1
Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển thì xăng dầu và các sản
phẩm của dầu mỏ vẫn là mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn của mỗi quốc gia, riêng đối
với nước ta ngành xăng dầu là ngành kinh tế mũi nhọn đóng vai trò rất nhiều vào
ngân sách của nhà nước.
Mặc dù các nước phát triển đang nghiên cứu để đưa năng lượng mặt trời
vào sử dụng phổ biến thay thế cho các sản phẩm dầu mỏ. Nhưng dầu mỏ và sản
phẩm dầu mỏ chiếm vị thế rất quan trọng ở hầu hết lĩnh vực trong nền kinh tế
quốc dân và an ninh quốc phòng của tất cả các quốc gia trên thế giới. Nó trở
thành nhu cầu không thể thiếu trong sản xuất kinh doanh cũng như đáp ứng đầy
đủ, nhanh chóng thuận tiện nhất cho nhu cầu sử dụng của con người.
Do đó doanh nhiệp cần đặt ra tiêu chí để quản lý tốt chất lượng xăng dầu,
đảm bảo lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp vì doanh thu đạt được là kết quả của sự
năng động sáng tạo trong công tác quản lý của mỗi doanh nghiệp, sự kết hợp tài
tình của nhiều công cụ quản lý kinh tế. Nhận thức được tầm quan trọng của công
tác kiểm tra và quản lý chất lượng xăng dầu.
Bài đồ án tốt nghiệp này của em đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng của áp
suất đến nhiệt độ cất của nhiên liệu xăng và dầu diezen. Một phần hiểu thêm
về một vấn đề mới , và một phần được học hỏi kiến thức thực tế quý báu.
Em xin chân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày 20 tháng 5 năm 2012
SV: Bùi Thị Nhung - Lớp H5K4 GVHD: ThS Nguyễn Quốc
Đạt
2
Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN 1: TỔNG QUAN
SẢN PHẨM DẦU MỎ - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH THÀNH
PHẦN CẤT Ở ÁP SUẤT KHÍ QUYỂN
như thành phần của dầu mỏ từ CH4 và C2H2 đòi hỏi có nhiệt độ cao trong
khi đó thực tế nhiệt độ đạt được trong các mỏ dầu thì ít khi vượt quá 150
đến 200oC
Bằng các phương pháp phân tích hiện đại, ngày nay người ta đã xác định
được trong dầu thô có chứa các porphyrin là hợp chất có nhiều trong xác
đông thực vật.
Chính những khuyết điểm trên mà giả thiết này ngày càng có ít người quan
tâm và thay vào đó là giả thiết về nguồn gốc hữu cơ.
1.1.1.2 Nguồn gốc hữu cơ của dầu mỏ
Theo giả thiết này thì dầu mỏ được hình thành từ các hợp chất có nguồn
gốc hữu cơ, cụ thể là từ xác chết của động thực vật và trải qua một quá trình biến
đổi phức tạp trong một thời gian dài (hàng chục đến hàng trăm triệu măn) dưới
tác động của nhiều yếu tố khác nhau như vi khuẩn, nhiệt độ, áp suất và xúc tác có
sản trong lòng đất và đôi khi còn có sự tác động của các bức xạ do sự phóng xạ ở
trong lòng đất.
Thực tế thì quá trình hình thành dầu khí là một quá trình lâu dài và liên tục,
nhưng để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu sự biến đổi từ các xác chết của
động thực vật đến dầu khí ngày nay thì người ta chia quá trình này thành bốn giai
đoạn khác nhau như sau:
Tích đọng các vật liệu hữu cơ ban đầu
SV: Bùi Thị Nhung - Lớp H5K4 GVHD: ThS Nguyễn Quốc
Đạt
4
Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
Những vật liệu hữu cơ ban đầu (hay còn gọi là những chất mẹ đẻ ra dầu
khí) của dầu khí hiện nay chủ yếu là những sinh vật sống ở biển: phù du, thực
vật, động vật dưới biến.
