Tiểu luận tài chính công QUY MÔ CHÍNH PHỦ, NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THỰC: MỘT PHÂN TÍCH THEO BẢNG - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
8/2013

TIỂU LUẬN:
[ GOVERNMENT SIZE, PUBLIC DEBT
AND REAL ECONOMIC GROWTH: A
PANEL ANALYSIS ]
Nhóm 12:
1. Nghiêm Phúc Hiếu
08.2013
[GOVERNMENT SIZE, PUBLIC DEBT AND REAL ECONOMIC GROWTH: A PANEL ANALYSIS]

| TCDN NGÀY 4 K22 NHÓM 12
3

QUY MÔ CHÍNH PHỦ, NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
THỰC: MỘT PHÂN TÍCH THEO BẢNG
William R. DiPeitro
Đại học Daemen , Amherst, New York, Mỹ, và
Emmanuel Anoruo
Khoa kế toán, tài chính và quản trị kinh tế,
Đại học Coppin State, Baltimore, Maryland, Mỹ
Tóm tắt
Mục đích – Mục đích của nghiên cứu này là để kiểm định ảnh hưởng của quy mô chính
phủ và nợ công đối với tăng trưởng kinh tế thực, với mẫu 175 quốc gia trên thế giới.
Thiết kế/ Phương pháp/ Hướng tiếp cận nghiên cứu – Nghiên cứu sử dụng phương
pháp tác động cố định và tác động ngẫu nhiên để ước lượng mô hình hồi quy bảng.
Kết quả - Các kết quả cho thấy cả quy mô chính phủ lẫn quy mô nợ công chính phủ có
tương quan âm đối với tăng trưởng kinh tể.
Hàm ý thực tiễn – Các kết luận chỉ ra rằng các nhà cầm quyền nên thực hiện cắt giảm các
khoản chi tiêu chính phủ không cần thiết và các khoản nợ công, để thúc đẩy tăng trưởng

Bài viết xây dựng khung lý thuyết dựa trên một số các kết quả hợp lôgic mà bài viết
muốn nhắc đến. Đầu tiên, kết quả cho thấy rằng có một mối tương quan hình chữ U ngược
(hoặc V ngược) (gọi là tương quan Armey) giữa quy mô chính phủ và tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, bài viết bảo vệ quan điểm rằng sự gia tăng thực tế về quy mô của chính phủ trong
suốt thế kỉ trước và trong các thập kỉ gần đây đã thúc đẩy quy mô của chính phủ của hầu
hết các quốc gia vượt qua cả giá trị tối đa của chúng đối với tăng trưởng kinh tế. Nghiên
cứu đưa ra giả thuyết rằng, có một mối tương quan âm giữa tăng trưởng kinh tế và quy mô
của chính phủ. Tương tự như vậy, nghiên cứu cũng giả thuyết rằng có một mối tương quan
âm giữa tăng trưởng kinh tế và quy mô nợ công. Chỉ xét trong trường hợp quy mô chính
phủ, dù tăng trưởng kinh tế và quy mô nợ công thực sự có mối tương quan dạng chữ U
08.2013
[GOVERNMENT SIZE, PUBLIC DEBT AND REAL ECONOMIC GROWTH: A PANEL ANALYSIS]

