BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----oOo----
PHAN THỊ BẢO NGỌC
NHÂN TỐ CHÍNH QUYẾT ĐỊNH LẠM
PHÁT, NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005 – 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----oOo----
PHAN THỊ BẢO NGỌC
NHÂN TỐ CHÍNH QUYẾT ĐỊNH LẠM
PHÁT, NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005 – 2014
Chuyên ngành: Tài chính doanh nghiệp
Mã số:
60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
2.1. Các lý thuyết kinh tế nền tảng về các nhân tố tác động đến lạm phát ......... 4
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về tác động của các nhân tố
gây ra lạm phát ......................................................................................................... 6
2.2.1. Tác động của giá cả hàng hóa thế giới đến lạm phát ............................... 6
2.2.2. Tác động của chênh lệch sản lượng thực tế và chênh lệch sản lượng
tiềm năng ................................................................................................................ 8
2.2.3. Tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ .......................... 9
2.2.4. Ảnh hưởng kết hợp của các nhân tố chính tác động đến lạm phát ...... 11
2.3. Những nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam về tác động của các nhân tố
đến lạm phát ............................................................................................................ 12
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................................... 19
3.1. Mẫu dữ liệu nghiên cứu................................................................................... 19
3.2. Giả thiết nghiên cứu và kỳ vọng về dấu tác động của biến nghiên cứu ...... 21
3.2.1. Giả thiết nghiên cứu ................................................................................ 221
3.2.2. Kỳ vọng về dấu tác động ......................................................................... 281
3.3. Mô hình nghiên cứu ....................................................................................... 212
3.3.1. Tổng quan về mô hình vecto tự hồi quy cấu trúc (SVAR) .................... 22
3.3.1.1. Phương pháp ước lượng SVAR ......................................................... 25
3.3.1.2. Hàm phản ứng đẩy ............................................................................ 25
3.3.1.3. Phân rã phương sai cho sai số dự báo .............................................. 27
3.3.2. Mô hình TVP – VAR (Time-Varying Parameter VAR) với biến động
ngẫu nhiên ............................................................................................................ 28
3.3.2.1. Tạo mẫu β ............................................................................................ 31
3.3.2.2. Tạo mẫu α............................................................................................ 32
3.3.2.3. Tạo mẫu h............................................................................................ 33
3.3.2.4. Tạo mẫu
........................................................................................... 33
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CPI (Consumer Price Index): Chỉ số giá hàng tiêu dùng
OLS (Ordinary Least Square): Mô hình bình phương nhỏ nhất
VAR (Vecto Autoregressive): Mô hình Vector tự hồi quy
SVAR (Structural Vecto Autoregressive): Mô hình Vector tự hồi quy cấu trúc
TVP – VAR (Time Varying Parameters Vecto Autoregressive): Mô hình Vector
tự hồi quy với các tham số biến đổi theo thời gian
IRF (Impulse Response Function): Hàm phản ứng đẩy
FEVD (Forecast Error Variance Decomposition): Phân rã phương sai cho sai số dự
báo
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu về tác động của các nhân tố đến lạm phát ở Việt
Nam ............................................................................................................................. 16
Bảng 3.1: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu ................................................... 19
Bảng 3.2: Kỳ vọng về dấu tác động của các biến trong mô hình nghiên cứu.............. 21
Bảng 4.1: Thống kê mô tả về các biến số trong bài nghiên cứu ................................ 344
Bảng 4.2: Tương quan Pearson – mối tương quan đơn biến giữa các biến số........... 366
Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra tính dừng của các chuỗi dữ liệu ..................................... 377
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định độ trễ tối ưu trong mô hình VAR .................................. 38
Bảng 4.5: Chỉ tiêu lựa chọn mô hình VAR phù hợp .................................................... 39
Bảng 4.6: Kết quả ước lượng mô hình VAR rút gọn ................................................. 400
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định AR root test cho mô hình VAR rút gọn ...................... 433
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định tính dừng phần dư của mô hình VAR rút gọn ............ 444
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định nhân quả Granger theo cặp tại độ trễ bậc 3 ................ 485
tích về hàm phản ứng đẩy trong mô hình SVAR, bài nghiên cứu đã thấy rằng các
cú sốc sản lượng và thâm hụt ngân sách có tác động đáng kể đến lạm phát, trong
khi các yếu tố về giá cả hàng hóa thế giới và lãi suất thị trường tiền tệ tác động
khá yếu đến lạm phát tại các độ trễ tác động. Mặt khác, khi tiến hành xem xét
phân rã phương sai của sai số trong mô hình SVAR, bài nghiên cứu nhận thấy,
yếu tố chủ yếu gây ra lạm phát ở Việt Nam vẫn do bản thân lạm phát gây ra.
