong vòng 45 ngày
+ Được quyền cho thuê lại đất đã
thuê tại các khu CN, khu chế xuất.
Tỷ giá ngoại tệ + Các dự án FDI đầu tư hạ tầng
và thay thế nhập khẩu được Nhà
nước bảo đảm cân đối ngoại tệ;
+ Các doanh nghiệp FDI thuộc
các lĩnh vực khác phải tự lo cân
+ Dự án phải bảo đảm cân đối nhu
cầu về ngoại tệ cho các hoạt động
của mình;
+ Áp dụng tỷ lệ kết hối ngoại tệ do
tác động khủng hoảng tài chính
15
đối ngoại tệ; Nhà nước không
chịu trách nhiệm về cân đối
ngoại tệ đối với các dự án này
khu vực (80%), sau đó nới dần tỷ
lệ này.
+ Doanh nghiệp có thể mua ngoại
tệ với sự cho phép của NHNN
Xuất nhập
khẩu
+ Doanh nghiệp phải bảo đảm tỷ
lệ xuất khẩu theo đã ghi trong
giấy phép đầu tư
+ Sản phẩm của doanh nghiệp
FDI không được bán ở thị
trường Việt Nam qua đại lý
+ Doanh nghiệp FDI không
được làm đại lý XNK
+ Doanh nghiệp cung ứng sản
phẩm đầu vào cho doanh nghiệp
xuất khẩu cũng được miễn thuế
nhập khẩu nguyên vật liệu trung
gian với tỷ lệ tương ứng.
2.1.2 Tác động
16
Trong 10 năm từ 1990 đến 2000, khu vực kinh tế có vốn FDI đã góp phần đáng
kể trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước bằng việc tạo ra tổng giá
trị doanh thu đáng kể, trong đó có giá trị xuất khẩu, cũng như đóng góp tích cực
vào ngân sách, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động. Đồng thời,
tiếp tục khẳng định vai trò trong sự nghiệp phát triển kinh tế, đóng góp ngày
càng lớn vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước và thực sự trở thành
bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế.
FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu
tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế. Đóng góp của FDI trong tổng
vốn đầu tư xã hội có biến động lớn, từ tỷ trọng chiếm 13,1% vào năm 1990
đã tăng lên mức 32,3% trong năm 1995. Tỷ lệ này đã giảm dần trong giai
đoạn 1996-2000, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực (năm
2000 chiếm 18,6%). Từ năm 1991-2000, GDP tăng liên tục qua các năm với
tốc động tăng bình quân mỗi năm 7,56%, trong đó: 5 năm 1991-1995: tăng
8,18% (nông lâm ngư tăng 2,4%; công nghiệp xây dựng tăng 11,3%, dịch vụ
tăng 7,2%); 5 năm 1996-2000: tăng 6,94% (nông lâm ngư tăng 4,3%; công
nghiệp xây dựng tăng 10,6%, dịch vụ tăng 5,75%). Nhờ vậy, đến năm 2000
tổng sản phẩm trong nước tăng gấp hơn 2 lần năm 1990.
Nếu trong giai đoạn 1991-1995 tổng giá trị doanh thu mới đạt 4,1 tỷ USD
(trong đó giá trị xuất khẩu không tính dầu thô đạt 1,2 tỷ USD, chiếm 30%
tổng doanh thu) thì trong thời kỳ 1996-2000 tổng giá trị doanh thu đã đạt
27,09 tỷ USD (trong đó giá trị xuất khẩu không tính dầu thô đạt 10,59 tỷ
USD, chiếm 39% tổng doanh thu), tăng gấp 6,5 lần so với 5 năm trước.
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện
đại, đem lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương đất đai kém
màu mỡ.
Đồng thời, khu vực kinh tế có vốn FDI cũng tạo việc làm và thu nhập ổn
định cho một bộ phận dân cư. Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp
18
FDI tăng lên qua từng giai đoạn, từ 21 vạn người vào cuối năm 1995 đã tăng
lên 37,9 vạn người vào cuối năm 2000, tăng 80% so với 5 năm trước.
FDI đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô. Cùng
với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt Nam, mức đóng góp
của khu vực kinh tế có vốn FDI vào ngân sách ngày càng tăng. Thời kỳ
1996-2000, không kể thu từ dầu thô, các doanh nghiệp FDI đã nộp ngân sách
đạt 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần 5 năm trước. FDI tác động tích cực đến các cân
đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai,
cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở
rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua
máy móc và nguyên, vật liệu...
FDI góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc
tế. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng nhanh, cao hơn
mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng
kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Thời kỳ 1996-2000, xuất khẩu của khu
vực FDI đạt 10,6 tỷ USD (không kể dầu thô), tăng hơn 8 lần so với 5 năm
trước, chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước; năm 2000 chiếm 25%,
FDI chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu
khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35%
hàng may mặc… Thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập đoàn xuyên
quốc gia, nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cận được với các thị
trường trên thế giới. Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, FDI đã tạo ra
nhiều khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế 4, 5 sao cũng như các khu du
lịch, nghỉ dưỡng đáp ứng nhu cầu khách du lịch quốc tế, góp phần gia tăng
Công ty ConocoPhilips.
Qua 5 tháng đầu năm 2001, Việt Nam đã có thêm 148 dự án đầu tư trực
tiếp nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký trên 467 triệu
USD, tăng 44,2% so với cùng kỳ năm 2000. HCM tiếp tục dẫn đầu cả
nước với trên 40% tổng lượng vốn đầu tư. 75,7% các dự án được cấp giấy
20