Tuy nhiên, vì biển là nơi hội tụ các dòng sông trên đất liền nên tất nhiên sẽ
có cả các động thực vật (xác chết của chúng) có nguồn gốc từ trên cạn. Tất cả
những vật liệu hữu cơ trên đây đều có thể là chất mẹ tạo thành dầu khí. Như vậy,
dầu nằm không sâu lắm, tầng đá chắn không đủ khả năng bảo vệ tốt, một bộ phần
dầu khí có thể bay hơi, thậm chí có thể nước xâm nhập vào làm tăng quá trình
oxy hoá kết quả dầu lại nặng thêm, giảm mất phần nhẹ, dầu trở nên nhiều nhựa-
asphalten.
1.1.2 Thànhphần
1.1.2.1 Thành phần hoá học của dầu mỏ
Một cách tổng quát thì thành phần hoá học của dầu mỏ được chia thành hai
thành phần:
Các hợp chất hydrocacbon (HC), là hợp chất mà trong thành phần của nó
chỉ chứa hai nguyên tố là cacbon và hydro.
Các hợp chất phi HC, là các hợp chất mà trong thành phần của nó ngoài
cacbon, hydro thì chúng còn chứa thêm các nguyên tố khác như nitơ, lưu
huỳnh, oxy . . .
Như đã biết trong phần trước, trong thành phần của dầu mỏ thì hàm lượng
các HC luôn chiếm thành phần chủ yếu. Trong thực tế thì dựa vào thành phần của
các HC trong dầu thô mà người ta quyết định các loại sản phấm được sản xuất từ
một loại dầu thô cho trước, thành phần này cũng quyết định đến hiệu suất của các
loại sản phẩm.
SV: Bùi Thị Nhung - Lớp H5K4 GVHD: ThS Nguyễn Quốc
Đạt
6
Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
Đối với các hợp chất phi HC thì mặc dù thành phần nguyên tố của chúng
không lớn nhưng hầu hết đây là các hợp chất có hại vì vậy trong quá trình chế
biến cần phải loại bỏ nó ra khỏi thành phần của sản phẩm do đó chúng quyết định
đến công nghệ của nhà máy
Các hợp chất hydrocacbon của dầu mỏ
- Các hợp chất parafin;
- Các hợp chất vòng no hay các hợp chất naphten;
- Các hydrocacbon thơm hay aromatic.
những điều kiện vận hành thực tế và cả trong điều kiện tồn chứa dự trữ khác
nhau…
Trong tự nhiên, nhiều chất lỏng có nhiệt độ sôi ở nhiệt độ cố định, ví dụ
nước có nhiệt độ sôi cố định là 100 độ C ở điều kiện áp suất khí quyển, nguyên
nhân nước chỉ chứa một loại phân tử với đặc tính riêng của mình.
Xăng động cơ là hỗn hợp của nhiều hidrocacbon khác nhau, chưa kể một
lượng nhỏ các chất phụ gia có trong xăng. Mỗi loại phân tử hidrocabon có nhiệt
độ sôi khác nhau, chính vì vậy xăng không có nhiệt độ sôi cố định, mà sôi trong
một khoảng nhiệt độ thường nằm trong khoảng 30 – 220 độ C.
Ý nghĩa thành phần cất xăng động cơ
Để đánh giá nhiệt độ sôi của xăng trong phòng thí nghiệm người ta tiến hành
chưng cất (trên thiết bị chưng cất tiêu chuẩn) 100ml xăng và ghi lại giá trị nhiệt
độ tại các điểm có độ sôi khác nhau; Khi đó các phân tử hidrocacbon khác nhau
trong xăng sẽ chuyển từ dạng lỏng sang dạng khí. Vì vậy tính chất sôi và bay hơi
của xăng thường được đánh giá bằng nhiệt độ sôi đầu, nhiệt độ sôi cuối và nhiệt
độ sôi tương ứng với % thể tích chưng cất đước của xăng ngưng tụ trong thiết bị
chưng cất và được gọi chung là thành phần cất.
