quy mô của chính phủ, nợ công và tăng trưởng kinh tế thực một phân tích bằng dữ liệu bảng - Pdf 13

Quy mô của Chính phủ, Nợ công và Tăng trưởng kinh tế thực:
Một phân tích bằng dữ liệu bảng
2010

Nhóm 12 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 – Khóa 22
1

TÓM TẮT
Mục đích: Bài nghiên cứu này xem xét tác động của quy mô của Chính phủ và
nợ công đến tăng trưởng kinh tế thực thông qua phân tích bằng dữ liệu bảng của 175
nước trên thế giới.
Phương pháp: Bài nghiên cứu này sử dụng hồi quy theo 02 phương pháp
fixed-effect (hiệu ứng cố định) và random-effect (hiệu ứng ngẫu nhiên).
Phát hiện: Kết quả cho thấy cả 02 yếu tố quy mô của Chính phủ và sự gia tăng
mức nợ công có tác động ngược chiều (tiêu cực) đến tăng trưởng kinh tế.
Ứng dụng thực tế: Điều này cho thấy các nhà chức trách phải thực hiện các
biện pháp cần thiết để cắt giảm chi tiêu Chính phủ quá mức và nợ công nhằm thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế.
Giá trị: Sự đóng góp của bài nghiên cứu này là bằng cách sử dụng mô hình hồi
quy dữ liệu bảng thông qua 02 phương pháp fixed-effect (hiệu ứng cố định) và
random-effect (hiệu ứng ngẫu nhiên) vào 175 nước trên thế giới, bài nghiên cứu cho
thấy mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế thực với quy mô của Chính phủ và nợ công.

LỜI GIỚI THIỆU
Trong thế kỷ trước, quy mô của Chính phủ xu hướng ngày càng gia tăng. Trong
những năm gần đây, quy mô nợ công cũng tăng lên. Nợ công ngày càng trở thành một
mối quan tâm lớn đối với các quốc gia trên thế giới, cuộc tranh luận về quy mô nợ
Chính phủ phù hợp bắt đầu xuất hiện. Hy Lạp là minh chứng hùng hồn khi nước này
đang đứng trên bờ vực vỡ nợ và sự lo lắng của các nền kinh tế lớn liên quan đến nợ
công. Hoa Kỳ, một chủ nợ lớn nhất thế giới, hiện cũng đang ngập trong nợ nần. Gánh
nặng nợ của Chính phủ Hoa Kỳ có thể cản trở sự phát triển kinh tế của nước này, và

kinh tế. Định đề Đường cong Laffer là một chữ U ngược (hoặc chữ V ngược) thể hiện
mối quan hệ giữa quy mô thuế) và tăng trưởng kinh tế, nhưng tác giả cũng cho rằng
thuế đã vượt quy mô tối ưu. Kết quả là, một lần nữa, lại làm xuất một mối quan hệ
nghịch biến giữa tăng trưởng kinh tế và quy mô thuế.
Có nghĩa là việc mở rộng quy mô của Chính phủ quá mức và việc nợ công vượt
quá ngưỡng vay nợ an toàn là có tương quan với nhau. Bên cạnh việc trực tiếp in tiền,
02 trong những nguồn chính của tài chính công là thuế và phát hành nợ (tức là trái
phiếu). Để có nguồn tài chính mạnh hơn, Chính phủ cần có nguồn tài trợ từ chính
nước đó. Nếu xảy ra trường hợp một trong hai nguồn tài chính trên gia tăng quá mức
(tức là gia tăng thuế hoặc gia tăng nợ) thì mỗi nguồn tài chính là một nguyên nhân
tiềm ẩn gây ra mối quan hệ nghịch biến giữa tăng trưởng kinh tế và quy mô của Chính
phủ. Khi thuế vượt quá mức tối ưu thì quy mô của Chính phủ tăng lên tuy nhiên lại
làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh, hoạt động sản xuất, sáng tạo và kết quả là
tăng trưởng kinh tế thấp. Khi nợ vượt quá ngưỡng vay nợ an toàn, thì việc tăng quy
mô của Chính phủ thông qua vay nợ sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế do chèn lấn khu
vực công sang khu vực tư.
Nhìn chung, các chức năng tích cực của Chính phủ ảnh hưởng đến tăng trưởng
kinh tế, chẳng hạn như việc cung cấp hàng hóa công, xây dựng cơ sở hạ tầng, an ninh
quốc phòng, và các quy định của pháp luật, một khi quy mô của Chính phủ vượt quá
một ngưỡng nhất định thì việc cung cấp tràn ngập là yếu tố gây tăng trưởng âm. Một
số các yếu tố tăng trưởng tiêu cực tiềm ẩn bao gồm - chi phí cơ hội cao hơn từ việc
phân bổ lại các nguồn lực từ khu vực tư nhân cho khu vực công khi khu vực này thu
hút các nguồn lực từ các dự án đầu tư với lợi nhuận ngày càng cao, hậu quả của các
sáng kiến và sự đổi mới là do quá phụ thuộc vào Chính phủ và một khi thói quen phụ
thuộc ngày càng lớn thì sự vô hiệu ngày càng tăng do sự bóp méo các chính sách, mức
hiệu quả sử dụng vốn thấp, gia tăng việc khai thác thông qua hoạt động tập thể và sự
phát triển của bộ máy công chức không cần thiết và không hiệu quả).
Bài nghiên cứu này gồm 5 phần. Phần đầu tiên chỉ ra mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và quy mô của Chính phủ. Phần thứ hai trình bày một mô hình lý
thuyết chính thức. Phần thứ ba thảo luận về các nguồn dữ liệu của các biến khác nhau

