Đ tài 4 Nhóm 6
Trang 1
Tiểu luận
ĐẦU TƯ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Đ tài 4 Nhóm 6
Trang 2
Những năm sau chiến tranh thế giới thứ 2, những bài báo đều nói về sự thiếu thốn
và nhược điểm trong dịch vụ cơ bản của thành phố. Hệ thống giáo dục cũ kỹ và đông
đúc. Lực lượng cảnh sát thiếu thốn và không được trả lương đầy đủ, khu công viên vui
chơi thì không đủ để đáp ứng. Những con đường và khu đất trống thì dơ bẩn, và nhân
viên vệ sinh thì không được trang bị đầy đủ và cần thêm người. Hệ thống giao thông thì
đông đúc, độc hại, và dơ… “Cuộc thảo luận về sự thiếu thốn hàng hóa công với sự gia
tăng phong phú trong hàng hóa tư nhân.”J. K. Galbraith (1958), p. 253
Những tranh luận về thành quả của thuyết cân bằng xã hội của John Kenneth
Galbraith trong những cuối thập niên 1950 và đầu 1960, giới kinh tế học đã bỏ qua sự
cảnh báo từ Galbraith về hiểm họa từ sự sao lãng trong cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, David
Aschauer đã khơi gợi sự quan tâm về hiệu quả của chi đầu tư công bằng việc chỉ ra
so với Aschauer. Hulten(1990) bình luận về những phát hiện của Munnell , nhận xét
những phát hiện đó phù hợp với những nghiên cứu cũng sử dụng dữ liệu bang để phân
tích, nhưng những phát hiện này có sự khác biệt rõ rệt về kết quả so với những nghiên
cứu vào cùng thời gian đó (khoảng thời gian nghiên cứu).
CBO (1991), tóm tắt kết quả của các nghiên cứu lợi ích – chi phí, nhận thấy có ít
sự hỗ trợ cho quan điểm rằng sự gia tăng toàn diện vốn công (public capital programs) có
tác động rõ rệt với sản lượng kinh tế. Thay vào đó, họ kết luận “ phân tích lợi ích – chi
phí vẽ hình ảnh nhất quán tác động giữa duy trì cơ sở hạ tầng hiện tại với mở rộng năng
lực cho đường cao tốc tắc nghẽn, giao thông đường băng, kiểm soát không lưu tại các sân
bay lớn.
Thực vậy, có vẻ rõ ràng với cách tiếp cận là chi đầu tư chính phủ không chỉ chi
đầu tư vào cơ sở vật chất để kích thích tăng trưởng kinh tế. Thay vào đó, bất kỳ dự án nào
giữ vững thành quả của nó và chống lại những phân tích lợi ích – chi phí. Tuy nhiên, vẫn
có sự quan tâm đến loại chi tiêu đầu tư công có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Loại
Đ tài 4 Nhóm 6
Trang 4
nào quan trọng được tách ra, các dự án đề xuất thuộc loại đó nên được ưu tiên trong việc
thiết lập mục tiêu ngân sách chính phủ.
Loại chi tiêu cơ sở hạ tầng chính phủ đánh giá bởi Aschauer và Munnell và được
xem xét bởi CBO đưa vào danh mục đầu tư vốn vật chất, nhưng chính phủ cũng đầu tư
vào con người. Tiếp theo là loại đầu tư đem lại vốn con người vì nó cải thiện kỹ năng làm
việc của họ.
Bài viết này nghiên cứu ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế do khoản đầu tư chính
phủ vào vốn vật chất và vốn con người, được chú ý nhiều hơn là sự tác động trở lại của
đầu tư vào vốn con người. Aschauer, Munnell và những người khác đã dùng phương
pháp hàm sản xuất tổng thể để định lượng tác động của chi tiêu chính phủ. Tuy có
phương pháp khác cũng làm tốt trong việc định giá tác động của chi tiêu chính phủ với
vốn vật chất nhưng nó thì không thích hợp với vốn con người.
