Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm đậu quả đến tình hình đậu quả và năng suất nhãn Hương Chi tại Thái Nguyên - Pdf 68

Phần I
Đặt vấn đề
1.1. Đặt vấn đề
Nhãn là một trong số những cây ăn quả đặc sản của các tỉnh miền Bắc n-
ớc ta, nó là một trong ba cây ăn quả quý trong họ Sapindacae. So với vải và
chôm chôm thì nhãn có giá trị dinh dỡng cao hơn. Nhãn đợc trồng nhiều ở khắp
nới trên cả nớc: Tiên Lữ (Hng Yên), Sơn Dơng (Tuyên Quang), Mỹ Tho (Tiền
Giang)...
Quả nhãn có giá trị dinh dỡng cao, trong cùi nhãn có hàm lợng đờng
tổng số chiếm 15 - 20%, axit 0,09 - 0,1%, vitaminC 43 - 163 mg/100 g, ngoài ra
còn chứa các loại vitamin B1, B2, các chất khoáng nh Ca, P, Fe... đều là những
chất bổ cần cho sức khoẻ con ngời. Vì vậy "long nhãn" là vị thuốc bổ qúy trong
đông y làm tăng thị lực và sức lực. Theo các tác giả Trung Quốc cho rằng ăn
nhiều nhãn bổ tim, lợi tiểu, bồi bổ cơ thể suy nhợc, tăng trí nhớ, bồi bổ tinh
thần, bồi dỡng tinh thần, giải khát, nhuận da dẻ, tăng sắc đẹp. Quả nhãn có thể
ăn tơi, làm đồ hộp hoặc sấy khô cất giữ dễ dàng.
Trồng nhãn có nhiều lợi ích bởi nhãn là cây lâu năm, thích nghi trên
nhiều loại đất, cây cao bóng cả, lá che phủ chỏm đồi, chỏm rừng, chắn sóng,
chắn gió rất tốt. Gỗ nhãn chắc chắn, mịn, có thể dùng làm các đồ gia dụng hoặc
mộc mỹ nghệ. Vỏ, rễ, thân cây chứa nhiều tanin có thể sử dụng trong kỹ nghệ
nhuộm. Hạt chứa nhiều tinh bột có thể chế rợu, cồn hoặc làm thuốc. Hoa nhãn
rất nhiều mật, thời gian có hoa dài là nguồn mật rất quý, thơm ngon hơn nhiều
mật hoa khác. Mật ong hoa nhãn bao giờ đắt giá gấp rỡi, gấp đôi các loại mật
ong khác. Trồng nhãn có thể kích thích nghề nuôi ong phát triển.
Cây nhãn có thời gian thu lợi dài, cây ghép chỉ sau trồng 3 - 4 năm đã có
quả, 7 - 8 năm cho sản lợng cao và có thể thu hoạch đợc 70 - 80 năm thậm chí
trên 100 năm. Nhãn đợc đánh giá cao trong điều chỉnh cơ cấu cây trồng hiện
1
nay nên tốc độ phát triển rất nhanh. Nhãn đợc coi là cây trồng xoá đói giảm
nghèo cho vùng trung du và miền núi nớc ta bởi nó là loài cây có phổ thích ứng
rộng, không kén đất lắm.

trong đó nhãn là cây có giá trị kinh tế cao, có đặc trng là cây gỗ nhỡ, lá kép
lông chim, hoa mọc thành chùm, quả chín vỏ nhẵn có màu nâu.