Pevcin (2004) sử dụng dữ liệu cho 12 quốc gia Đông Âu trong giai đoạn 1950-
1996 để xem xét mối quan hệ giữa quy mô của Chính phủ và tăng trưởng kinh tế.
Pevcin chạy mô hình hồi quy dữ liệu bảng cho tất cả 12 quốc gia, và hồi quy chuỗi
thời gian lần lượt 8 trong số 12 quốc gia. Tương tự các nghiên cứu khác, ông sử dụng
dữ liệu quy mô của Chính phủ và bình phương của nó như các đối số trong hồi quy về
tăng trưởng. Kết quả từ dữ liệu bảng và hồi quy của từng quốc gia cho thấy sự xuất
hiện của tăng quy mô của Chính phủ quá mức. Kết quả từ các phương trình hồi quy
của từng quốc gia cho thấy, bảy trong số tám quốc gia được chọn mẫu có quy mô của
Chính phủ thực tế lớn hơn rất nhiều so với mức quy mô tối ưu.Mặc dù, nhìn chung, đã
có sự gia tăng về số liệu trung bình quy mô của Chính phủ trong suốt thời gian từ thế
kỷ XX cho đến nay, các nền kinh tế chuyển đổi lại đại diện cho một nhóm duy nhất
các nước thuộc tập hợp đặc biệt có quy mô của Chính phủ giảm xuống. Gupta và công
sự (Guptaet al, 2003.) đã đưa ra các xu hướng và sự thay đổi quy mô của Chính phủ
đối với các nền kinh tế chuyển đổi. Họ cho rằng, việc giảm quy mô của Chính phủ
trong các nền kinh tế chuyển đổi là không phải do mục tiêu của chính sách, mà đúng
hơn, là do các nước không có khả năng tài chính để đạt được quy mô lớn hơn.
Chen và Lee (2005), ngoài việc đưa ra một tài liệu nghiên cứu xuất sắc về mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và quy mô của Chính phủ, đã sử dụng mô hình hồi
quy ngưỡng trên dữ liệu hàng quý của Đài Loan từ quý I năm 1979 đến quý III năm
2003 để kiểm tra sự hiện diện của một ngưỡng quy mô của Chính phủ mà tại đó nó
không còn tác động tích cực, mà tác động tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế. Họ sử dụng
ba thước đo quy mô của Chính phủ khác nhau trong mô hình hồi quy và trên cơ sở
những thông số kỹ thuật từ mô hình lý thuyết đã chú ý đến những ngoại tác tích cực
trong sản xuất từ khu vực công đến khu vực tư. Nhìn chung, họ tìm thấy bằng chứng
về sự tồn tại của một ngưỡng quy mô của Chính phủ, chứng minh đường cong Avery
hình chữ U ngược thể hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và quy mô của Chính
phủ, dưới ngưỡng này quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và quy mô của Chính phủ là
cùng chiều, trên ngưỡng này quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và quy mô của Chính
phủ là ngược chiều.
Về lý thuyết, trên quan điểm đường cong Armey (hình chữ U ngược) thể hiện


