Mối quan hệ giữa FDI, nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam giai đoạn 1986 2018 - Pdf 65

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----------0o0-----------

NGUYỄN THỊ THẢO NGUYÊN

MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI, NHẬP KHẨU VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ:
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1986 - 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----------0o0-----------

NGUYỄN THỊ THẢO NGUYÊN

MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI, NHẬP KHẨU
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ:
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1986 – 2018

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Hướng đào tạo: Ứng dụng
Mã ngành: 8340201


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU................................................................................................. 9
1.1. Giới thiệu chủ đề nghiên cứu .................................................................................................. 9
1.2. Mục tiêu nghiên cứu.............................................................................................................. 11
1.3. Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................................................... 12
1.4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................................... 13
1.5. Kết cấu nghiên cứu................................................................................................................ 13

CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT .............................................................................. 15
2.1. Các lý thuyết nền tảng về tăng trưởng kinh tế với FDI và nhập khẩu................................... 15
2.1.1. FDI và tăng trưởng kinh tế ............................................................................................. 15
2.1.2. Nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế .................................................................................. 17
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan ................................................................................. 19
2.2.1. Tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế ..................................................................... 19
2.2.2. Tác động của nhập khẩu lên tăng trưởng kinh tế ........................................................... 21

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................... 26
3.1. Dữ liệu và mô hình nghiên cứu ............................................................................................. 26
3.1.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất........................................................................................... 26
3.1.2. Dữ liệu nghiên cứu ......................................................................................................... 27
3.2. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................................... 27
3.2.1. Phương pháp ARDL....................................................................................................... 27
3.2.2. Kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto (TY) .................................................................. 31

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................................ 33
4.1. Thống kê mô tả ..................................................................................................................... 33

Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài.

GDP :

Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội.

IM

Import - Nhập khẩu.

:

MNC :

Multinational corporation - Công ty đa quốc gia.


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Định nghĩa các biến nghiên cứu. .................................................... 27
Bảng 4.1: Thống kê mô tả. .............................................................................. 33
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định tính dừng. ......................................................... 35
Bảng 4.3: Kết quả lựa chọn độ trễ tối đa. ........................................................ 36
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy mô hình ARDL..................................................... 38
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto. .............................. 34


DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Xu hướng các biến nghiên cứu........................................................ 33
Hình 4.2: Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình ARDL. ....................... 33



9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Giới thiệu chủ đề nghiên cứu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thương mại được coi là yếu tố quan
trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thương mại thúc đẩy tích lũy vốn, nguồn nhân
lực và khả năng chuyển giao công nghệ, do đó, làm tăng năng suất của một quốc gia
(Frankel và Romer, 1999). Điều này diễn ra khi các nhà nhập khẩu mang các công
nghệ mới vào trong nước, giúp tăng tốc nghiên cứu và phát triển (R&D). Nói cách
khác, nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc khuếch tán công nghệ (Coe và
cộng sự, 1995, Keller và Yeaple, 2003). Sau đó, hàng hóa được sản xuất trong nước
sẽ mang tính cạnh tranh cao, tạo động lực cho xuất khẩu và từ đó, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Đồng thời, mở cửa thương mại dẫn đến sự thay đổi của dòng vốn
FDI, vì các nhà đầu tư nước ngoài tìm cách tăng lợi thế cạnh tranh thông qua việc
phân bổ nguồn lực khan hiếm một cách hiệu quả, trong khi các quốc gia tiếp nhận
(host country) cũng được hưởng lợi từ tác động trực tiếp và gián tiếp của FDI (De
Mello, 1999). Một số trường hợp hỗ trợ mối liên kết giữa FDI, thương mại và tăng
trưởng. Ví dụ, các công ty Hàn Quốc giúp thay da đổi thịt ngành dệt may ở
Bangladesh, từ tỷ lệ không đáng kể trở thành ngành xuất khẩu chủ lực (Aitken và
cộng sự, 1997); ở Trung Quốc, kể từ khi chính sách thương mại được cải thiện, tăng
trưởng kinh tế có sự phát triển nhanh chóng, liên quan đến sự hiện diện của đầu tư
nước ngoài (Zhao và Du, 2007); ở Ấn Độ, các công ty công nghệ Mỹ vào cuối
những năm 1980 giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp phần
mềm (UNCTAD, 1999). Từ những năm 1980, hầu hết các quốc gia sửa đổi các quy
định, từ thắt chặt sang mở rộng các khuôn khổ mới, nhằm thu hút dòng vốn FDI;
đặc biệt từ năm 1991 đến 1997, 94% trong số này hướng tới việc tạo ra môi trường
thuận lợi hơn cho FDI (UNCTAD, 1999).
Sau nhiều thập kỷ xung đột quân sự và trì trệ kinh tế, Việt Nam bắt đầu quá
trình phục hồi kinh tế, bằng cách chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung

nhỏ hoặc các công ty địa phương không thể học hỏi từ các công ty nước ngoài, thì
các công ty nước ngoài sẽ lấn áp các công ty địa phương thông qua cạnh tranh. Một