| TCDN NGÀY 4 K22 NHÓM 12
5

ngược (hoặc V ngược), thì sự tích lũy chồng chất của nợ công, khiến cho các quốc gia đã
đạt tới ngưỡng tối đa của nợ. Với các lý do tương tự, có một mối tương quan âm có thể
tồn tại hiện nay giữa thuế và tăng trưởng kinh tế. Đường cong Laffer có dạng chữ U
ngược (hoặc chữ V ngược) về mối quan hệ giữa quy mô của thuế và tăng trưởng kinh tế,
và ông cũng cho rằng thuế cũng có ngưỡng tối đa của nó. Kết quả là, thêm một lần nữa,
xuất hiện mối tương quan âm giữa tăng trưởng kinh tế và thuế.
Khi vượt ngưỡng tối đa quy mô chính phủ và ngưỡng tối đa nợ công có thể có tương
quan với nhau. Hai trong số nguồn tài chính chủ yếu của chính phủ, bên cạnh tiền in trực
tiếp, đó là thuế và sự phát hành nợ (ví dụ ở đây là trái phiếu). Muốn được nhiều tiền hơn,
chính phủ cần tự tìm các nguồn tài trợ. Nếu cả thuế hoặc nợ vượt quá ngưỡng các ngưỡng
tăng trưởng tối đa, thì sẽ xuất hiện một lý do về sự xuất hiện mối tương quan âm giữa tăng
trưởng kinh tế và quy mô chính phủ. Khi thuế vượt ngưỡng tối đa của nó, thì sau đó sự gia
tăng quy mô chính phủ thông qua thuế làm giảm động lực cho công việc, năng suất lao
động, và sức sáng tạo, dẫn tới tăng trưởng kinh tế thấp. Khi nợ vượt qua giá trị tối đa, việc

dụng bình phương nhỏ nhất với dữ liệu theo năm của Mỹ về quy mô chính phủ và bình
phương quy mô của chính phủ làm các biến phụ thuộc. Theo dự báo dựa trên cơ sở của
đường cong phi tuyến Armey, họ nhận thấy hệ số hồi quy của biến quy mô chính phủ có ý
nghĩa thống kê và mang dấu dương, và hệ số quy mô chính phủ bình phương có ý nghĩa
thống kê và mang dấu âm.
Ghali (1998) sử dụng dữ liệu theo quý từ quý đầu năm 1970 cho đến quý ba năm 1994
đối với 10 nước OECD để kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa quy mô chính phủ và
tăng trưởng kinh tế. Ông cho rằng quy mô chính phủ Granger – dẫn tới tăng trưởng kinh
tế. Ông cũng tìm thấy quy mô chính phủ tác động gián tiếp lên tăng trưởng thông qua đầu
tư và thương mại quốc tế.
Pevcin (2004) dùng dữ liệu của 12 quốc gia Châu âu trong giai đoạn 1950-1960 kiểm
định mối quan hệ giữa quy mô chính phủ và tăng trưởng kinh tế. Pevcin chạy hồi quy
bảng đối với 12 quốc gia, và các hồi quy theo thời gian cho riêng từng quốc gia với 8
trong số 12 nước. Cũng giống với các nghiên cứu khác, ông sử dụng quy mô chính phủ và
bình phương của nó là cơ sở trong các hồi quy tăng trưởng của ông. Kết quả từ hai hồi
quy cả dạng bảng lẫn riêng cho mỗi quốc gia cho thấy sự hiện hữu của các chính phủ có
08.2013
[GOVERNMENT SIZE, PUBLIC DEBT AND REAL ECONOMIC GROWTH: A PANEL ANALYSIS]

| TCDN NGÀY 4 K22 NHÓM 12
7

quy mô quá khổ. Kết quả từ các phương trình riêng cho mỗi quốc gia chỉ ra rằng quy mô
thực tế của chính phủ thực sự lớn hơn so với quy mô tối đa đối với 7 trong số 8 trong mẫu
nghiên cứu.
Cho dù như vậy, nhìn chung, có sự gia tăng quy mô chính phủ trung bình trong giai
đoạn thế kỉ 20 và cho đến nay, thì các nền kinh tế quá độ đại diện cho một nhóm duy nhất
các quốc gia được đặt trong trường hợp đặc biệt đó là quy mô của chính phủ giảm dần.
Gupta và cộng sự ghi nhận xu hướng và sự thay đổi quy mô chính phủ đối với các quốc
gia trong thời kì quá độ. Họ cho rằng xu hướng giảm quy mô chính phủ đối với các quốc