Cuối cùng, bằng mô hình TVP – VAR, bài nghiên cứu đã mô phỏng lại một cách
khá phù hợp điểm gãy cấu trúc về lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn Việt
Nam gia nhập WTO và khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra.
2
1. GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong số các mục tiêu vĩ mô của một quốc gia, lạm phát vẫn luôn được xem
là một trong những ưu tiên hàng đầu trong việc thực thi các chính sách của Nhà
nước. Các Chính phủ hầu hết đều gặp phải một thách thức khá phổ biến, đó là
việc kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát. Để giải
quyết câu hỏi này, các Chính phủ cần xác định được những yếu tố cơ bản gây ra
lạm phát ở quốc gia của họ, để từ đó họ sẽ có các chính sách thích hợp nhằm
kiềm chế lạm phát ở mức ổn định. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát,
trong đó nổi bật lên với 3 nguyên nhân chính, bao gồm: Tác động của giá cả
hàng hóa thế giới, tác động từ phía cầu (tác động cầu kéo), tác động từ phía cung
(tác động chi phí đẩy).
Việc nghiên cứu về những nguyên nhân gây ra lạm phát luôn thu hút sự
quan tâm của những nhà nghiên cứu về kinh tế học. Tại Việt Nam, vấn đề này
cũng nhận được sự quan tâm khá lớn và những nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng
đã có rất nhiều nghiên cứu về đề tài này. Hiện nay, các nghiên cứu của những
nhà nghiên cứu (cả ở trên thế giới cũng như trong nước) hầu như chỉ tập trung
cả tác động đơn biến, tác động đa biến với hệ số cố định và tác động đa biến với các
hệ số biến đổi của các nhân tố tác động đến lạm phát trong giai đoạn nghiên cứu.
1.4. Cấu trúc của bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu sẽ được thực hiện theo cấu trúc 5 chương như sau: Chương
1 là chương giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Chương 2 trình bày sẽ tổng quan các
nghiên cứu đã được thực hiện về các nhân tố có tác động đến lạm phát. Chương
3 trình bày cụ thể về phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu thu thập được sử
dụng trong bài nghiên cứu. Chương 4 trình bày kết quả của bài nghiên cứu và
những thảo luận từ kết quả này. Chương 5 đưa ra kết luận, một số gợi ý chính
sách cũng như những hạn chế còn tồn tại của bài nghiên cứu.
4
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1. Các lý thuyết kinh tế nền tảng về các nhân tố tác động đến lạm phát
Hiện nay, trên thế giới, có rất nhiều quan điểm, trường phái khác nhau nói
về tác động của các nhân tố đến lạm phát.
Theo học thuyết về số lượng tiền tệ (I. Fisher, 1911), ông cho rằng tồn tại
mối quan hệ giữa tổng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế với tổng chi tiêu để
mua hàng hóa, dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế đó. Điều này được thể
hiện trong phương trình trao đổi của Fisher như sau:
MV = PY
(2.1)
Với M là lượng cung tiền (đại diện cho chính sách tiền tệ); V là tốc độ chu
chuyển tiền tệ; P là mức giá cả chung của nền kinh tế; Y là tổng số lượng hàng
hóa và dịch vụ sản xuất của nền kinh tế trong năm đó.
Trong một nền kinh tế, tốc độ chu chuyển tiền tệ V sẽ phụ thuộc vào
MS = k P Y
Với MS là lượng cung tiền, P là chỉ số giá cả của nền kinh tế, Y là tổng sản
phẩm trong nền kinh tế và k là hằng số. Vế bên phải phương trình chính là cầu
tiền trong nền kinh tế. Khi đó, cân bằng tiền tệ diễn ra khi lượng cung tiền MS
bằng lượng cầu tiền MD. Theo Friedman, trong nền kinh tế, cung tiền sẽ là biến
ngoại sinh và được quyết định bởi các chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung
ương. Mặt khác, trong học thuyết này, sản lượng Y cũng được giả định là không
đổi và nhu cầu về tiền của nền kinh tế sẽ được giả định là một tỷ lệ cố định theo
Y. Vì thế, khi cung tiền gia tăng sẽ làm cho mức giá cả trong nền kinh tế gia
tăng. Có thể thấy rằng, học thuyết này đã đề cao vai trò của Ngân hàng Trung
ương với chức năng kiểm soát mức cung tiền trong nền kinh tế nhằm mục tiêu
trực tiếp kiểm soát lạm phát. Nói rộng ra, Ngân hàng trung ương sẽ thực hiện các
chính sách tiền tệ để mục tiêu kiểm soát làm phát hay nói cách khác, các cú sốc
cung tiền sẽ có nhiều tác động đến tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế.