11

lý do khác cho hiệu ứng lấn áp (crowding out effect) là các công ty đa quốc gia thu
hút nguồn lực khan hiếm, ví dụ, lao động có kỹ năng hơn so với các công ty trong
nước (Herzer, 2012). Görg và Greenaway (2004) cho rằng các doanh nghiệp FDI có
xu hướng bảo vệ bí quyết sản xuất trước các doanh nghiệp trong nước; do đó, sự lan
tỏa bị vô hiệu hóa và rất khó cho các doanh nghiệp trong nước sử dụng trình độ
công nghệ thấp hoặc lao động không có kỹ năng để học hỏi từ các công ty đa quốc
gia. Benhabib và Spiegel (1994) khẳng định hiệu quả của đầu tư nước ngoài phụ
thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực ở các quốc gia tiếp nhận. Borensztein và cộng
sự (1998) cho rằng trừ khi các quốc gia tiếp nhận có mức vốn nhân lực đủ cao để
hấp thụ công nghệ mới, nếu không vốn FDI sẽ không hiệu quả. Alfaro và cộng sự
(2004) thấy rằng một quốc gia có thị trường tài chính càng phát triển thì FDI đóng
góp vào tăng trưởng kinh tế chung càng nhiều. Chẳng hạn, Việt Nam đã nhận được
vốn FDI từ Nhật Bản vào năm 1988 và đến cuối năm 2015, Nhật Bản là nhà đầu tư
lớn thứ hai tại Việt Nam (GSO, 1996 và 2015). Tuy nhiên, 38% và 65,2% doanh
nghiệp Nhật Bản coi chất lượng nguồn nhân lực và khả năng cung cấp nguyên liệu
của các nhà cung cấp địa phương là những vấn đề lớn trong quản lý doanh nghiệp
Nhật Bản tại Việt Nam (JETRO, 2016). Thực tế là sự thiếu hụt lao động lành nghề
và lỗ hổng công nghệ cản trở sự lan tỏa đã được chỉ ra bởi Nguyen và cộng sự
(2006) trong trường hợp của Việt Nam. Những kết quả này cho thấy khi thương mại
được mở rộng, tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế thông qua khuếch tán công
nghệ hoặc vốn nhân lực là không rõ ràng. Các lập luận trên dường như ủng hộ quan
điểm rằng, hiệu ứng của FDI lên tăng trưởng kinh tế Việt Nam là không thống nhất,
cần có các nghiên cứu thực nghiệm sâu rộng hơn.


ngược chiều với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam?
(4) Hai cuộc khủng hoảng châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính 2008–2009 có

tác động nào lên nền kinh tế Việt Nam hay không?
(5) Nếu mối quan hệ đồng liên kết tồn tại, hướng nhân quả giữa các biến như thế

nào?


13

1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời 4 câu hỏi đầu tiên, tức kiểm chứng sự tồn tại của quan hệ đồng liên
kết giữa các biến, nghiên cứu sử dụng kiểm định đường bao (bound test) trong
khuôn khổ tự hồi quy phân phối trễ (ARDL) của Pesaran và cộng sự (2001).
Phương pháp ARDL có nhiều ưu điểm khi so sánh với các phương pháp kiểm định
đồng liên kết trước đây. Một ưu điểm nổi bật của phương pháp ARDL, đó là áp
dụng được cho cả các biến I(0), I(1) hay hỗn hợp giữa chúng (Pesaran và Shin,
1998); đây chính là bối cảnh của nghiên cứu này. Khuôn khổ nghiên cứu sử dụng
dữ liệu hàng năm trong giai đoạn 1986–20181 được thu thập từ nguồn Ngân hàng
Thế giới (WB), kết hợp các biến GDP bình quân đầu người, dòng vốn FDI ròng,
nhập khẩu và dân số. Cuối cùng, nhằm trả lời câu hỏi thứ 5, nghiên cứu thực hiện
kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto (1995).