Trong phương trình (1), R là tốc độ tăng trưởng kinh tế thực, S là thước đo quy
mô của Chính phủ, L là thước đo mức độ phát triển kinh tế, và D là thước đo quy mô
nợ công. Được diễn giải là, mô hình chỉ đơn giản nói rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế
phụ thuộc vào quy mô của Chính phủ, nợ công, và mức độ phát triển kinh tế.
Đạo hàm riêng của quy mô của Chính phủ và quy mô nợ công được dự đoán
mang dấu âm. Lý do gồm hai yếu tố. Đầu tiên là quy mô tối ưu của Chính phủ và quy
mô tối ưu của nợ Chính phủ cách xa quy mô của Chính phủ và quy mô của nợ Chính
phủ làm ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Thứ hai là xu hướng mạnh mẽ của các Chính
phủ hiện đại đã vượt quá quy mô tối ưu của Chính phủ và quy mô tối ưu của nợ công.
Các chính trị gia nhận thấy khi họ chi tiêu một cách hào phóng vào việc bầu cử và đẩy
việc thanh toán cho thế hệ tương lai thông qua các khoản nợ tài chính là một sự thuận
lợi cho sự nghiệp của họ. Việc tăng trưởng âm từ chính sách như vậy có thể ít gây ra
những quan ngại trong công chúng, hay các tác động của việc tăng trưởng âm chưa
được công chúng nhìn nhận, hoặc vì những lợi ích hiện tại khu vực công mang lại mà
công chúng không nhận ra điều đó. Ngoài ra, với một chế độ xã hội phức tạp, rất khó
để định lượng được những yếu tố có khả năng gây ra sự thay đổi trong phát triển.
2A đặc điểm kỹ thuật kinh tế lượng.
Nghiên cứu này sử dụng cả hai mô hình fixed-effect và random-effect để ước
lượng phương trình (1) Các mô hình được đưa ra bởi các biểu thức sau đây:

Quy mô của Chính phủ, Nợ công và Tăng trưởng kinh tế thực:
Một phân tích bằng dữ liệu bảng
2010

Nhóm 12 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 – Khóa 22
5

Trong đó Y là biến phụ thuộc (tăng trưởng kinh tế thực), x đại diện cho một vector
của các biến giải thích (trong trường hợp này là quy mô của Chính phủ, phát triển kinh

có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế nhưng không được xem xét. Hsiao (1996)
lập luận rằng phương pháp OLS đưa ra những kết quả ước lượng không phù hợp, đặc
biệt là khi các biến các quốc gia đặc biệt bị bỏ qua được tương quan với các biến giải
thích.
Cách tiếp cận bảng dữ liệu cung cấp một giải pháp mà qua đó các quốc gia đặc biệt
(cho dù quan sát hoặc không quan sát được) có thể được đưa vào nghiên cứu xuyên
quốc gia để tránh những thành kiến do các thiếu sót của các biến có liên quan. Bài
nghiên cứu này áp dụng cả mô hình fixed-effect và random-effect. Mô hình fixed-
effect mang lại ước tính khách quan và phù hợp khi các biến quốc gia đặc biệt bị bỏ
qua được tương quan với các biến giải thích. Tuy nhiên, mô hình random-effect sẽ
thích hợp khi nhiều hơn một mẫu dân số được xem xét. Kích thước bảng dữ liệu (175
quốc gia) đủ lớn để đảm bảo việc áp dụng cả hai phương pháp. Tuy nhiên, phương
pháp kiểm định Hausman (1978) được thực hiện để lựa chọn mô hình thích hợp nhất.
Hausman kiểm định giả thuyết H
0
: trung bình có điều kiện của các số dư xáo trộn là 0.
Các mô hình fixed-effect sẽ phù hợp hơn mô hình random-effect nếu giả thuyết H
0
bị
từ chối. Tuy nhiên, mô hình random-effectsẽ phù hợp hơn mô hình fixed-effect nếu
giả thuyết H
0
được chấp nhận.
Quy mô của Chính phủ, Nợ công và Tăng trưởng kinh tế thực:
Một phân tích bằng dữ liệu bảng
2010

Nhóm 12 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 – Khóa 22
6


về chất lượng của mô hình), kiểm định Hausman, số lượng các quốc gia trong nguồn
dữ liệu, X
2
đại diện cho tác động chéo, và tổng số quan sát bao gồm các quốc gia và
theo thời gian (quan sát). Ba cột phía sau thống nhất với cột đầu tiên cho từng khoản
mục với kết quả hồi quy riêng biệt. Nhằm dễ nhận biết, ba phương trình hồi quy được
đánh số thứ tự tại dòng đầu tiên. Số đầu tiên tại những ô trong những phần chính của
bảng thể hiện hệ số ước tính của các biến số trong phương trình. Những số trong dấu
ngoặc đơn thể hiện kiểm định-t đối với các hệ số hồi quy. Nếu xuất hiện *, ** ở mỗi
kiểm định, hệ số có giá trị với mức ý nghĩa lần lượt là 10%, 5% hoặc lớn hơn trong
phương trình. Bảng 1: Kết quả ước lượng bằng mô hình Fixed-effect
(Biến phụ thuộc: Tăng trưởng kinh tế thực)
Quy mô của Chính phủ, Nợ công và Tăng trưởng kinh tế thực:
Một phân tích bằng dữ liệu bảng
2010

