BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHAN MINH XÍCH TỰ
NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ.
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. DIỆP GIA LUẬT
Thành Phố Hồ Chí Minh - Năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tp.HCM, ngày 01 tháng 12 năm 2014
Tác Giả
PHAN MINH XÍCH TỰ MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Về Mối Quan Hệ Giữa Nợ Công Đối Với Tăng Trưởng Kinh Tế. 15
2.3 .1.1. Lý thuyết cân bằng của David Ricardo 15
2 .3.1.2. Lý thuyết Keynes và thuyết Tân cổ điển 16
2 .3.1.3. Lý thuyết “Nợ quá mức” (Debt-Overhang) và đường cong Laffer về nợ. 17
2 .3.1.4. Mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. 19
2.3 .2. Các nghiên cứu trước về tác động của nợ công
đến tăng trưởng kinh tế 20
2.3.2.1. Các nghiên cứu nước ngoài 20
2.3.2.2. Các nghiên cứu trong nước. 23
2.3.2.3. Nhận xét chung về các quan điểm 24
CHƢƠNG III : KHẢO SÁT MỐI QUAN HỆ GIỮA NỢ CÔNG VÀ
TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VIỆT NAM 1986 – 2013
3.1. Tăng Trưởng Kinh Tế Của Việt Nam 27
3 .2. Nợ Công, Thâm hụt ngân sách và Đầu tư công ở Việt Nam 31
3.3 . Đánh giá về nợ công và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam 45
3.3.1 . Thành tựu 45
3.3.2 . Hạn Chế 46
CHƢƠNG IV: PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM
4.1. Giới Thiệu 49
4.2. Khuôn khổ mô hình lý thuyết 49
4.2. 1.Mô hình 49
4.2. 2. Các yếu tố cơ bản của mô hình nghiên cứu 52
4.3. Dữ liệu nghiên cứu 52
4.4. Phương pháp ước lượng 53
4.4.1. Kiểm định tính dừng 53
4.4.2. Đồng liên kết 55
4.4.3. Mô hình hiệu chỉnh sai số ECM 57
4.4.4. Cách tiếp cận mô hình ARDL đối với phân tích đồng liên kết 57
4.4.5. Kiểm định nhân quả Granger với mô hình VECM 59
4.5. Ước lượng mô hình và kết quả 60
Debt percent of GDP
% dư nợ trên tổng sản phẩm quốc nội
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
ECM
Error Components Model
Mô hình hiệu chỉnh sai số
GDP
Gross Domestic product
Tổng sản phẩm quốc nội
GNI
Gross National Income
Tổng thu nhập quốc dân
GNP
Gross National product
Tổng sản lượng quốc gia
ICOR
Incremental Capital - Output Rate
Hệ số sử dụng vốn
IG
Investment Government
Đầu tư công
IMF
International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
L
Labor
Lực lượng lao động
NSNN
Bảng 4.3: Các tiêu chí lựa chọn độ trể của mô hình 61
Bảng 4.4: Ước lượng mô hình ARDL(1,1,1,1,1) biến phụ thuộc GDP 62
Bảng 4.5: Ước lượng các hệ số dài hạn của mô hình
ARDL(1,1,1,1,1) Biến phụ thuộc GDP 63
Bảng 4.6: Kết quả ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số 64
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định nhân quả Granger 65 DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Tăng trưởng và đường PPF trong dài hạn 5
Hình 2.2: Các thành phần của khu vực công theo định nghĩa của IMF 9
Hình 2.3: Đường cong Laffer về nợ 18
Hình 3.1: Vòng luẩn quẩn thâm hụt ngân sách và nợ công 32
Hình 3.2: Nợ công và thâm hụt ngân sách gia đoạn 1985 – 1989 34
Hình 3.3: Thu NSNN, chi NSNN và thâm hụt NSNN 36
Hình 3.4: Nợ công và thâm hụt so với GDP 38
Hình 3.5: Ổn định – Tăng trưởng và Hội nhập an toàn 39
Hình 3.6: Thu – Chi NSNN, Bội chi so với GDP
và tăng trưởng kinh tế 2001-2013 40
Hình 3.7: Nợ công, Bội chi so với GDP và
tăng trưởng kinh tế 2001-2013 41
Hình 3.8: Tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam và các nước
so sánh tính đến năm 2013 42
Hình 3.9: Cấu trúc nợ của Việt Nam (%GDP) tính đến cuối năm 2012 44
Hình 4.1: Kiểm định Cusum và Cusumsq 62
Trang 1
CHƢƠNG I: GIỚI THIỆU
Trang 2
chi ngân sách nhưng tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam vẫn tiếp tục tăng lên trong
khi kinh tế bắt đầu tăng trưởng chậm lại.