nằm trong khoảng 25%. Trong bảng chi tiết này, tổng chi tiêu chính phủ được sử dụng là
công cụ đo lường quy mô chính phủ. Đây là một phương pháp toàn diện mà nó bao gồm
tất cả các chi phí của các mức độ chính phủ khác nhau. Trong hồi quy thứ hai , họ sử dụng
một bảng gồm các dữ liệu theo năm của 81 quốc gia trong giai đoạn từ 1961-2005. Họ
kiểm ước lượng phương trình hồi quy sử dụng bình phương nhỏ nhất dạng bảng với các
tác động chéo hoặc theo thời kì cố định khi xây dựng phương trình bậc hai mà trong đó nó
bao gồm quy mô chính phủ và bình phương quy mô chính phủ làm biến giải thích. Họ
thấy rằng quy mô chính phủ tối đa (đo lường bởi tỉ lệ phần trăm mức chi tiêu chính phủ so
với GDP) rơi vào khoảng 10,8%.
2. Khung lý thuyết
Mô hình bao gồm một phương trình đi kèm với các dấu kì vọng của hai trong số các
đạo hàm riêng của nó. Phương trình với đạo hàm riêng được cho dưới đây, gọi đó là
phương trình (1):
R = f(S, L, D), δR / δS < 0, δR / δD < 0 và δR/ δL > 0 (1)
Trong phương trình (1), R đo lường tăng trưởng kinh tế thực, S dùng để đo lường quy mô
của chính phủ, L dùng để đo lường quy mô của phát triển kinh tế, và D dùng để đo lường
mức độ của nợ công. Theo đó, mô hình đơn giản chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc
vào quy mô chính phủ, quy mô nợ công và mức độ phát triển kinh tế.
Đạo hàm riêng của hai biến quy mô chính phủ và quy mô nợ công với tăng trưởng
được kì vọng mang giá trị âm. Nguyên nhân bao gồm có hai lý do chính. Thứ nhất là với
mức tối đa quy mô chính phủ với mức tối đa nợ chính phủ, khi vượt quá ngưỡng này quy
mô chính phủ và quy mô nợ chính phủ có tác động nghịch đối với nền kinh tế. Thứ hai là
08.2013
[GOVERNMENT SIZE, PUBLIC DEBT AND REAL ECONOMIC GROWTH: A PANEL ANALYSIS]

| TCDN NGÀY 4 K22 NHÓM 12
9

có một khuynh hướng phổ biến đối với các chính phủ ngày nay khi vượt quá giới hạn tối
đa quy mô chính phủ và giới hạn nợ chính phủ tối đa. Các chính trị gia được nhìn nhận

L
it
+ β
2
D
it
+ α
i
+ δ
i
+ μ
it
(3)
Trong đó R đặc trưng cho tốc độ tăng trưởng kinh tế; S là giá trị đo lường quy mô chính
phủ, L là giá trị đo lường quy mô phát triển kinh tế, và D là giá trị đo lường quy mô nợ
công, và μ là phần sai số. Trong phương trình (3), α
i
ghi nhận các tác động riêng đối với
từng quốc gia không quan sát được mà được cho rằng là cố định theo thời gian. Các tác
động theo thời gian đại diện bởi δ
i
nhằm tính đến các cú sốc chung đối với tất cả các quốc
gia trong mẫu nghiên cứu.
Từ phương trình (2) chúng tôi xây dựng mô hình tác động ngẫu nhiên theo sau:
08.2013
[GOVERNMENT SIZE, PUBLIC DEBT AND REAL ECONOMIC GROWTH: A PANEL ANALYSIS]