Đ tài 4 Nhóm 6
Trang 6
1. SỐ LIỆU VỀ CHI TIÊU CHÍNH PHỦ THEO TỪNG KHOẢN MỤC
Bộ Thương mại công bố số liệu hàng năm về tổng mức chi tiêu của chính phủ theo
từng khoản mục. các khoản mục gồm( 1) các khoản chi hành pháp Trung Ương, cơ quan
lập pháp, và các hoạt động tư pháp khác (2) các vấn đề quan hệ quốc tế (3) chi cho khoa
học vũ trụ (4) chi quốc phòng (5) chi an ninh (6) giáo dục (7) y tế (8) hỗ trợ thu nhập, an
sinh xã hội và phúc lợi (9) chi dịch vụ và chế độ trợ cấp người hưởng chế độ chính sách
(10) nhà ở và các hoạt động cộng đồng (11) hoạt động giải trí và văn hóa (12) năng lượng
(13) nông nghiệp (14) nguồn tài nguyên thiên nhiên (15) giao thông vận tải (16) dịch vụ
bưu chính (17) phát triển kinh tế, quy định, và dịch vụ (18) đào tạo lao động và dịch vụ
(19) hoạt động thương mại (20) lãi ròng thanh toán (21) các khoản chi khác.
Khi đầu tư công hiểu theo một cách rộng hơn, nó bao gồm cả vốn con người và
vốn vật chất thì một vài khoản mục trong 21 khoản mục ở trên có thể được phân vào đầu
tư công. Những ví dụ thảo luận dưới đây, bao gồm các khoản mục chi tiêu của chính phủ
đối với khoa học vũ trụ, quốc phòng, an ninh, y tế, hỗ trợ thu nhập, trợ cấp cho người
hưởng chế độ chính sách, nhà ở, nông nghiệp, giao thông vận tải, phát triển kinh tế, đào
tạo lao động, và các hoạt động thương mại. Khi chính phủ chi tiêu cho khoa học vũ trụ và
quốc phòng có khả năng dẫn tới sự cải tiến/đổi mới hữu ích cho sản xuất tư nhân. Ngoài
ra, khi chính phủ chi tiêu nhiều cho khoa học vũ trụ và quốc phòng cũng làm cho hoạt
đào tạo lao động có thể tăng cường nguồn nhân lực bằng cách cải thiện các kĩ năng làm
việc của những người tham gia chương trình đào tạo. Các hoạt động thương mại của
chính phủ làm tăng GDP và tạo ra kinh nghiệm việc làm cho lực lượng lao động.
Từ việc cho rằng có rất nhiều cách mà chi tiêu của chính phủ ảnh hưởng đến nền
kinh tế tư nhân, bài nghiên cứu này sẽ bắt đầu bằng việc đánh giá tất cà 21 khoản mục
được đề cập ở trên để xác định những khoản mục nào thực sự có tác động và có thể quan
sát được bằng thực nghiệm.
Bằng trực giác, có vẻ là giáo dục, khoa học vũ trụ, quốc phòng, an ninh, giao thông
vận tải, nông nghiệp và đào tạo lao động sẽ có tác động rõ rệt đối với sự tăng trưởng của
kinh tế tư nhân. Như là một bước sơ bộ, phiên bản đơn giản của mô hình Granger-
Đ tài 4 Nhóm 6
Trang 8
causality test được sử dụng để xác định những hạng mục chi tiêu nào của chính phủ ảnh
hưởng mạnh mẽ đến việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
2. Kiểm định Granger:
Kiểm định Granger nhằm kiểm tra xem liệu các biến giải thích được đưa vào có
mối quan hệ giữa một (hay nhiều)với biến khác và độ trễ của chúng.
Chẳng hạn, nếu Zt là biến phụ thuộc và Z
t-1
là biến độ trễ 1 giai đoạn, thì Zt = f(Z
t-
1
, vt) sẽ đại diện cho một mối quan hệ thống kê giữa 2 biến, trong đó Vt là một biến
ngoại sinh trong hàm số thể hiện mối quan hệ giữa chúng. Trong kiểm định Granger, 1
biến chắc chắn sẽ được đưa vào trong hàm số thể hiện mối quan hệ của Zt và Z
t-1
với
những giá trị trễ giúp ích cho việc cắt giảm vt.