Nợ công tăng nhanh cùng với sự xấu đi của các điều kiện kinh tế đang làm hạn
chế các lựa chọn của Chính phủ trong việc đưa nền kinh tế thoát khỏi sự suy giảm hiện
thời. Trong bối cảnh đó việc đánh giá toàn diện thực trạng sự gia tăng trong nợ công
có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia? Cơ chế tác động của nó ra
sao? Những kênh truyền dẫn trung gian nào khiến cho tăng trưởng kinh tế bị tác động
bởi nợ công? Đã có những minh chứng cụ thể nào từ nghiên cứu của các nhà kinh tế
học nổi tiếng trên thế giới làm cơ sở để xác định sự tác động đó? Đồng thời dự báo nợ
công nhằm nhận diện các rủi ro và thách thức trong việc giám sát và quản lý nợ công
trong tương lai là một việc làm hết sức cần thiết.
Để có được các khuyến nghị chính sách khả thi đó thì cần phải khảo sát thực tế
mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. Đây cũng là lý do tác giả mạnh dạng
thực hiện đề tài: NỢ CÔNG VÀ TĂNG TƢỞNG KINH TẾ. NGHIÊN CỨU THỰC
NGHIỆM TẠI VIỆT NAM.
1. 3. Mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu tìm hiểu thực trạng nợ công và phân tích mối
quan hệ tác động giữa nợ công đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Kết quả thực nghiệm có thể dược dùng như những khuyến nghị cho các chính
sách liên quan đến giám sát và quản lý nợ công tại Việt Nam.
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu định lượng
1.5. Đối tƣợng nghiên cứu.
Để đạt mục tiêu nghiên cứu như nêu trên, luận văn hướng đến các đối tượng
nghiên cứu là mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế thông qua các biến
kiểm soát như:
- Đầu tư của khu vực công;
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG
VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 4.1 .LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ.
Tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng một cách bền vững luôn là mục tiêu và khát vọng
của tất cả các quốc gia trong mọi thời đại. Có lẻ một trong những vấn đề được quan
tâm nhiều nhất và dai dẳng nhất trong kinh tế học là tìm hiểu các nhân tố khiến nền
kinh tế tăng trưởng. Có tăng trưởng kinh tế mới có thể tạo tiền đề cho sự phát triển của
đất nước, nâng cao mức sống của người dân một quốc gia.
4.1.1. Khái niệm tăng trƣởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng và quy mô sản lượng
của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời
điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng. Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế
nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Quy mô và tốc độ tăng trưởng là “cặp đôi”
trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế.
Mặt số lượng biểu thị chiều rộng của tăng trưởng, được thể hiện thông qua các chỉ
tiêu đánh giá quy mô và tốc độ tăng trưởng của thu nhập. Mặt chất lượng của tăng
trưởng được thể hiện qua các tiêu chuẩn sau: (1) tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định
trong dài hạn, tránh được những tác động của các cú sốc từ bên ngoài; (2) Tăng trưởng
theo chiều sâu, thể hiện thông qua sự đóng góp cao và không ngừng gia tăng của năng
suất các yếu tố tổng hợp (TFP); (3) Đảm bảo nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế; (4) Tăng trưởng kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo
phát triển môi trường bền vững; (5) Hỗ trợ đổi mới thể chế dân chủ; (6) Đạt mục tiêu
cải thiện phúc lợi xã hội, giảm đói nghèo và nâng cao đời sống của người dân.
Tăng trưởng kinh tế diễn ra khi đường giới hạn khả năng sản xuất của một nước
(PPF) dịch chuyển ra phía ngoài. Một sự gia tăng trong cung dài hạn được minh họa
bằng sự dịch chuyển ra ngoài của đường PPF.
Y
t
là quy mô GDP của nền kinh tế vào năm t
Y
t-1
là quy mô của nền kinh tế năm t-1
y là tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm
Trang 6
4.1.3. Tăng trƣởng kinh tế và các mô hình lý thuyết
Để giải thích nguồn gốc tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế học dùng các mô
hình kinh tế. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả tập trung vào các mô hình sau đây.
4.1.3.1. Mô hình tăng trƣởng kinh tế của J.M.Keynes (1936)
Theo Keynes, để đảm bảo sự cân bằng kinh tế, khắc phục thất nghiệp và khủng
hoảng thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết, mà cần phải có sự can thiệp
của chính phủ vào nền kinh tế để tăng tổng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản
xuất, đầu tư để đảm bảo việc làm và tăng thu nhập.