| TCDN NGÀY 4 K22 NHÓM 12
10


phần sai số,
i
đại diện cho tác động ngẫu nhiên các nước trong khi là trung bình của các
hệ số. Các hệ số độ dốc khác biệt giữa các quốc gia trong mô hình tác động ngẫu nhiên.
Hầu hết các nghiên cứu đều ứng dụng quy trình OLS chuẩn để kiểm định ảnh hưởng
của quy mô chính phủ và nợ công đối với tăng trưởng kinh tế. Bằng việc sử dụng các kĩ
thuật OLS, các nghiên cứu này giả định rằng các biến bỏ sót không phụ thuộc vào biến
giải thích và không phân bố đồng nhất với nhau. Tuy nhiên giả định này có thể gây ra các
kết luận lệch lạc nếu với các đặc trưng cụ thể từng quốc gia, ví dụ như chiến tranh, sự thay
đổi chính sách; hệ thống chính trị và chính sách thuế mà chúng có thể tác động đến tăng
trưởng kinh tế mà lại không được xem xét đến. Hsiao (1996) cho rằng quy trình OLS ước
lượng bị lệch và không bền, đặc biệt khi biến bỏ sót đặc trưng từng quốc gia có mối tương
quan với biến giải thích.
Việc sử dụng dữ liệu bảng cung cấp một cách thức thông qua đặc điểm cụ thể từng
quốc gia (kể cả quan sát hoặc không quan sát được) có thể được đưa vào trong các nghiên
cứu giữa các quốc gia để tránh gây ra kết quả bị lệch xuất phát từ sự thiếu các biến biến
quan. Nghiên cứu này sử dụng cả hai mô hình tác động cố định và tác động ngẫu nhiên.
Sử dụng mô hình tác động cố định ước lượng bền và không bị lệch khi các biến bị bỏ sót
riêng cho từng quốc gia có tương quan với biến giải thích. Tuy nhiên, mô hình tác động
ngẫu nhiên thì lại thích hợp khi xem xét mẫu hơn là tổng thể. Quy mô bảng của chúng tôi
(175 quốc gia) đủ lớn để đảm bảo ứng dụng cả hai phương pháp. Tuy vậy, quy trình kiểm
định Hausman (1978) lại chọn mô hình thích hợp nhất trong hai mô hình, quy trình kiểm
định Hausma kiểm định giả thiết không bằng cách cho trung bình có điều kiện của phần
dư nhiễu bằng không. Việc sử dụng hướng tiếp cận phương pháp tác động cố định được
ưu tiên hơn mô hình tác động ngẫu nhiên nếu giả thiết không bị bác bỏ. Tuy nhiên, ngược
lại phương pháp tác động ngẫu nhiên được ưu tiên so với phương pháp tác động cố định
nếu giả thiết không chấp nhận.
08.2013
[GOVERNMENT SIZE, PUBLIC DEBT AND REAL ECONOMIC GROWTH: A PANEL ANALYSIS]


2
-test (cross-section) cho các tác động
chéo, và tổng số các quan sát vừa theo quốc gia và vừa theo thời gian (observations). Ba
cột còn lại mỗi cái thể hiện kết quả chạy hồi quy. Để dễ quan sát, ba phương trình hồi qui
08.2013
[GOVERNMENT SIZE, PUBLIC DEBT AND REAL ECONOMIC GROWTH: A PANEL ANALYSIS]

| TCDN NGÀY 4 K22 NHÓM 12
12

được đánh số ở trên dòng đầu tiên. Con số đầu mỗi ô trong phần chính của bảng là các hệ
số ước lượng cho một biến trong phương trình. Các con số trong ngoặc đơn đại diện cho
thông kê t-statistic đối với các hệ số hồi quy. Nếu như chỉ có một dấu hoa thị thì biến có ý
nghĩa tại mức ý nghĩa 10% hoặc thấp hơn trong phương trình. Nếu có hai dấu hoa thị thì
biến có ý nghĩa tại mức ý nghĩa 5% hoặc thấp hơn.

Bảng I: Kết quả ước lượng mô hình tác động cố định (Biến phụ thuộc: Tăng trưởng kinh
tế thực)
Phương trình dầu tiên ở trong bảng, phương trình (1), chỉ là hồi quy giữa tăng trưởng
kinh tế thực đối với quy mô chính phủ được tính bằng tỉ lệ phần trăm chi tiêu chính phủ
trên GDP (S). Phương trình thứ hai điều chỉnh thêm mức độ phát triển kinh tế bằng cách
thêm lôgarít của GDP thực trên đầu người theo 2000 đô la Mỹ (L). Phương trình thứ ba
thêm sự mắc nợ chính phủ, được tính bằng tỉ lệ phần trăm nợ chính phủ trên GDP (D). Có
08.2013
[GOVERNMENT SIZE, PUBLIC DEBT AND REAL ECONOMIC GROWTH: A PANEL ANALYSIS]

| TCDN NGÀY 4 K22 NHÓM 12
13

điều cần ghi nhận rằng bảng không cân bằng bất ổn khi có nhiều giá trị bị thiếu sót. Khi