SV: Bùi Thị Nhung - Lớp H5K4 GVHD: ThS Nguyễn Quốc
Đạt
8
Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
Phương pháp xác định thành phần cất của xăng được tiến hành theo tiêu chuẩn
ASTM – D86. Sự thay đổi các giá trị nhiệt độ chưng cất sẽ ảnh hưởng tới khả
năng vận hành của động cơ.
Nhiệt độ sôi đầu: Khi tiến hành gia nhiệt 100ml mẫu xăng trong thiết bị chưng
cất chuẩn, nhiệt độ tại đó giọt nhiên liệu đầu tiên được ngưng tụ và rơi xuống ống
hứng, gọi là nhiệt độ sôi đầu. Giới hạn sôi đầu đến nhiệt độ sôi 10 % có ảnh
hưởng đến khả năng khởi động của động cơ và nguy cơ tạo nút hơi. Nếu các giá
trị này quá thấp động cơ dễ dàng khởi động nguội nhưng lại khó khởi động nóng
và dễ tạo nút hơi, làm gián đoạn quá trình cung cấp xăng cho xylanh, hao hụt tồn
Để định lượng ảnh hưởng của thành phần cất, người ta đưa ra khái niệm
chỉ số vận hành DI, được định nghĩa như sau:
DI = 1,5 (T10) + 3(T30) + T90
Trong đó: T10, T30, T90 là nhiệt độ cất được 10, 50 và 90%. Giá trị DI thay đổi
trong giới hạn cho phép là từ 455 đến 704. Xăng dùng vào mùa hè thường có DI
cao, độ bay hơi và suất tiêu hao nhiên liệu thấp, ngược lại với xăng dùng vào mùa
đông thường có DI thấp. Theo quy định trong TCVN 6776 – 2000, chỉ số DI tối
đa của xăng nhập khẩu vào Việt Nam là 680. Theo số liệu thống kê trung bình,
xăng của Petrolimex có chỉ số DI khoảng 612, riêng xăng mùa đông ở Miền Bắc
có DI khoảng 520 – 550. Như vậy có thể nói, chỉ tiêu độ bốc hơi của xăng ở Việt
Nam hiện nay hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của động cơ.
Các chỉ tiêu chưng cất của xăng động cơ được quản lý bằng cách quy định
một giới hạn cho nhiệt độ cất tương ứng với % thể tích chưng cất cố định, hoặc
giới hạn cho % thể tích chưng cất được ở nhiệt độ cố định. Giá trị phần trăm thu
hồi có thể chuyển thành giá trị % bốc hơi bằng cách them vào đó giá trị % hao
hụt và giá trị phần trăm lượng thu hồi.
SV: Bùi Thị Nhung - Lớp H5K4 GVHD: ThS Nguyễn Quốc
Đạt
10
Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
Tùy theo mỗi quốc gia, việc quy định độ hóa hơi sẽ được đề ra theo những
yêu cầu riêng cho mùa hè, mùa đông hoặc mùa xuân… và cũng cần tính đến độ
cao về địa lý, nơi mà xăng sẽ được sử dụng.
Bảng 1.1: phương pháp thử xác định thành phần cất của xăng
NHIỆT ĐỘ CẤT
CỦA XĂNG
PHƯƠNG PHÁP
THỬ
MÙA HÈ MÙA ĐÔNG
10%
- Phần đầu từ 80 đến 100% thể tích hóa hơi.
Độ hóa hơi phần đầu:
Ở điều kiện môi trường và nhiệt độ thấp chỉ có một phần nhỏ xăng bốc hơi
từ bộ chế hòa khí và được pha trộn hòa toàn với không khí trên đường đi tới xi
lanh. Vì lí do đó mà động cơ chạy xăng được trang bị van nén không khí tay
hoặc van nén tự động. Khi ấn van nén không khí tại vòi nhiên liệu của bộ chế
hòa khí, là để kéo vào nhiều nhiên liệu hơn. Lượng hơi xăng khi đó sẽ đủ để đạt
được hỗn hợp cháy. Vì vậy nhiên liệu phải có đặc điểm hóa hơi ở nhiệt độ thấp
đạt yêu cầu.