Theo lý thuyết tăng trưởng của trường phái Keynes mới, các nhà kinh tế
học thuộc trường phái này đã đưa ra khái niệm về mức sản lượng tiềm năng,
6
trạng thái toàn dụng lao động, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên trong giải thích của
mình. Cụ thể, những nhà kinh tế học thuộc trường phái này đã giải thích lạm
phát theo cơ chế “lạm phát nội tại”, tức là lạm phát xảy ra do tác động của các
biến số nội sinh trong nền kinh tế. Các nhà kinh tế học đã đưa ra những giải
thích như sau: Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, (1) nếu các chính sách
kinh tế làm cho sản lượng thực tế trong nền kinh tế cao hơn mức sản lượng tiềm
năng và tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên thì điều này sẽ làm
cho lạm phát gia tăng do những nhà sản xuất trong nền kinh tế sẽ tăng giá bán
sản phẩm mình; (2) nếu các chính sách kinh tế làm cho mức sản lượng thực tế
trong nền kinh tế giảm xuống dưới mức tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn tỷ
Theo G. Gelos và Y. Ustyugova (2012), với mẫu dữ liệu chuỗi thời gian
của 31 quốc gia và 61 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn từ năm 2001 –
2010, bằng phương pháp hồi quy OLS gộp (Pooled OLS) và mô hình hiệu ứng
các nhân tố cố định (Fixed Effective Model) dựa theo những tính toán trong mô
hình lý thuyết đường cong Phillips, các tác giả đã thấy rằng có những tác động
đáng kể từ các cú sốc giá cả nước ngoài đến lạm phát trong nước ở một số lượng
lớn các quốc gia. Cụ thể:
- Các quốc gia với những đặc điểm ổn định thường dễ bị tác động hơn sau
khi đã trải qua tác động lạm phát kéo dài của các cú sốc lạm phát hàng hóa. Đây
thường là các quốc gia có tỷ trọng về thực phẩm cao trong rổ chỉ số giá hàng tiêu
dùng (CPI) hoặc khá nhạy cảm đối với giá dầu trong nền kinh tế. Đặc biệt, trong
cú sốc năm 2008, các nhà nhập khẩu nhiên liệu ròng đã đối mặt với một mức độ
lạm phát thấp hơn dưới tác động của các điều khoản thương mại.
- Các quốc gia có thể chủ động đưa ra một số biện pháp để hạn chế tác động
dẫn truyền của giá cả hàng hóa thế giới đến lạm phát trong nước nếu có cơ chế
quản lý tốt hơn, sự độc lập cao hơn của ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, các
tác giả đã phát hiện thấy sự tự tin của các định chế tài chính mới là nguyên nhân
quan trọng hơn để hạn chế tác động của giá cả hàng hóa thế giới đến lạm phát
trong nước.
8
- Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao, các cú sốc giá cả hàng hóa sẽ có một tỷ
lệ truyền dẫn cao và dai dẳng đến lạm phát trong nước.
Theo bài nghiên cứu của K. Chuah, E. Chong và J. Tan (2013), với chuỗi
dữ liệu thời gian theo tháng từ năm 1992 đến năm 2012 của Malaysia, thông qua
phương pháp hồi quy OLS, các tác giả đã tập trung vào việc xem xét tác động
của giá cả hàng hóa thế giới đến lạm phát của Malaysia. Các tác giả đã đi đến kết
luận rằng giá cả hàng hóa toàn cầu chưa có ảnh hưởng liên tục và kéo dài đến
có tác động đến lạm phát hay không? Thông qua mô hình lý thuyết về đường
cong Phillips, các tác giả thấy rằng, việc thay đổi trong chênh lệch giữa sản
lượng thực tế và sản lượng tiềm năng sẽ có mức độ tác động khác nhau đến các
quốc gia trong mẫu dữ liệu: Tác động này mạnh hơn ở các nước Ý, Thụy Điển và
Anh, trong khi yếu hơn ở Tây Ban Nha, Hà Lan, Phần Lan, Nhật và Đức. Ngoài
ra, các tác giả cũng thấy rằng, những thay đổi kéo dài liên tục của chênh lệch
giữa sản lượng thực tế so với sản lượng tiềm năng cũng sẽ làm cho lạm phát kéo
dài dai dẳng.