Trong đó,
Y = Tổng sản phẩm quốc nội của quốc gia theo giá năm 1987.
X = Các biến chi tiêu của chính phủ, đo lường theo giá năm 1987
∆ = phương trình sai phân cấp 1 .
2
Chi tiêu cho giao thông vận tải theo thống kê đánh giá là không có ý nghĩa thống kê, dựa trên kiểm định nhân quả
Granger. Kết quả này khá ngạc nhiên vì phân tích Finn về vấn đề này trong Economic Quarterly cho thấy vốn đầu tư
cho đường cao tốc có ý nghĩa đáng kể rằng, nếu không chính xác, sẽ ảnh hưởng đến năng suất. T uy nhiên, phân tích
Finn theo hướng tiếp cận các cổ phiếu về đầu tư đường cao tốc, trong khi bài viết này phân tích dòng chi tiêu cho
giao thông vận tải của chính phủ. Các bài viết Finn cũng sử dụng các phương pháp thống kê khá khác nhau. Ngoài
ra, các loại chi tiêu cho giao thông vận tải được sử dụng trong b ài viết này bao gồm chi phí cho không khí, đường
sắt, nước và vận chuyển cũng như đường cao tốc. Tuy nhiên, để tôn trọng kết quả của Finn, chi phí vận chuyển cũng
được kiểm tra với các mô hình VAR, được giải thích dưới đây. Trong khi thống kê F cho giao thông vận tải với một
độ trễ chỉ ra rằng giao thông vận tải đã có một tác động đáng kể trên GDP thực cá nhân, độ tin cậy 95% cho kết quả
của hàm dao động quang mức 0, cho thấy không có định hướng rõ ràng của sự thay đổi trong mức độ thực tin của
GDP.
Đ tài 4 Nhóm 6
Trang 10
X Equals b2 t Value Correcte s R2
Tổng chi tiêu của chính phủ 0.037 0.240 0.00
Nông nghiệp 0.030 1.870 0.05
An ninh 0.295 1.640 0.03
Hoạt động ngoại thương 0.002 1.250 0.00
Phát triển kinh tế 0.028 0.850 0.00
Giáo dục 0.269 2.330 0.10
Năng lượng -0.011 -0.350 0.00
khoản lãi phải trả. Tuy nhiên, việc phân tích chỉ cho ít thông tin về hiệu quả tương đối
3
Khi chi tiêu cho nghiên cứu vũ trụ được kết hợp với dữ liệu chi tiêu khác của chính phủ và tổng các kết quả được
đánh giá theo kiểm định Granger, việc bổ sung các chi tiêu nghiên cứu vũ t rụ thường cải thiện k ết quả thống k ê.
Nhưng điều xảy ra với chi tiêu cho quốc phòng ngược lại, bổ sung yếu tố này vào thì làm cho kết quả mức ý nghĩa
thống kê bị giàm đi
4
Bởi vì mô hình Ireland-Otrok bao gồm biến nợ liên bang, trả lãi ròng sẽ không được đánh giá độc lập
Đ tài 4 Nhóm 6
Trang 11
của các loại chi tiêu chính phủ khác nhau. Vì vậy, việc chuyển từ mô hình VAR đề cập
trước đó sang các mô phỏng là cần thiết.
3. Mô phỏng từ mô hình VAR:
Mô hình VAR Ireland-Otrok có thể điều chỉnh để kiểm tra ảnh hưởng của nhiều
loại chi tiêu của chính phủ trên tăng trưởng kinh tế. Từ khi phân tích trong Phần 2, cung
cấp bằng chứng chi tiêu của chính phủ cho giáo dục và đào tạo lao động theo thống kê có
ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng kinh tế tư nhân, phân tích sau sẽ kiểm tra các biến số
còn lại . Ngoài ra để hoàn chỉnh, những tác động về mặt kinh tế của chi tiêu nông nghiệp,
an ninh dân sự, và trợ cấp thất nghiệp cũng sẽ được xem xét
4
.
Mô hình VAR sau là được ước lượng trên giai đoạn 1953-91.