1.5. Kết cấu nghiên cứu
Nội dung chính của đề tài gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Mục tiêu của phần này nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về toàn bộ công trình
nghiên cứu thông qua việc trình bãy rõ động cơ nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu,
câu hỏi nghiên cứu.

2.1. Các lý thuyết nền tảng về tăng trưởng kinh tế với FDI và nhập khẩu
2.1.1. FDI và tăng trưởng kinh tế
Có một lượng lớn tài liệu phân tích mối liên kết hai chiều giữa tăng trưởng
kinh tế và FDI. Liệu FDI là một yếu tố quan trọng quyết định tăng trưởng kinh tế,
đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển, vẫn còn được tranh luận giữa các nhà
kinh tế. Trên thực tế, vai trò của FDI trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã
được nhìn nhận từ các lý thuyết tăng trưởng kinh tế khác nhau. Lý thuyết tân cổ
điển (neoclassical theory) về tăng trưởng kinh tế tìm cách đưa ra lời giải thích về hệ
quả cũng như nguyên nhân của sự hiện diện của FDI ở các quốc gia đang phát triển.
Trong các lý thuyết tân cổ điển, dòng vốn FDI là một giải pháp để lấp đầy lỗ hổng
tiết kiệm–đầu tư, chênh lệch tỷ giá hối đoái và lỗ hổng tài khóa ở các quốc gia đang
phát triển. Rostow (1956, 1971) phát triển mô hình tăng trưởng kinh tế theo giai
đoạn nhằm giải thích sự hiện diện của dòng vốn FDI trong quá trình chuyển đổi
kinh tế ở các quốc gia đang phát triển. Trong mô hình, dòng vốn FDI vào các quốc
gia đang phát triển được xem là cách giúp đáp ứng các yêu cầu về vốn cũng như
chuyển giao các công nghệ mới trong các nền kinh tế chuyển đổi. Solow (1956)
phát triển mô hình tăng trưởng tân cổ điển mới, và cho thấy kết quả tăng trưởng sản
lượng từ các yếu tố như tăng chất lượng và số lượng lao động thông qua tăng trưởng
dân số và giáo dục, tăng vốn thông qua vốn nước ngoài và tiến bộ trong công nghệ.
Ngược lại, trong các lý thuyết tăng trưởng nội sinh (endogenous growth
theory), tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế được giải thích thông qua các
ngoại tác tri thức (knowledge externality) và sự tồn tại của nguồn nhân lực ở các
quốc gia tiếp nhận đang phát triển. Để giải thích vai trò của FDI lên tăng trưởng dài
hạn của các nước tiếp nhận, Lucas (1988, 1990), Romer (1986, 1987) và Mankiw và
cộng sự (1992) sửa đổi mô hình tăng trưởng tân cổ điển, đặc biệt là mô hình tăng


16

trưởng Solow, bằng cách đưa vào các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng gồm nguồn nhân

17

2.1.2. Nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế
Từ quan điểm lý thuyết, không giống như mối quan hệ xuất khẩu–tăng trưởng,
mối quan hệ giữa nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế là không rõ ràng vì chủ yếu,
nhập khẩu ở mức độ lớn được coi là sự rò rỉ của dòng tuần hoàn thu nhập quốc dân,
tức là hầu hết chi tiêu nhập khẩu (import expenditure) làm giảm nguồn thu nhập
quốc gia (Grossman và Helpman, 1991). Tuy nhiên, các nhà kinh tế thường đồng ý
rằng tác động của nhập khẩu lên GDP bắt nguồn từ thực tế là nhập khẩu cho phép
một quốc gia có được các yếu tố sản xuất mà họ không thể tự sản xuất được, do
không có công nghệ, nhân lực, kỹ năng cần thiết, v.v. Phân tích tác động của nhập
khẩu lên tăng trưởng kinh tế giúp mở khóa các câu trả lời cho câu hỏi liệu thương
mại quốc tế về kiến thức công nghệ có thúc đẩy sản lượng quốc gia cao hơn hay
không. Nhập khẩu được coi là kênh khuếch tán phổ biến trong thương mại vốn và
công nghệ quốc tế; bởi vì không chỉ việc nhập khẩu chuyên môn kỹ thuật nước
ngoài có tiềm năng làm tăng mức sản xuất trong nước, mà còn bởi nhập khẩu là một
đại diện mạnh mẽ cho tương tác kinh tế giữa các công dân của một nước và các đối
tác nước ngoài của họ (Ram, 1990). Cùng với phân tích trên, Coe và cộng sự (1997)
quan sát một số kênh thông qua đó nhập khẩu tác động lên tăng trưởng GDP. Đầu
tiên, các tác giả lưu ý rằng việc nhập khẩu hàng hóa vốn trung gian có thể làm tăng
mức độ dung lượng vốn sản xuất của một quốc gia, mà cuối cùng sẽ dẫn đến tăng
trưởng kinh tế. Thứ hai, nhập khẩu làm tăng mức GDP bằng cách cho phép các
quốc gia có chuyên môn kỹ thuật thấp (bên trong biên giới công nghệ) như các quốc
gia đang phát triển, thích nghi và áp dụng các phát minh công nghệ tiên tiến từ
những quốc gia có bí quyết kỹ thuật cao hơn (ví dụ các quốc gia phát triển). Thứ ba,
nhập khẩu hoặc thương mại quốc tế mang lại cơ hội học hỏi các phương pháp phân
bổ nguồn lực hiệu quả hơn cho các quốc gia, có ảnh hưởng lớn đến năng suất và
tăng mức thu nhập quốc dân. Đi đôi với điều này là thực tế, hàng hóa nhập khẩu có
thể cải thiện chất lượng của các công nghệ bản địa hoặc trong nước thông qua việc
tạo ra sự cạnh tranh buộc các ngành công nghiệp trong nước phải cải thiện kỹ thuật