Mặt khác chỉ tiêu hóa hơi cũng phải đạt yêu cầu sao cho động cơ đang
nóng sẽ khởi động lại được sau một thời gian ngừng hoạt động. Thời gian ngừng
hoạt đọng sau khi động cơ đã hoạt động ở nhiệt độ cao gọi là chu kỳ hấp thụ
nhiệt của nhiên liệu. Nếu xăng qua dễ hóa hơi ở điều kiện đó thì quá nhiều thành
phần nhẹ sẽ mất đi, để lại nhiên liệu các thành phần tương đối khó hóa hơi. Điều
đó sẽ dẫn đến việc khó khởi động lại.
Nút hơi là một vấn đề có lien quan đến độ hóa hơi phần đầu và là điều kiện
trong đó một phần nhiên liệu bốc hơi tại các điểm nguy hiểm trong hệ thống
nhiên liệu, tạo nên một nút hơi làm cho bơm nhiên liệu không có khả năng xử lý.
Bơm nhiên liệu phải có khả năng xử lý nhiên liệu cả ở dạng lỏng và cả ở một
phần dạng hơi, do nhiệt độ của nhiên liệu gia tăng làm cho lượng hơi cũng tăng
lên.
Vì bơm nhiên liệu có năng suất hạn chế, có thể đạt tới điểm tại đó bơm chỉ
chuyển tải toàn hơi, vì vậy sẽ không cung cấp đủ nhiên liệu dạng lỏng cho bộ
chế hòa khí hoặc cho hệ thống phun để giư cho động cơ hoạt động. Xu hướng
tạo nút hơi chịu ảnh hưởng của cả chất lượng nhiên liệu và cả độ cao mà tại đó
phương tiện hoạt động.
SV: Bùi Thị Nhung - Lớp H5K4 GVHD: ThS Nguyễn Quốc
Đạt
12
Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
nhiều phần nhẹ trong hơi xăng tạo cho hỗn hợp nhiên liệu và không khí cho mỗi
một xi lanh động cơ. Trong xăng nếu có quá nhiều phần nặng sẽ khó hóa hỡi và
có thể dẫn đến sự cháy không đều và không hết. Sự cháy không đều sẽ ảnh
hưởng có hại đến sự hoạt động của động cơ, dễ thấy là chúng sẽ nổ không êm và
nhẹ.
Đối với những hành trình ngắn, tính kinh tế lien quan đến tính hâm nóng
động cơ vì quá trình hâm nóng động cơ thể hiện một phần đáng kể của tổng số
thời gian hoạt động. Giảm thiểu giai đoạn hâm nóng động cơ bằng cách có được
độ hóa hơi của phần giữa tốt, cho phép phương tiện hoạt động có hiệu quả hơn
và kinh tế hơn.
Đối với những hành trình dài, tính kinh tế lại không quá phụ thuộc vào tính
năng hâm nóng của động cơ do thời gian hâm nóng động cơ chỉ là một phần
không đáng kể của toàn bộ thời gian hoạt động của nó. Hành trình dài sẽ có tính
kinh tế tốt hơn đối với loại xăng có nhiệt trị cao và các phân đoạn hidrocacbon
có nhiệt độ sôi cao hơn thì nặng hơn các phân đoạn nhẹ và mức hóa hơi thấp hơn
là điều mong muốn là hành trình dài có tính kinh tế. Rõ rang có một sự thỏa mãn
để đáp ứng những yêu cầu về tính năng khác nhau là điều cần thiết.
Độ hóa hơi phần cuối:
Các phần nặng của hỗn hợp xăng cần được kiểm soát một cách cẩn thận.
Để tính kinh tế của hành trình đường dài tốt thì điểm cất 90% và nhiệt độ sôi
cuối cần phải cao. Mặt khác khả năng pha loãng dầu bôi trơn trong hộp cácte, kết
cặn trong động cơ, tạo nhựa, nhiễm bẩn bugi có thể làm giảm đi được nhờ độ
hóa hơi của phần cuối cao hơn.