Keynes cho rằng ngân sách nhà nước là một công cụ hữu hiệu trong việc kích
thích đầu tư tư nhân cũng như tiêu dùng của chính phủ. Ông đi đến kết luận : Chính
phủ phải thực hiện điều tiết bằng các chính sách kinh tế, những chính sách này nhằm
tăng cầu tiêu dùng. Ông cũng cho rằng Chính phủ có vai trò to lớn trong việc sử dụng
những chính sách kinh tế: chính sách thuế, chính sách tiền tệ, lãi suất nhằm thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế. Những chính sách can thiệp của chính phủ theo Ông đề nghị bao
gồm :
- Chính phủ sử dụng ngân sách để kích thích đầu tư (thông qua các đơn đặt
hàng của Chính phủ, trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp).
- Áp dụng nhiều biện pháp để tăng lợi nhuận, giảm lãi suất.
- Tăng khối lượng tiền trong lưu thông, lạm phát có mức độ.
- Coi trọng hệ thống thuế, áp dụng thuế thu nhập lũy tiến để làm cho phân phối
R
γ(1.2)
g = a + αk + βl + γr (1.3)
Trong đó :
g : là tốc độ tăng trưởng GDP
k,l,r : là tốc độ tăng trưởng các yếu tố đầu vào
a : là phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học công nghệ.
Hàm sản xuất Cobb – Douglas cho biết có 4 yếu tố cơ bản tác động đến tăng
trưởng kinh tế và cách thức tác động là khác nhau giữa các yếu tố K,L,R và yếu tố A.
Lý thuyết cũng cho rằng khoa học công nghệ có vai trò quan trọng nhất đối với phát
triển kinh tế. Để tác động vào các yếu tố trên và để phát triển khoa học công nghệ thì
chi tiêu công giữ vai trò định hướng và hỗ trợ về chính sách và tài chính để tạo điều
kiện thuận lợi cho nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học. Lý thuyết này đưa ra một
gợi ý về mặt chính sách: chính phủ phải nhìn nhận vai trò chủ chốt trong nghiên cứu
khoa học cơ bản, do vậy cần thiết dành ra một khoản chi cho nghiên cứu khoa học bên
cạnh các khoản chi quản lý hành chính, chuyển giao và đầu tư.
4.1.3.4. Mô hình tăng trƣởng kinh tế của P.A.Samuelson (1948)
Lý thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và “cú huých từ bên ngoài” của P.A.
Samuelson được xây dựng dựa trên sự đảm bảo của 4 nhân tố: nhân lực, tài nguyên,
vốn, kỹ thuật. Tuy nhiên ở các nước đang phát triển các nhân tố này đều khan hiếm
Trang 8
nên gặp trở ngại lớn trong việc kết hợp giữa chúng, dẫn tới “cái vòng luẩn quẩn” của
sự nghèo khổ. Để tăng trưởng và phát triển kinh tế, cần có “cú huých” từ bên ngoài để
phá vỡ cái vòng luẩn quẩn ấy.
Điều này nghĩa là phải có đầu tư từ nước ngoài vào các nước đang phát triển.
phối hợp chính sách thuế và chính sách chi tiêu công, chính phủ hướng vào thực hiện
chính sách điều tiết và phân phối thu nhập công bằng giữa các đối tượng trong xã hội.
4.2 . LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG
4.2.1 . Khái niệm về nợ công
Có 3 quan điểm về nợ công: theo quan điểm của Việt Nam, của ngân hàng thế
giới (WB) và theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).
- Theo định nghĩa nợ công của Ngân hàng thế giới (WB)
Nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của bốn nhóm chủ thể bao gồm: (1) nợ của
chính phủ trung ương và các bộ, ban, ngành trung ương; (2) nợ của các cấp chính
quyền địa phương; (3) nợ của ngân hàng trung ương và (4) nợ của các thể chế độc lập,
nhưng nguồn vốn hoạt động của nó do ngân sách nhà nước quyết định (trên 50% vốn
thuộc sở hữu nhà nước) và trong trường hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay cho các
thể chế đó.
- Theo định nghĩa nợ công của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (2010), thì nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực
công. Đi kèm với đó là định nghĩa cụ thể về khu vực công, bao gồm khu vực Chính
phủ và khu vực các tổ chức công (Hình 1.2).
Hình 2.2: Các thành phần của khu vực công theo định nghĩa của IMF
- Theo định nghĩa nợ công của Việt Nam
Năm 2009, Quốc hội đã ban hành Luật quản lý nợ công, được xem là một bước
tiến bộ lớn trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề này. Theo Bộ
Trang 10
Luật này thì nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của
chính quyền địa phương.
Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước và vay
nước ngoài được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính
phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền
phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm các
yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác.
- Theo trách nhiệm đối với chủ nợ. Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ
công được phân loại thành nợ công phải trả và nợ công bảo lãnh.
Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địa phương có
nghĩa vụ trả nợ.
Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho người
vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ.
- Theo tính chất ưu đãi của khoản vay. Nợ công được phân loại theo cách này
có ba loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ thương mại
thông thường.