rằng vì nhập khẩu làm tăng sự đa dạng của hàng hóa trong nền kinh tế, do đó,
khuyến khích hiệu quả kinh tế cho cả người sản xuất và người tiêu dùng vì quyết


19

định tiêu dùng và sản xuất của họ dựa trên việc giảm thiểu chi phí và tối đa hóa sự
hài lòng và lợi nhuận. Với hiệu quả này, chuyên môn hóa sẽ theo đó, dẫn đến tăng
sản lượng quốc gia và giảm mức giá tổng (tức là giảm lạm phát) (Carbaugh, 2003).

2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
2.2.1. Tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế
Ý tưởng FDI đóng vai trò tích cực trong tăng trưởng kinh tế (gọi tắt là EG–
economic growth) của một quốc gia thực sự được phát triển từ mô hình tăng trưởng
Keynesian Harrod-Domar giản đơn và sau đó mở rộng thành các mô hình hai
khoảng cách (two-gap model) khác nhau của Chenery và Allen (1966). Các lý
thuyết tăng trưởng Harrod-Domar ở các nền kinh tế tiên tiến có liên quan đến hàm
tiết kiệm, đầu tư tự định (autonomous investment) và được kích thích (induced
investment). Feldstein (1983) áp dụng OLS để điều tra mối quan hệ giữa tiết kiệm

trong nước và dòng vốn nước ngoài ở 17 quốc gia trong giai đoạn 1960–1979. Các
kết quả cho thấy sự gia tăng nhất quán trong tiết kiệm trong nước dẫn đến sự gia
tăng đồng thời tỷ lệ đầu tư trong nước. Sử dụng hồi quy OLS cho Nigeria trong giai
đoạn 1970–2000, Osaghale và Amonhienan (1987) nhận thấy rằng FDI có liên quan
cùng chiều đến EG.
Fatehi và Safzadeh (1994) áp dụng nhiều phân tích để xem xét mối quan hệ
giữa thay đổi chính trị và xã hội của FDI tại 15 quốc gia kém phát triển (LDC–less
developed country), trong giai đoạn 1950–1982. Kết quả thực nghiệm cho thấy cơ
chế chính trị không ổn định tạo ra các hoạt động FDI không ổn định. Bosworth và
Collins (1999) kiểm tra trải nghiệm tăng trưởng của 88 nền kinh tế công nghiệp và

dạng từ hồi quy OLS đến 2SLS, GMM và ECM.
Ngược lại, Agosin và Machado (2005) sử dụng phương pháp GMM cho 12
quốc gia trong giai đoạn 1971–2000, điều tra tác động của FDI đến EG và phát hiện
mối quan hệ ngược chiều. Các nghiên cứu khác tìm thấy mối quan hệ ngược chiều
có thể kể ra như Adams (2009) cho 42 quốc gia LDC trong giai đoạn 1990–2003, sử
dụng hồi quy OLS; và Jilenga và cộng sự (2016) cho Tanzania với dữ liệu kéo dài