Yêu cầu kĩ thuật quy định cho quá trình sản xuất xăng động cơ là kết quả
của sự thỏa hiệp các yêu cầu nói trên.
1.1.3.2 Phân đoạn diezen
SV: Bùi Thị Nhung - Lớp H5K4 GVHD: ThS Nguyễn Quốc
Đạt
14
Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
động cơ. Nhiên liệu có độ bay hơi quá thấp sẽ làm giảm công suất của động cơ,
tăng mức hao phí nhiên liệu diêzen khả năng hao phí nguyên tử hóa kém. Ngược
lại, nhiên liệu có độ bay hơi quá cao cũng làm giảm công suất, hiệu suất của động
cơ nhưng là do tạo nút hơi trong hệ thống nhiên liệu và kim phun không cung cấp
đều đặn nhiên liệu với kích thước hạt phù hợp vào buồng đốt.
Nói chung, giới hạn sôi của nhiên liệu càng thấp càng tốt miễn là không
ảnh hưởng tới nhiệt độ chớp cháy, đặc tính cháy, nhiệt trị và độ nhớt ccủa nhiên
liệu.
Nhiệt độ sôi 10%: đặc trưng cho phần nhẹ dễ bốc hơi của nhiên liệu. Nhiệt độ
sôi 10% quá cao sẽ gây hiện tượng động cơ khó khởi động.
Nhiệt độ sôi 50%: hiện nay còn gọi là nhiệt độ sôi trung bình là chỉ tiêu hay
dùng nhất khi đánh giá nhiên liệu diezen. Nó là chỉ tiêu đặc chưng cho tính năng
thay đổi tốc độ của động cơ.
Đối với các động cơ diezen cao tốc, nhiên liệu có điểm sôi trung bình cao
hơn 302ºC khi cháy sẽ tạo nhiều khói trong khí xả, khí xả có mùi khó chịu, tạo
nhiều cặn trong động cơ… Trái lại, diezen có điểm sôi trung bình quá thấp thì
thường có độ nhớt thấp và nhiệt trị thấp. Vì vậy nhiên liệu có điểm sôi trung bình
trong giới hạn 232 – 290 ºC là phù hợp nhất đối với phần lớn động cơ diezen cao
cấp. Đối với các động cơ có tốc độ thấp hơn thì giới hạn nhiệt độ trên đây cũng
rộng hơn.
Nhiệt độ sôi 90% và điểm sôi cuối: đặc trưng cho khả năng cháy hoàn toàn của
nhiên liệu.
Nếu nhiệt độ sôi 90% và sôi cuối thấp có tác dụng làm giảm cặn và giảm
mức độ lẫn nhiên liệu vào dầu bôi trơn.
SV: Bùi Thị Nhung - Lớp H5K4 GVHD: ThS Nguyễn Quốc
Đạt
16
Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
Nếu nhiệt độ sôi 90% và sôi cuối quá cao thì nhiên liêu cháy không hết
thải ra ngoài nhiều gây ô nhiễm môi trường và làm tăng tiêu hao nhiên liệu, giảm
việc cấp nhiệt.
Điểm khô, là số đọc của nhiệt kế đã hiệu chỉnh quan sát được ngay khi
giọt chất lỏng cuối cùng (không tính đến các giọt hoặc màng chất lỏng còn bám
trên thành bình hoặc trên bộ cảm ứng nhiệt) bay hơi khỏi điểm thấp nhất của bình
cất.
Điểm cuối (điểm sôi cuối) nói chung được dùng nhiều hơn điểm khô.
Điểm khô có thể được báo cáo khi liên quan đến các loại naphta dùng cho các
mục đích đặc biệt, ví dụ trong sản xuất sơn, tuy nhiên thuật ngữ điểm khô được
dùng thay thế cho điểm cuối (điểm sôi cuối) khi do bản chất của mẫu mà độ
chính xác của điểm cuối không thể phù hợp với các yêu cầu quy định về độ chính
xác.