Qua điều tra về tình hình sản xuất ở nớc ra cho thấy cây nhãn đợc trồng ở
khắp nơi trong cả nớc, đợc phân ra làm 2 vùng lớn là vùng đồng bằng sông Cửu
Long và các tỉnh miền Bắc. Riêng tỉnh Thái Nguyên hiện nay diện tích trồng
nhãn cũng ngày một tăng, tập trung ở các nơi: Đại Từ, Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú
Bình và thành phố Thái Nguyên, với nhiều giống nhãn khác nhau nh: Nhãn
lồng Hng Yên, nhãn TQ
20
, nhãn số 5, nhãn VT22, nhãn Hơng Chi. Trong các
giống nhãn kể trên thì giống nhãn Hơng Chi thờng đợc trồng với diện tích lớn
nhất ở Thái Nguyên. Đặc điểm chính của giống nhãn Hơng Chi nh sau: qủa to,
cùi giòn, sắc nớc, hạt nhỏ, mã quả đẹp.
2.1.2. Tình hình sản xuất nhãn trong và ngoài nớc
2.1.2.1. Tình hình sản xuất nhãn trên thế giới
Nhãn là loại cây ăn quả quý và đợc rất nhiều ngời sử dụng, để phục vụ
cho nhu cầu hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều quốc gia trồng nhãn.
Cây nhãn đợc phát triển với tốc độ rất nhanh và qua kết quả thống kê thì
hiện nay Trung Quốc là quốc gia có diện tích trồng nhãn và sản lợng nhãn lớn
nhất thế giới. Năm 1986 diện tích trồng nhãn của Trung Quốc là 35.800 ha,
3
tổng sản lợng là 77.000 tấn. Năm 1995 diện tích là hơn 8 vạn ha. Cho đến năm
1998 theo thống kê của văn phòng á nhiệt đới Bộ nông nghiệp Trung Quốc diện
tích đã là 467.000 ha, diện tích cho quả là 141.000 ha, sản lợng là 414.000 tấn.
Trong 13 năm trở lại đây diện tích tăng gấp 3 lần, sản lợng tăng gấp 4,5 lần.
Đây là quốc gia có khí hậu, đất đai và địa hình phù hợp với nghề trồng nhãn.
Không những vậy Trung Quốc còn là nớc có kinh nghiệm lâu đời về nghề trồng
nhãn. Bên cạnh đó các giống nhãn ở Trung Quốc thờng có năng suất và chất l-
ợng cao nh: Đại Ô Viên (Quảng Tây), Thạch Hiệp (Phúc Kiến)... ở Trung Quốc
nhãn chủ yếu phân bố ở khu vực á nhiệt đới nh Hoa Nam, Hoa Đông, Tây Nam

kê.
2.1.2.2. Tình hình sản xuất nhãn ở Việt Nam
ở nớc ta cây nhãn đợc trồng tập trung chủ yếu ở 2 miền đó là miền Bắc
và miền Nam. 2 miền Nam - Bắc do phân cách bởi dãy núi Trờng Sơn nên có
điều kiện khí hậu khác nhau, do đó các giống nhãn đợc trồng ở 2 miền cũng
khác nhau. Giống nhãn ở miền Bắc cây to hơn, giống nhãn ở miền Nam cây bé
và ra quả sớm hơn.
ở miền Bắc nhãn đợc trồng nhiều ở các tình đồng bằng Bắc Bộ nh Hng
Yên, Hải Dơng, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội, Hà Tây...ở tính cả vùng có khoảng
trên 2 triệu cây, tính theo mật độ trồng thờng thì diện tích trồng nhãn lên đến
20.000 - 31.250 ha. Ngoài ra nhãn còn đợc trồng ở vùng đất phù sa ven sông
Hồng, sông Mã, sông Lô, sông Thao.... và trên các vùng đồi ở các tỉnh Hoà Bình,
Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Quảng Ninh, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Thái Nguyên... một
số ít đợc trồng ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.
ở miền Nam nhãn đợc trồng ở các tỉnh nh: Cao Lãnh (Đồng Tháp), Vĩnh
Châu (Sóc Trăng), Cù Lao An Bình, Đồng Phú (Vĩnh Long)... đặc biệt ở các
tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre... diện tích trồng nhãn tăng rất nhanh.