Mà
RDEF là tốc độ tăng trưởng của ngân sách quốc phòng thực, RDEBT tốc độ tăng trưởng
thực của khoản nợ của chính phủ, GSF được định nghĩa là tốc độ tăng trưởng thực các
khoản chi tiêu khác của chính phủ, Y là tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng nội địa
chính sách tương tự như trong nghiên cứu Ireland Otrok (1992).
Từ Hình 1-A đến 1-G mô tả các hàm phản ứng thúc đẩy và thể hiện mức độ phản
ứng của GDP thực thuộc khu vực tư như thế nào nếu đã có một cú sốc số hạng sai số lên
tốc độ tăng trưởng của 1 dạng chi tiêu chính phủ đặc biệt. Đây là một phương pháp phổ
biến giúp cho các nhà nghiên cứu có thể kiểm tra khi áp dụng một cú sốc từ việc thay đổi
đáng kể độ lệch chuẩn của các biến. Việc giới hạn cú sốc ở một độ lệch chuẩn xác định
nhằm đảm bảo các dữ liệu trong mô hình có thể đánh giá được.
Hình 1-A cho thấy tác động của việc cắt giảm $ 7,95 tỷ chi tiêu quốc phòng trước
đây (độ lệch chuẩn của tốc độ tăng trưởng), trong khi hình 1-B cho thấy tác động của việc
cắt giảm giảm nợ liên bang $ 26,8 tỷ trước đây (độ lệch chuẩn của tốc độ tăng trưởng).
Đường chấm đại diện cho độ tin cậy 95% của các dự báo hàm phản ứng. Các kết quả thu
được trong khu vực giữa 2 đường chấm trong mỗi hình bao gồm cả đường zero không thể
hiện rõ ràng những tác động từ việc cắt giảm quốc phòng hay nợ đến GDP tư nhân thực.
Hình 1-C đến 1-G cho thấy các phản ứng của GDP tư nhân thực trước cú sốc có
độ lệch tiêu chuẩn xác định (one standard deviation shock)trong việc chi tiêu cho nông
nghiệp, an ninh dân sự, giáo dục, đào tạo lao động, và trợ cấp. Như dự đoán, tầm quan
trọng của những cú sốc có 1 độ lệch chuẩn xác định khác nhau đáng kể. Mức độ lệch
chuẩn xác định cho chi phí giáo dục, ví dụ, là $ 3,1 tỷ USD theo giá đô la năm 1987,
trong khi một độ lệch chuẩn cho đào tạo lao động chỉ có $ 0,6 tỷ. Độ lớn độ lệch chuẩn
của các lĩnh vực khác nhau được báo cáo trong Bảng 3.
Theo các hình minh hoạ hàm phản ứng thúc đẩy cho thấy, các cú sốc trong chi tiêu
giáo dục và đào tạo lao động như dự kiến với độ tin cậy với 95% sẽ dẫn đến một sự gia
tăng tích lũy mức GDP tư nhân thực. Mặt khác, các phân tích hàm phản ứng thúc đẩy cho
các khoản chi trợ cấp không chỉ cho thấy với độ tin cập 95%, nó xoay quanh điểm zero,
mà còn không có sự thay đổi trong mức độ GDP thực. Do đó, trợ cấp có thể được xem
Đ tài 4 Nhóm 6
Trang 14
xét lại có phải là nguồn có thể tăng trưởng kinh tế, trong khi chi phí giáo dục và đào tạo
ích như đã được chính phủ chi tiêu trung bình cho mỗi lĩnh vực thử nghiệm trong vòng
40 năm qua.
Sáu mô phỏng đã được thực hiện với giả định rằng Chính phủ sẽ cắt giảm chi tiêu
quốc phòng như kế hoạch năm 1991, nhưng số tiền thu được sẽ được dùng với mục đích
sử dụng khác nhau. Mục tiêu của kế hoạch năm 1991 như đã biết là cắt giảm chi tiêu
quốc phòng 20% giữa năm 1992 và 1997. Với thời giá của năm 1987, điều này có nghĩa
là cắt giảm $ 17 tỷ USD vào năm 1992, 21,7 tỷ USD vào năm 1993, 10,2 tỷ USD vào
năm 1994, 9,0 tỷ USD vào năm 1995, 6,5 tỷ USD vào năm 1996, và 7,0 tỷ USD vào năm
1997.