Sự ngưng đọng học, là một lượng nhiên liệu ở cổ bình, nhánh bình và ống
ngưng trong suốt quá trình chưng cất.
Hiệu ứng của phần thân, là phần thêm vào số đọc nhiệt độ khi dùng nhiệt
kế thủy ngân nhúng ngập toàn phần mà chỉ nhúng một phần.
Giải thích cách nhúng một phần là một phần cột thủy ngân nhô ra ở tại
nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ của phần nhúng ngập dẫn đến cột thủy ngân hạ xuống
và số đọc nhiệt độ thấp hơn.
Điểm cuối (điểm sôi cuối), là số đọc lớn nhất của nhiệt kế đã hiệu chỉnh,
nhận được trong quá trình thử.
Giải thích - Điều này thường xảy ra sau khi toàn bộ chất lỏng ở đáy bình
cất bay hơi hết. Thuật ngữ nhiệt độ cao nhất là một từ đồng nghĩa vẫn thường sử
dụng.
SV: Bùi Thị Nhung - Lớp H5K4 GVHD: ThS Nguyễn Quốc
Đạt
18
Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
Sự hao hụt từ đầu đến cuối, là sự thất thoát do bay hơi trong quá trình
chuyển mẫu từ ống đứng sang bình chưng cất, sự thất thoát hơi trong quá trình
chưng cất và hơi không ngưng trong bình tại điểm cuối khi chưng cất.
nhóm và mẫu thuộc về nhóm đó.
Chưng cất 100ml mẫu dưới các điều kiện quy định cho loại mẫu đó. Việc
chưng cất được thực hiện bằng bộ thiết bị chưng cất của các phòng thử nghiệm,
tại áp suất điều kiện môi trường quy định, để đưa ra một bảng lý thuyết về phân
đoạn gần đúng. Tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng số liệu, thực hiện đều đặn việc
đọc nhiệt độ và thể tích chất ngưng, thể tích cặn và thất thoát cũng được ghi lại.
Phải làm lại phép thử nếu bất kì một điều kiện nào không phù hợp.
Thông thường các kết quả thử được thể hiện là phần trăm bay hơi hoặc
phần trăm cất được ứng với nhiệt độ tương ứng hoặc trong các bảng, trên đồ thị
đường cong chưng cất.
1.2.4 ý nghĩa sử dụng
Từ trước đến nay ngành công nghiệp dầu mỏ vẫn áp dụng phương pháp
chưng cất là phương pháp cơ bản để xác định dải sôi của dầu mỏ. Do phương
pháp được áp dụng trong một thời gian dài như vậy nên có một lượng lớn cơ sở
số liệu lưu trữ để dự đoán độ nhạy tối đa đối với sản phẩm và quá trình chế biến.
Các đặc tính chưng cất (tính bay hơi) của các hidrocacbon thường có ảnh
hưởng quan trong đến an toàn và tính năng sử dụng của chúng, đặc biệt đối với
các loại nhiên liệu và dung môi. Dựa vào dải sôi có thể biết có thể biết được các
thông tin về thành phần, tính chất và cách bảo quản và sử dụng nhiên liệu. Tính
bay hơi là một yếu tố chính để xác định xu hướng khả năng tạo hơi nổ của hỗn
hợp hidrocacbon.
Các đặc tính chưng cất là đặc biệt quan trọngcho cả xăng ôtô và xăng hàng
không, ảnh hưởng đến sự khới động máy, gây nóng máy và xu hướng tạo nút hơi
SV: Bùi Thị Nhung - Lớp H5K4 GVHD: ThS Nguyễn Quốc
Đạt
20
Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
ở nhiệt độ vận hành cao hoặc ở độ cao lớn hơn. Sự có mặt của các thành phần có
điểm sôi cao trong các loại nhiên liệu có ảnh hưởng đáng kể đến sự tạo thành cặn
cháy cứng.
một thiết bị đóng ngắt điện tự động vào thiết bị và trong trường hợp có cháy, sẽ
phun khí trơ hoặc hơi vào trong khoang có bình cất.