08.2013
[GOVERNMENT SIZE, PUBLIC DEBT AND REAL ECONOMIC GROWTH: A PANEL ANALYSIS]

| TCDN NGÀY 4 K22 NHÓM 12
14

Bảng II: Kết quả ước lượng mô hình tác động ngẫu nhiên (Biến phụ thuộc: Tăng trưởng
kinh tế thực)
Để tiện so sánh, chúng tôi cũng thể hiện trong bảng II các kết quả của mô hình tác
động ngẫu nhiên. Các kết quả này cũng tương đồng với các kết quả ở mô hình tác động cố
định được thể hiện trong bảng I. Tất cả các biến độc lập đều có ý nghĩa ở mức 10% hoặc
thấp hơn trong mỗi phương trình. Tóm lại, các kết quả ở cả hai mô hình tác động cố định
lẫn tác động ngẫu nhiên đều hỗ trợ cho giả thiết cả quy mô chính phủ và và quy mô nợ
chính phủ có mối tương quan âm đối với tăng trưởng kinh tế. Các hệ số hồi quy tỉ lệ phần
trăm chi tiêu chính phủ trên GDP (S) và tỉ lệ phần trăm nợ chính phủ (D) đều mang dấu
âm trong mỗi phương trình chúng xuất hiện.
5. Kết luận và hàm ý
Nghiên cứu này sử dụng hai mô hình tác động cố định và tác động ngẫu nhiên để kiểm
định ảnh hưởng của quy mô chính phủ và nợ công đới với tăng trưởng kinh tế thực với
một mẫu gồm 175 quốc gia. Các kết quả từ hai mô hình hỗ trợ cho giả thiết rằng quy mô
chính phủ có tương quan âm đối với tăng trưởng kinh tế thực. Cho dù chỉ hồi quy tỉ lệ
phần trăm chi tiêu chính phủ với GDP, hay là điều chỉnh thêm mức độ phát triển kinh tế,
hay điều chỉnh thêm cả mức độ phát triển kinh tế và quy mô nợ chính phủ thì biến quy mô
08.2013
[GOVERNMENT SIZE, PUBLIC DEBT AND REAL ECONOMIC GROWTH: A PANEL ANALYSIS]

| TCDN NGÀY 4 K22 NHÓM 12
15


| TCDN NGÀY 4 K22 NHÓM 12
16

hội được trải ra với một loạt các hệ tư tưởng đối lập nhau mà giá trị vận dụng cũng khác
nhau. Cho dù một quy mô chính phủ lớn hơn có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế, cũng có
khả năng rằng nó có thể đem tới công bằng hơn, hay là giảm tham nhũng hơn, hay là kinh
tế và chính trị ổn định hơn. Xét mặt ngược lại khi quy mô chính phủ lớn hơn, định hướng
hàng đầu của tất cả các chính phủ (trong quá khứ lẫn hiện tại) là luôn luôn mở rộng quyền
lực, bên cạnh tác động tăng trưởng tiêu cực của nó, quy mô chính phủ lớn hơn hầu như
chắc chắn kèm theo việc giảm tự do cá nhân và sự mở rộng giả tạo các nhu cầu và sự phụ
thuộc ngày càng nhiều hơn của người dân đối với chính phủ.
Nghiên cứu này nói rõ rằng có một hệ quả tăng trưởng nghịch khi quy mô chính phủ
ngày càng lớn hơn. Vì vậy, tăng trưởng kinh tế là một nhân tố cần được căn nhắc khi
quyết định một quy mô chính phủ tối ưu. Tuy vậy, nên nhớ rằng không chỉ có mỗi nhân tố
đó mà thôi. 08.2013
[GOVERNMENT SIZE, PUBLIC DEBT AND REAL ECONOMIC GROWTH: A PANEL ANALYSIS]

| TCDN NGÀY 4 K22 NHÓM 12

18

World Bank (2009), “World development indicators online”, available at: http://ddp-
ext.worldbank.org.ezp.lib.rochester.edu/ext/DDPQQ/member.do?method¼getMembers&
userid¼1&queryId¼6 (accessed June 13, 2009).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status