2.2.3. Tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Theo S. Fisher, R. Sahay và C. Végh (2002), với mẫu dữ liệu của 161 quốc
gia (bao gồm 133 quốc gia có nền kinh tế thị trường và 28 quốc gia có nền kinh
tế chuyển đổi), các tác giả đã nghiên cứu về mô hình siêu lạm phát và lạm phát
cao ở các quốc gia trong mẫu dữ liệu. Thông qua hồi quy OLS cho các quốc gia,
các tác giả đã đưa ra kết luận: Có mối quan hệ ngược chiều có ý nghĩa thống kê
trong dài hạn giữa cân bằng tài khóa và việc phát hành thêm tiền. Mối quan hệ
này trong ngắn hạn sẽ mạnh hơn ở các quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao nhưng
không có ý nghĩa ở các quốc gia có tỷ lệ lạm phát thấp. Mặt khác, các tác giả
cũng thấy rằng, khi xem xét dữ liệu của các quốc gia, có thể sẽ có mối quan hệ
cùng chiều giữa thâm hụt tài khóa và lạm phát (tuy nhiên nó không thường
xuyên). Kết quả hồi quy cũng cho thấy chưa đủ cơ sở để kết luận về mối quan hệ
giữa thâm hụt ngân sách vè chính sách tài khóa. Tuy nhiên, khi phân chia dữ
liệu, mối quan hệ này có ý nghĩa đối với các quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao,
trong khi chưa thể kết luận điều này với các quốc gia có tỷ lệ lạm phát thấp. Mặt
10
khác, các tác giả cũng nhận thấy, có mối quan hệ trong dài hạn giữa lạm phát và
cung tiền. Mối quan hệ này sẽ mạnh hơn ở các quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao so
với các quốc gia có tỷ lệ lạm phát thấp.
nhóm các quốc gia đã phát triển, các tác giả thấy rằng không có mối quan hệ
giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách. Đồng thời, sự gia tăng phát triển tài chính
và độc lập tiền tệ cũng sẽ ngăn cản tác động của mất cân đối tài khóa đến lạm
phát.
2.2.4. Ảnh hưởng kết hợp của các nhân tố chính tác động đến lạm phát
Theo M. Mohanty và M. Klau (2001), với chuỗi dữ liệu của 14 quốc gia ở các
nền kinh tế đang phát triển (bao gồm Ấn Độ, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan, Thái
Lan, Brazil, Chile, Mexico, Peru, Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan và Nam Phi)
trong giai đoạn thập niên những năm 1980 đến những năm thập niên 1990, bằng mô
hình OLS, các tác giả đã nhận thấy rằng các nhân tố cung (như các cú sốc về các
nhân tố bên ngoài, nhất là giá dầu; các cú sốc về nông nghiệp; tác động của lạm
phát trong nước) có những ảnh hưởng lớn hơn so với tác động của các nhân tố cầu
truyền thống.
Theo F. Canova, L. Gambetti và E. Pappa (2007), với chuỗi dữ liệu thời gian
của Mỹ trong giai đoạn từ quý 1/1959– quý 4/2004, của khu vực EU trong giai đoạn
từ quý 1/1970 – quý 4/2002, của Anh trong giai đoạn từ quý 1/1963 – quý 4/2004
năm 1973 – 2003, bằng cách sử dụng mô hình SVAR thay đổi theo thời gian (Timevarying SVAR), các tác giả đã nhận thấy rằng những thay đổi sản lượng sẽ có nhiều
tác động đến lạm phát. Mặt khác, các tác giả cũng thấy rằng, các nguyên nhân khác
nhau dẫn đến việc thay đổi sản lượng sẽ có những tác động khác nhau đến lạm phát
quốc gia phát triển này. Cụ thể, ở Mỹ, những thay đổi trong các cú sốc cầu sẽ có tác
động đáng kể lớn đến lạm phát; ở khu vực liên minh châu Âu (EU), các cú sốc đến
từ sự thay đổi của các cú sốc chính sách tiền tệ và các cú sốc cung có tác động mạnh
đến lạm phát; ở Anh, sự thay đổi trong cả các cú sốc cầu, cú sốc cung và cú sốc
chính sách tiền tệ đều tác động mạnh đến lạm phát.