Vay ODA là khoản vay dựa trên tư cách Nhà nước và Chính phủ Việt Nam từ
nhà tài trợ có thể là chính phủ nước ngoài, tổ chức tài trợ song phương, tỏ
chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ có khoản không hoàn lại (thành tố ưu
đãi) ít nhất là 35% (đối với khoản vay có ràng buộc) hoặc 25% (đối với các
khoản vay không ràng buộc).
Vay ưu đãi là khoản vay có điều kiện vay ưu đãi hơn so với vay thương mại
nhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA.
Vay thương mại là khoản vay theo điều kiện thị trường thông qua phát hành
trái phiếu trên các thị trường tài chính.
- Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công
phải trả và nợ công bảo lãnh. Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính
quyền địa phương có nghĩa vụ trả nợ. Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có
trách nhiệm bảo lãnh cho người vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ
sẽ có nghĩa vụ trả nợ.
- Theo cấp quản lý nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công của trung ương
và nợ công của chính quyền địa phương. Nợ công của trung ương là các khoản nợ của
Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh. Nợ công của địa phương là khoản nợ công mà
chính quyền địa phương là bên vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ. Theo quy định
của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 thì những khoản vay nợ của chính quyền địa
phương được coi là nguồn thu ngân sách và được đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ
kinh tế lớn nhất thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản… lại cũng chính là những
con nợ lớn. Nợ công có nhiều tác động tích cực, nhưng cũng có không ít tác động tiêu
cực. Trang 13
- Tác động tích cực chủ yếu của nợ công bao gồm:
Thứ nhất, nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường
nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của
Nhà nước. Muốn phát triển cơ sở hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu
tố quan trọng nhất. Với chính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn
sẽ từng bước được giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực
sản xuất cho nền kinh tế;
Thứ hai, nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân
cư. Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc
Nhà nước vay nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng,
đem lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư;
Thứ ba, nợ công tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài
chính quốc tế. Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại
giao quan trọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia
nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương. Biết tận dụng tốt những
cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích đối tác, đồng thời giữ vững độc lập, chủ
quyền đất nước.
- Bên cạnh những tác động tích cực, nợ công cũng gây ra những tác động tiêu cực:
Nợ công gia tăng sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài
trợ ngoài nước. Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo và thiếu cơ chế giám sát
chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công sẽ dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí
tràn lan. Tình trạng này làm thất thoát các nguồn lực, giảm hiệu quả đầu tư và điều
mà cần phải xem xét nợ một cách toàn diện trong mối liên hệ với các chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô, nhất là tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động tổng hợp, hiệu
quả sử dụng vốn (qua tiêu chí ICOR), tỷ lệ thâm hụt ngân sách, mức tiết kiệm nội địa
và mức đầu tư xã hội… Bên cạnh đó, những tiêu chí như: cơ cấu nợ công, tỷ trọng các
loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian trả nợ… cũng cần được xem xét khi đánh giá bản
chất nợ công, tính bền vững của nợ công. Khi nợ công tăng cao, vượt quá xa giới hạn
được coi là an toàn, nền kinh tế rất dễ bị tổn thương và chịu nhiều sức ép cả bên trong
và bên ngoài. Trang 15
4.3 . Tác động của nợ công đến tăng trƣởng kinh tế
4.3.1 . Lý thuyết và các quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới về mối
quan hệ giữa nợ công đối với tăng trƣởng kinh tế.
4.3.1.1 . Lý thuyết cân bằng của David Ricardo.
Lý thuyết này cho rằng người tiêu dùng hiểu rõ các ràng buộc ngân sách của
chính phủ, do đó việc thay đổi thuế ở bất cứ thời gian nào cũng sẽ không ảnh hưởng
đến mức chi tiêu của họ. Chính phủ có thể gia tăng chi tiêu của mình bằng cách tăng
thuế hoặc phát hành trái phiếu. Khi trái phiếu được mua thì cuối cùng khi đáo hạn nó
phải được hoàn trả cả vốn gốc và lãi bằng cách tăng thuế trong tương lai. Do đó việc
chính phủ tăng thuế hay vay nợ đơn giản là việc lựa chọn đánh thuế ở hiện tại hay
đánh thuế trong tương lai. Khi chính phủ lựa chọn chi tiêu thông qua thâm hụt ngân
sách (vay nợ hoặc giảm thuế), có nghĩa là chính phủ lựa chọn đánh thuế trong tương
lai, người đóng thuế biết được điều này và họ sẽ tiết kiệm trong hiện tại để có thể đáp
ứng gánh nặng thuế cao hơn trong tương lai. Giả sử người trả thuế sẽ tiết kiệm bằng
cách mua trái phiếu của chính phủ thông qua cắt giảm các khoản tiêu dùng trong hiện