Hình 2 Dự báo tác động của Kế hoạch năm 1991 Đ tài 4 Nhóm 6
Trang 17 Các mô phỏng việc phân phối số tiền thu được từ cắt giảm chi tiêu quốc phòng như
sau:
Hoặc tất cả để giảm nợ liên bang như trong hình 2-A hoặc
Hoặc chỉ dùng một phần để tăng độ lệch tiêu chuẩn của một trong bốn loại chi tiêu
chính phủ. Phần còn lại sẽ giảm nợ liên bang (Hình 2-B, 2-C, 2-D và 2-E).
Mô phỏng một cho thấy mức độ của GDP tư nhân thực luôn thấp hơn 1,5% so với khi
không có thay đổi trong chi tiêu quốc phòng.
i
Trong mô phỏng 2, như hình 2-C, 2-D, và hiển thị 2-E triển vọng này thay đổi đáng
kể khi một phần số tiền thu được của việc cắt giảm quốc phòng được sử dụng để tăng chi
tiêu về an toàn dân sự, giáo dục, đào tạo lao động. Việc làm này đẩy mức GDP tư nhân
thực liên tục tăng cao mặc dù hầu hết số tiền thu được của việc cắt giảm quốc phòng vẫn
4. Kết luận:
Đầu tiên có một vài lưu ý. Phân tích trong bài viết này sử dụng dữ liệu trong quá
khứ để mô phỏng các sự kiện trong tương lai. Mặc dù phương pháp đó chỉ thích hợp cho
nghiên cứu thực nghiệm nhưng nó còn tùy thuộc vào vấn đề nghiên cứu. Người ta luôn
có lý do chính đáng để tin rằng xu hướng trong quá khứ sẽ tiếp tục trong tương lai nếu
đặt nhiều niềm tin vào các mô phỏng được trình bày trong bài viết này. Hơn nữa, người ta
có thể tìm thấy mối tương quan nhất định giữa các sự kiện trong quá khứ và từ đó đoán
một trong những sự kiện gấy nên sự kiện khác. Thật không dễ dàng để một nhà kinh tế
học chứng minh được rằng một vấn đề kinh tế xảy ra trên thế giới tạo nên một vấn đề
khác. Vì vậy, không thể xem kết quả của nghiên cứu này là kết luận.
Tuy nhiên, có thể hiểu các kết quả của nghiên cứu trong bài cho rằng chi tiêu của
chính phủ cho giáo dục và đào tạo lao động (và cũng có thể cho sự an toàn của người
dân) có ý nghĩa quan trọng về mặt thống kê và số lượng. Chi tiêu của chính phủ cho giáo
Đ tài 4 Nhóm 6
Trang 19
dục và đào tạo lao động ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Đáng chú ý là
chi tiêu cho giáo dục, an toàn của người dân và đào tạo lao động ảnh hưởng trực tiếp đến
vốn con người hơn là vốn vật chất. Các mô phỏng của mô hình VAR về chi tiêu cho giáo
dục, đào tạo lao động và an toàn của người dân cho một kết quả rõ ràng. Thực tế, các
chính sách giảm 20% chi tiêu quốc phòng và phân bổ số tiền này để giảm nợ, hay cho
một hoặc cả ba loại chi tiêu trên ước tính cho kết quả mức GDP thực của khu vực tư nhân
cao hơn so với kết quả của chính sách không giảm chi tiêu quốc phòng.
Tuy nhiên, như đã lưu ý ở trên, kết quả trình bày trong bài dựa trên mối tương
quan giữa các sự kiện trong quá khứ và tương quan có thể hay không thể tiếp tục xảy ra
trong tương lai. Vì vậy, các chương trình tăng chi tiêu của chính phủ cho giáo dục và đào
tạo lao động không nên được thực hiện theo cách dù muốn hay không và được biện minh
bằng việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thay vào đó, bất cứ chương trình nào cũng nên