21

từ 1971–2011, áp dụng mô hình ARDL và phương pháp kiểm định đường bao. Các
nghiên cứu khác bao gồm Feeny và cộng sự (2014), áp dụng phương pháp OLS và
GMM, cho dữ liệu quần đảo Đảo Thái Bình Dương trong giai đoạn 1971–2010,
điều tra mối quan hệ giữa FDI và EG, và tìm thấy tác động yếu, không đánh kể;
Acaravci và Ozturk (2012) sử dụng phương pháp kiểm định đồng liên kết ARDL
cho 10 quốc gia OECD với dữ liệu thuộc giai đoạn 1994–2008, và tìm thấy kết quả
hiệu ứng FDI hỗn hợp; Schnider (2005) cho 47 quốc gia 1970–1990, sử dụng hồi
quy OLS và Jyun (2008) cho 62 quốc gia 1975–2000, sử dụng kỹ thuật hồi quy
ngưỡng, đều tìm thấy kết quả mơ hồ giữa FDI và EG. Các nghiên cứu về tác động
của FDI lên EG được tác giả tổng hợp tại Bảng 2.1.
2.2.2. Tác động của nhập khẩu lên tăng trưởng kinh tế
Một trong những nghiên cứu nhằm thiết lập giả thuyết nhập khẩu–tăng trưởng
(ILG) cho Thổ Nhĩ Kỳ, Kotan và Saygili (1999) ước tính hàm cầu nhập khẩu bằng
cách sử dụng hai kỹ thuật hồi quy, bình phương tối thiểu (OLS) và hợp lý cực đại
(ML). Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi các yếu tố khác không đổi (ceteris paribus),
nhập khẩu có tác động tích cực và đáng kể đến mức thu nhập quốc dân và do đó
tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Đồng quan điểm này, một khảo sát lịch sử
(historical survey) được thực hiện ở Ấn Độ bởi Dutta và Ahmed (2004), với mục
đích kiểm tra các mô hình hành vi của mức tổng nhập khẩu để xem tốc độ tăng
trưởng GDP trong giai đoạn từ năm 1971 đến năm 1995. Phân tích được thực hiện

lên tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu cũng bác bỏ giả thuyết không của mối quan hệ
một chiều giữa các biến số, đó là nhập khẩu và xuất khẩu quyết định tăng trưởng
kinh tế chứ không phải ngược lại. Do đó, kết luận đưa ra là mối quan hệ hai chiều
giữa các biến số, tức là nhập khẩu kéo theo tăng trưởng kinh tế, và ngược lại, tăng
trưởng kinh tế kéo theo nhập khẩu. Trong một nghiên cứu nhắm vào 4 quốc gia
LDC hướng nội (inward-oriented): Nigeria, Papua New Guinea, Fiji và Ấn Độ,
Asafu-Adjaye và Chakraborty (1999) tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ cùng
chiều và có ý nghĩa thống kê giữa xuất khẩu, nhập khẩu với mức độ tăng trưởng
kinh tế. Trên thực tế, với việc sử dụng mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM), các tác giả
tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ một chiều giữa ba biến số, cụ thể là từ xuất


23

khẩu sang nhập khẩu và cuối cùng là tăng trưởng GDP. Trong một nghiên cứu chủ
yếu nhắm vào mối quan hệ xuất khẩu–tăng trưởng (ELG) cho 126 quốc gia đang
phát triển, Riezman và cộng sự (1996) kết hợp nhập khẩu làm biến kiểm duyệt
(moderating variable) trong quan hệ ELG. Trong nghiên cứu này, các tác giả bao
gồm các kỹ thuật phân rã sai số dự báo, mối quan hệ hai chiều được tìm thấy giữa
các mức xuất khẩu và nhập khẩu, và với tăng trưởng kinh tế. Về bản chất, các tác
giả thấy rằng hướng nhân quả là mạnh nhất khi chạy trực tiếp từ nhập khẩu sang
xuất khẩu và sau đó là tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, quan hệ nhân quả yếu hơn khi
chuyển từ xuất khẩu sang nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, kết luận
quan trọng nhất trong nghiên cứu này là việc nhập khẩu phải được đưa vào bất kỳ
phân tích ELG nào, nếu không, sự thiếu sót của chúng sẽ có nhiều khả năng dẫn đến
hồi quy và phân tích giả mạo.
Một nghiên cứu tương tự khác nhắm đến bằng chứng về sự tồn tại của quan hệ
ILG cho Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Đài Loan và Malaysia, được thực hiện bởi
Thangavelu và Rajaguru (2004). Các tác giả tìm thấy mối quan hệ cùng chiều và có
ý nghĩa giữa mức nhập khẩu và sản lượng quốc gia đối với các nền kinh tế châu Á


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status