Diện tích trồng nhãn của các vùng trong cả nớc ngày một tăng, dự báo
trong những năm tiếp theo diện tích trồng nhãn sẽ tăng thêm. 3/4 diện tích của
nớc ta là đồi núi, Việt Nam là nớc có điều kiện tự nhiên phù hợp cho sự sinh tr-
ởng, phát triển của cây nhãn do vậy sẽ có chủ chơng phát triển cây ăn quả ở các
tỉnh miền núi, cây nhãn có giá trị dinh dỡng cao, phổ thích ứng rộng sẽ đợc đa
vào trồng.
Bảng 2.2: Diện tích trồng nhãn của các vùng trong cả nớc
5
Tên vùng
Tổng diện tích
gieo trồng (ha)
Diện tích cho
sản phẩm (ha)

tiếng nh: Quảng Đông, Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quỳ Châu... ở đây họ
6
luôn quan tâm chú trọng tới việc chọn tạo các loại giống mới có chất lợng tốt
hơn, các giống này đợc xuất khẩu sang các nớc nh Mỹ, ấn Độ...
Thái Lan cũng là nớc trồng nhãn với quy mô lớn, diện tích trồng nhãn
cao thứ 2 trên thế giới. ở Thái Lan nhãn đợc trồng chủ yếu ở miền Bắc, Đông
Bắc và đồng bằng miền Trung, có những nơi nổi tiếng nh Chiêng Mai,
Lamphun, Prae...
Trung Quốc và Thái Lan là hai nớc có diện tích trồng nhãn cao nhất, nhì
thế giới, một số giống nhãn của 2 nớc đợc du nhập sang các nớc khác trên thế
giới nh: ấn Độ vào năm 1798, Châu Mỹ, Châu Phi, Australia và các vùng á
nhiệt đớim nhiệt đới có khí hậu đại dơng. Mỹ là quốc gia nhập nhãn từ năm
1930, thị trờng nớc Mỹ cũng rất a chuộng quả nhãn.
2.1.3.2. Sự phân bố nhãn trong nớc
ở nớc ta, cây nhãn đợc trồng lâu nhất và nổi tiếng nhất là nhãn ở chùa Phố
Hiến thuộc xã Hồng Châu- thị xã Hng Yên. Nhãn ở đây đợc trồng cách đây 300
năm, hiện nay nhãn đợc trồng nhiều ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ nh Hải Dơng,
Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội, Hà Tây, Hải Phong, Bắc Giang...
Phong trào phủ xanh đất trống đồi núi trọc đang đợc phổ biến và cây
nhãn là một trong những cây đợc chọn để trồng ở các tỉnh miền núi: Hoà Bình,
Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Yên Bái, Lào Cai... Diện tích vờn
nhãn cũng đợc mở rộng ra các vùng dọc theo sông Thao, sông Hồng, sông Đà,
sông Lô, sông Mã...
ở các tỉnh miền Nam nhãn cũng đợc phát triển đặc biệt là ở Vĩnh Long,
Bến Tre... diện tích trồng nhãn tăng rất nhanh.
2.2. Chất điều hoà sinh trởng
2.2.1. Tổng quan về chất điều hoà sinh trởng
Trên thực tế quá trình sinh trởng của cây luôn gắn liền với sự phát triển.
Sinh trởng và phát triển tốt là tiền đề cho cây trồng có năng suất cao, nó là kết
7

động sinh lý, các quá trình sinh trởng, phát triển của cây để đảm bảo mối quan
hệ hài hoà giữa các cơ quan, bộ phận trong cơ thể.
Song song với các Phytohormon đợc tổng hợp trong cơ thể thực vật, ngày
nay bằng con đờng hoá học con ngời đã tổng hợp nên hàng loạt các chất khác
nhau có hoạt tính sinh lý tơng tự với các chất điều tiết sinh trởng tự nhiên để
làm phơng tiện điều chỉnh sự sinh trởng, phát triển của cây nhằm cho năng suất
cao và phẩm chất tốt. Các chất điều chỉnh sinh trởng tổng hợp nhân tạo ngày
càng phong phú và đã có những ứng dụng rất rộng rãi trong nông nghiệp.