Theo C. Osorio và D. Unsal (2013), với chuỗi dữ liệu của Trung Quốc, Ấn Độ
và Mỹ trong giai đoạn từ quý 1/1986 cho đến quý 1/2010, thông qua mô hình
SVAR và GVAR (Global VAR), các tác giả đã đi đến kết luận rằng sự biến động
12
13
Theo Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010), các tác giả đã thực
hiện bài nghiên cứu thực nghiệm để xem xét tác động của các nhân tố đến lạm phát
Việt Nam với chuỗi dữ liệu theo tháng trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2001 đến
tháng 7 năm 2010. Bằng các kiểm định đồng liên kết, các tác giả nhận thấy có 3 mối
quan hệ trong dài hạn giữa lạm phát và các nhân tố tác động, tương ứng với 3 kênh
tác động, bao gồm kênh ngang giá sức mua PPP, kênh tổng cầu và kênh tổng cung.
3 kênh này được đại diện lần lượt bởi các biến số: chỉ số giá nhập khẩu và tỷ giá hối
đoái chính thức, giá trị sản lượng công nghiệp, cung tiền M2, lãi suất danh nghĩa và
giá dầu quốc tế. Bằng phương pháp VECM, các tác giả đã nhận thấy hệ số ECM
theo kênh PPP rất nhỏ, trong khi hệ số ECM của kênh tổng cung thì không có ý
nghĩa thống kê. Mặt khác, các tác giả cũng nhận thấy đối với Việt Nam, lạm phát tỷ
lệ nghịch với thay đổi sản lượng (tức là tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát ở
Việt Nam); trong khi tác động của cung tiền M2 và lãi suất đến lạm phát cũng rất
hạn chế (và cần 1 độ trễ sau 5 tháng). Ngoài ra, các tác giả cũng nhận thấy rằng giá
cả quốc tế (giá dầu quốc tế) không có nhiều tác động đến lạm phát do trong thời
điểm nghiên cứu của tác giả, Chính phủ Việt Nam vẫn đang tiến hành trợ giá xăng
dầu. Thực hiện phân tích về phân rã phương sai và hàm phản ứng đẩy trong mô
hình hồi quy, các tác giả nhận thấy hầu hết biến động lạm phát trong quá khứ sẽ tác
động đến lạm phát ở hiện tại còn các nhân tố khác rất ít có tác động đến lạm phát;
đồng thời tác động của các nhân tố khác đến lạm phát cũng sẽ cần một độ trễ tối
thiểu là 6 tháng. Từ đó, các tác giả đã đi đến kết luận rằng lạm phát ở Việt Nam chủ
yếu đến từ những tác động trong quá khứ, còn các tác động của các nhân tố khác
đến lạm phát thì khá hạn chế và cần một độ trễ tác động thì các nhân tố này mới có
tác động đến lạm phát
Theo Nguyễn Thị Liên Hoa và Trần Đặng Dũng (2013), các tác giả đã xem xét
về các yếu tố đã, đang và sẽ tác động đến lạm phát của Việt Nam với chuỗi dữ liệu
thời gian theo tháng từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 6 năm 2011. Bằng việc thực
tác động âm đến lạm phát kể từ quý thứ 6. Các tác động của các cú sốc này đều kéo
dài khá dai dẳng. Đối với cú sốc giá cả hàng hóa nước ngoài (đại diện bởi giá dầu
thế giới, giá gạo thế giới, GDP nước ngoài, lãi suất nước ngoài và giá cả hàng hóa
nước ngoài), tác giả nhận thấy rằng các cú sốc GDP nước ngoài và giá cả hàng hóa
nước ngoài có tác động dương và có tác động mạnh nhất, đúng kỳ vọng nhất đến
15
CPI. Cuối cùng, trong khi các cú sốc giá gạo thế giới và lãi suất nước ngoài sẽ có
tác động kết hợp (có thể dương và âm) thì các cú sốc giá dầu thế giới lại gây ra tác
động âm đến CPI.
Tóm lại, từ những nền tảng lý thuyết, những nghiên cứu thực nghiệm ở nước
ngoài và những nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam, bài nghiên cứu này sẽ tập
trung xem xét ảnh hưởng của các nhân tố chính đến lạm phát Việt Nam, bao gồm
giá cả hàng hóa thế giới, chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng,
chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.
16
Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu về tác động của các nhân tố đến lạm phát ở Việt Nam
Tác giả
Dữ liệu và phương
pháp nghiên cứu
Các biến số nghiên cứu
Sử dụng mô hình Phân tích tác động của các