Một vài nguyên nhân gây cháy là bình cất bị nứt, đoản mạch và do sự nổi
bọt và tràn mẫu nhiên liệu qua đỉnh bình cất.
Khí áp kế - Thiết bị đo áp suất có khả năng đo chính xác đến 0,1kPa
(1mmHg) hoặc cao hơn, tại cùng độ cao tương ứng với mực nước biển của thiết
bị trong phòng thí nghiệm. Không chấp nhận các số đọc từ các hộp đo khí áp
thông dụng ví dụ các loại dùng để đo ở các trạm khí tượng, sân bay vì các hộp đo
này đã được hiệu chỉnh trước để cho kết quả áp suất ứng với mực nước biển.
1.2.6. Lấy mẫu, bảo quản và luyện mẫu
SV: Bùi Thị Nhung - Lớp H5K4 GVHD: ThS Nguyễn Quốc
Đạt
23
Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
Đặc tính của nhóm tương ứng với mẫu thử, quy trình cất mẫu sẽ phụ thuộc
vào nhóm đã xác định.
Bảng 1.2 : Các đặc tính của nhóm
Đặc tính của mẫu Nhóm 0 Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4
Áp suất hơi ở 37,8ºC,
kPa (100ºF, psi)
Xăng tự
nhiên
≥ 65,5
≥ 9,5
< 65,5
< 9,5
< 65,5
< 9,5
< 65,5
< 9,5
kín và không bị rò rỉ.
Nhóm 3 và 4 - Bảo quản mẫu ở nhiệt độ môi trường, hoặc thấp hơn.
1.2.6.3 Luyện mẫu trước khi phân tích
Trước khi mở bình chứa mẫu phải đưa mẫu về nhiêt độ:
Nhóm 0 - dưới 5 độ C (40độ F)
Nhóm 1,2 - dưới 10 độ C (50 độ F)
Nhóm 3,4 - Trước khi phân tích nếu ở nhiệt độ môi trường thì mẫu không ở dạng
lỏng, thì phải gia nhiệt đến nhiệt độ từ 9 đến 21 độ C trên điểm đông đặc của
mẫu. Nếu mẫu đặc hoàn toàn hoặc một phần thì sau khi nóng chảy phải lắc mạnh
cho mẫu đồng nhất trước khi mở nắp bình chứa mẫu
Nếu nhìn thấy có nước trong mẫu thì mẫu đó không phù hợp để thử
nghiệm. Nếu mẫu không khô thì lấy mẫu khác không chứa nước lơ lửng để thử.
Trong trường hợp không lấy được mẫu không có nước:
Nhóm 0, 1, 2 – Có thể loại nước lơ lửng bằng cách duy trì mẫu ở nhiệt độ 0
đến 10 độ C, cho vào 100ml mẫu khoảng 10g natri sunfat khan, lắc khoảng 2
phút, sau đó để lắng khoảng 15 phút. Khi nhìn mẫu thấy không có nước, dùng
phần mẫu đã gạn, duy trì nhiệt độ ở 1 đến 10 độ C để phân tích. Trong báo cáo
thử ghi rõ mẫu thử đã được làm khô bằng cách cho thêm chất làm khô.
SV: Bùi Thị Nhung - Lớp H5K4 GVHD: ThS Nguyễn Quốc
Đạt
25
Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
Nước lơ lửng trong các mẫu đục thuộc nhóm 1,2 có thể loại bằng cách cho
thêm natri sunfát khan và tách phần mẫu lỏng ra khỏi chất làm khô theo cách gạn
mà không ảnh hưởng mang tính thống kê đến kết quả phép thử.
Nhóm 3 và 4 – Có thể loại nước lơ lửng bằng cách lắc mẫu với natri sunfat
khan hoặc chất làm khô thích hợp và sau đó gạn để tách mẫu ra khỏi chất làm
khô. Trong báo cáo thử ghi rõ mẫu thử đã được làm khô bằng cách cho thêm chất
làm khô.
1.2.7. Chuẩn bị thiết bị