Về các chất điều chỉnh sinh trởng phát triển của thực vật đợc chia thành 2
nhóm có tác dụng đối kháng về sinh lý: Các chất kích thích sinh trởng và các
chất ức chế sinh trởng.
Các chất điều chỉnh sinh trởng mà ở nồng độ sinh lý có ảnh hởng kích
thích đến quá trình sinh trởng của cây đợc gọi là các chất kích thích sinh trởng,
bao gồm các chất: Auxin, Gibberellin, Xytokinin...
Còn các chất điều chỉnh sinh trởng nhìn chung có ảnh hởng ức chế lên
quá trình sinh trởng của cây đợc gọi là các chất ức chế sinh trởng, bao gồm:
Axit absxitic, Etylen, các chất phenol, các chất làm chậm sinh trởng (setardant),
các chất diệt cỏ (herbixit)...
Sự cân bằng giữa các chất và ức chế sinh trởng xảy ra khi cây trồng
chuyển từ giai đoạn sinh trởng sinh dỡng sang giai đoạn sinh trởng sinh thực và
biểu hiện bên ngoài chính là sự ra hoa.
Con ngời với trí thông minh và óc sáng tạo cùng với sự dày công nghiên
cứu đã tạo ra các hợp chất điều hoà sinh trởng để phục vụ cho lợi ích của mình.
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con ngời cũng ngày càng tăng và càng
đòi hỏi đi sâu nghiên cứu hơn nữa vào thế giới thực vật bao la.
2.3. Vai trò, tác dụng của các chất điều hoà sinh trởng
2.3.1. Vai trò, tác dụng của chất kích thích sinh trởng
9
2.3.1.1. Auxin
Auxin là phytohormon đợc phát hiện vào năm 1880 nhờ công của Darwin

Auxin gây tính hớng động của cây: Tính hớng quang và hớng địa.
Auxin gây ra hiện tợng u thế ngọn. Đây là một hiện tợng phổ biến trong
cây khi chồi ngọn hoặc rễ chính sinh trởng sẽ ức chế sinh trởng chồi bên và rễ
bên.
Auxin kích thích sự hình thành rễ, đặc biệt là rễ bất định trên cành giâm,
cành chiết và trên mô nuôi cấy.
Auxin kích thích sự hình thành, sự sinh trởng của quả và tạo quả không
hạt. Tế bào trứng sau khi thụ tinh đã tạo nên hợp tử và sau đó phát triển thành
phôi. Phôi hạt là nguồn tổng hợp auxin nội sinh quan trọng, khuyếch tán vào
bầu và kích thích sự lớn lên của bầu thành quả. Vì vậy quả chỉ đợc hình thành
khi có sự thụ tinh. Nếu không có quá trình thụ tinh thì không hình thành phôi và
hoa sẽ bị rụng. Việc xử lý auxin ngoại sinh cho hoa sẽ thay thế đợc nguồn auxin
nội sinh vốn đợc hìn thành trong phôi và do đó mà không cần quá trình thụ
phấn, thụ tinh bầu nhuỵ vẫn lớn lên thành quả đợc nhờ auxin ngoại sinh. Trong
trờng hợp này quả không qua thụ tinh do đó không có hạt.
Auxin kìm hãm sự rụng của lá, hoa, quả vì nó ức chế sự hình thành tầng
rời ở cuống lá, hoa, quả vốn đợc cảm ứng bởi các chất ức chế sinh trởng.
Auxin ảnh hởng đến sự vận động của chất nguyên sinh, tăng tốc độ lu
động của chất nguyên sinh, ảnh hởng lên các quá trình trao đổi chất: Kích thích
sự tổng hợp các polyme và ức chế phân huỷ chúng, ảnh hởng đến các hoạt động
sinh lý nh quang hợp, hô hấp, sự vận chuyển vật chất trong cây.