Nhóm 12 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 – Khóa 22
7 Phương trình đầu tiên (1) đề cập trong bảng là hồi quy tăng trưởng kinh tế thực
chỉ được đo lường dựa trên quy mô Chính phủ, tỷ lệ phần trăm của chi tiêu Chính
phủ/GDP (S). Phương trình thứ hai (2) điều chỉnh mức độ tăng trưởng kinh tế bằng
việc thêm vào logarit của thu nhập bình quân đầu người thực theo đôla Mỹ năm 2000
(L). Phương trình thứ ba (3) thêm việc đo lường công nợ của Chính phủ, tỷ lệ phần
trăm của công nợ/GDP (D). Cần lưu ý rằng dữ liệu không được cân bằng và có nhiều
giá trị bị bỏ qua. Vì vậy cần giảm số lượng các quốc gia và số quan sát nhằm sử dụng

Nhóm 12 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 – Khóa 22
8 Bảng 2: Kết quả ước lượng bằng mô hình Random-effect
(Biến phụ thuộc: Tăng trưởng kinh tế thực)

Nhằm mục đích so sánh, tác giả đã trình bày kết quả của mô hình tác động
ngẫu nhiên trong bảng 2. Kết quả thu được cũng tương tự như mô hình tác động cố
định được trình bày ở bảng 1. Tất cả các biến động lập có giá trị thống kê ở mức ý
nghĩa 10% hay lớn hơn trong các phương trình mà chúng xuất hiện. Kết quả từ cả mô
hình tác động cố định và ngẫu nhiên đều ủng hộ giả thuyết rằng cả quy mô của Chính
phủ và nơ công có tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế. Hệ số hồi quy của tỷ
lệ phần trăm chi tiêu Chính phủ/GDP (S) và tỷ lệ phần trăm nợ công/GDP (D) âm
trong những phương trình mà nó xuất hiện.

5. KẾT LUẬN VÀ Ý NGHĨA
Bằng cách sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng thông qua 02 phương pháp
fixed-effect (hiệu ứng cố định) và random-effect (hiệu ứng ngẫu nhiên) vào 175 nước
trên thế giới, bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế thực với
quy mô Chính phủ và nợ công. Kết quả từ việc sử dụng mô hình hiệu ứng cố định và
mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên cho thấy quy mô của Chính phủ tác động ngược chiều
lên tăng trưởng kinh tế thực. Cho dù, tỷ lệ phần trăm của chi tiêu Chính phủ so với
GDP giảm, hoặc được điều chỉnh theo mức độ phát triển đất nước, hoặc điều chỉnh cả
02 yếu tố tăng trưởng kinh tế và quy mô của nợ Chính phủ, thì theo kết quả mô hồi
quy dữ liệu bảng, biến quy mô Chính phủ tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
thực.
Bên cạnh đó, phân tích bằng dữ liệu bảng của bài nghiên cứu cũng là phù hợp
trong trường hợp nợ công tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế. Bất kể là sử
dụng mô hình nào, tỷ lệ nợ Chính phủ được tìm thấy đều có tác động ngược chiều đến

trọng lượng khác nhau. Mặc dù quy mô của Chính phủ lớn hơn có thể làm giảm tăng
trưởng kinh tế, nhưng nó cũng có thể dẫn đến sự bình đẳng hơn, hoặc để giảm tham
nhũng hoặc tăng sự ổn định chính trị và kinh tế. Về mặt tiêu cực của sổ sách liên quan
đến quy mô của Chính phủ lớn hơn, là định hướng chính của tất cả các Chính phủ (cả
ở hiện tại và lịch sử), luôn luôn là phần mở rộng quyền lực của mình, ngoài tác dụng
tăng trưởng âm của nó quy mô của Chính phủ lớn hơn là gần như chắc chắn có liên
quan với giảm trong tự do cá nhân và mở rộng nhân tạo cho nhu cầu lớn hơn và sự
phụ thuộc của người dân vào Chính phủ.
Nghiên cứu này chỉ ra rằng việc gia tăng quy mô của Chính phủ tác động
ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, tăng trưởng kinh tế là một yếu tố cần
được xem xét trong việc quyết định quy mô tối ưu Chính phủ. Tuy nhiên, cần lưu ý
rằng nó không phải là yếu tố duy nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status