2.3.1.2. Gibberellin (GA
3
)
Gibberellin là nhóm phytohormon thứ 2 phát hiện sau auxin. Từ việc
nghiên cứu bệnh lý "bệnh lúa von" một loại bệnh rất phổ biến của các nớc trồng
lúa phơng đông thời bấy giờ, dẫn đến nghiên cứu cơ chế gây bệnh và cuối cùng
11
tách đợc hàng loạt các chất là sản phẩm tự nhiên của mầm bệnh cũng nh từ thực
vật bậc cao gọi là gibberellin.

2
Hiệu quả sinh lý rõ rệt nhất của GA là kích thích mạnh mẽ sự sinh trởng
kéo dài của thân, sự vơn dài của lóng cây hoà thảo. Hiệu quả này có đợc là do
ảnh hởng kích thích đặc trng của GA lên phá giãn của tế bào theo chiều dọc. Vì
vậy khi xử lý GA cho cây đã làm tăng nhanh sự sinh trởng sinh dỡng, tăng sinh
khối của chúng.
GA ảnh hởng rất rõ rệt lên sự sinh trởng của các đột biến lùn. Các nghiên
cứu về trao đổi chất di truyền của GA đã khẳng định rằng các đột biến lùn của
một số thực vật nh ngô, đậu Hà Lan (chiều cao cây cũng chỉ bằng khoảng 20%
chiều cao cây bình thờng) là các đột biến gen đơn giản dẫn đến sự thiếu những
gen nào đấy chịu trách nhiệm tổng hợp các enzym của những phản ứng nào đó
trên con đờng tổng hợp GA mà cây không thể hình thành đợc GA hoặc 1 lợng
rất nhỏ. Với những đột biến này thì việc bổ sung GA ngoại sinh sẽ làm cho cây
sinh trởng bình thờng. Vì phản ứng của các đột biến lùn rất nhạy cảm với GA
nên ngời ta sử dụng các đột biến này để test thử xác định hàm lợng GA bằng
phơng pháp Biotest.
GA kích thích sự này mầm của hạt và củ, do đó nó có tác dụng đặc trng
trong việc phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ của củ và hạt. Trong trờng hợp này GA
kích thích sự tổng hợp enzym amylaza và các enzym thuỷ phân khác nh
proteaza, phosphataza... và làm tăng hoạt tính của các enzym này, chính vì vậy
mà xúc tiến quá trình phân hủy tinh bột thành đờng cũng nh polymer thành
monomer khác tạo điều kiện về nguyên liệu và năng lợng cho quá trình nảy
mầm. Trên cơ sở đó, nếu xử lý GA ngoại sinh thì có thể phá bỏ trạng thái ngủ
nghỉ của hạt, củ......kể cả trạng thái nghỉ sâu.
Trong điều kiện thích hợp GA kích thích sự ra hoa rõ rệt. ảnh hởng đặc
trng của GA lên sự ra hoa là kích thích sự sinh trởng kéo dài và nhanh chóng
của ngồng hoa. Vì vậy mà trong học thuyết hormon ra hoa (florigen) của
Trailachyan thì GA đợc xem nh là một thành viên của tổ hợp florigen. Xử lý
13
GA cho cây ngày dài thì chúng có thể ra hoa trong điều kiện ngày ngắn và làm

Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng Xytokinin đợc hình thành chủ yếu
trong hệ thống rễ của thực vật. Ngoài ra một số cơ quan còn non đang sinh tr-
ởng mạnh cũng có khả năng tổng hợp Xytokinin nh chồi, lá non, tợng tầng...
14
Xytokinin đợc vận chuyển trong cây có thể ở dạng liên kết và dạng tự do cũng
tơng tự nh phytohormon khác. ở trong cây chúng bị phân giải bằng các enzym,
tạo nên sản phẩm cuối cùng là urê.
* Vai trò sinh lý của Xytokinin
Hiệu quả đặc trng nhất của Xytokinin đối với thực vật là kích thích sự
phân chia tế bào mạnh mẽ. Vì vậy mà ngời ta xem chúng nh là các chất hoạt
hoá sự phân chia tế bào. Có đợc hiệu quả này là do Xytokinin hoạt hoá mạnh
mẽ sự tổng hợp axit nucleic và protein. Xytokinin có mặt trong các ARN vận
chuyển.
Xytokinin ảnh hởng rõ rệt và rất đặc trng lên sự phân hoá cơ quan của
thực vật, đặc biệt là sự phân hoá chồi. Từ lâu ngời ta đã chứng minh rằng sự cân
bằng tỷ lệ giữa auxin (phân hoá rễ) và Xytokinin (phân hoá chồi) có ý nghĩa
quyết định trong quá trình phát sinh hình thái của mô nuôi cấy invitro cũng nh
trên cây nguyên vẹn. Nếu tỷ lệ auxin cao hơn xytokinin thì kích thích sự ra rễ
còn tỷ lệ Xytokinin cao hơn auxin sẽ kích thích sự xuất hiện và phát triển chồi.
Để tăng hệ số nhân giống ngời ta tăng nồng độ Xytokinin trong môi trờng nuôi
cấy trong giai đoạn tạo chồi invitro...
Trên cây nguyên vẹn, khi hệ thống rễ phát triển mạnh sẽ là lúc cây trẻ và
sinh trởng mạnh. Nếu hệ thống rễ bị tổn thơng thì cơ quan trên mặt đất chóng
già.
Xytokinin trong một số tổ hợp ảnh hởng lên sự nảy mầm của hạt và củ.
Vì vậy nếu xử lý Xytokinin cũng có thể phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ của củ, hạt,
chồi...
Ngoài ra trong mỗi tơng tác với auxin, xytokinin có ảnh hởng tới u thế
ngọn của cây. Xytokinin làm yếu hiện tơng u thế ngọn, làm phân cành nhiều.
Chính vì vậy mà từ rễ (cơ quan tổng hợp Xytokinin) lên chồi ngọn (cơ quan

3
O
C
H
OH
CH
3
C
H
C
CH
3
CH
COOH
dinh dỡng, bị thơng tổn, bị bệnh... Sự tăng nhanh hàm lợng này liên quan đến sự
tổng hợp mới ABA nhiều hơn là sự chuyển từ dạng liên kết sang dạng tự do.
* Vai trò sinh lý của axit absxixic (ABA)
Axit absxixic là một chất ức chế sinh trởng rất mạnh nhng nó không gây
hiệu quả độc khi ở nồng độ cao.
Kiểm tra sự rụng: Vai trò của ABA trong việc điều chỉnh sự rụng đã đợc
phát hiện đầu tiên cùng với sự phát hiện ra ABA và coi nó nh một chất điều
chỉnh tự nhiên sự rụng của cơ quan. ABA đã kích thích sự xuất hiện và nhanh
chóng hình thành tầng rời ở cuống. Tuy nhiên chức năng điều chỉnh sự rụng còn
gắn liền với các hormon khác nh Ethylen và auxin.
Điều chỉnh sự ngủ nghỉ: Trong cơ quan đang ngủ nghỉ hàm lợng ABA
tăng gấp 10 lần lớn hơn thời kỳ dinh dỡng. Sự ngủ nghỉ kéo dài cho đến khi
hàm lợng ABA trong chúng giảm đến mức tối thiểu. Khi xử lý lạnh để phá bỏ
sự ngủ nghỉ thì hàm lợng ABA giảm 37% cho quả và 70% cho hạt, đồng thời
hàm lợng GA tăng lên tơng ứng. Do vậy từ trạng thái ngủ nghỉ chuyển sang
trạng thái này mầm có sự biến đổi tỷ lệ ABA/GA trong chúng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status