TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
KHOA KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH
BÁO CÁO
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT VỐN FDI
VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 - 2013
NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN :
LỚP :
TRỊNH THỊ THUỲ LINH
LÊ VŨ KHÁNH LINH
TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG A K11
Hải Phòng, năm 2014
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI 3
1.1. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Đặc điểm 4
1.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
1.1.4 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các nước đang phát
triển 7
1.2 Tổng quan về thu hút FDI 8
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút FDI 8
1.2.3 Kinh nghiệm thu hút FDI của một số nước ASEAN 9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN FDI VÀO VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2011-2013 13
2.1 Sơ lược thực trạng thu hút vốn FDI tại Việt Nam 13
2.2 Thực trạng thu hút FDI của Việt Nam giai đoạn 2011-2013 15
2.2.1 Theo quy mô đầu tư 15
Doanh nghiệp
Dịch vụ
Nông nghiệp
Xã hội
Khoa học công nghệ
Tổ chức thương mại thế giới
Tổng sản phẩm quốc nội
Tổng sản phẩm quốc dân
Đầu tư nước ngoài
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang từng bước hoà nhập vào nền kinh tế
thế giới. Trong nhiều thập kỉ qua, thế giới đang diễn ra sự bùng nổ mạnh mẽ qua hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cả về quy mô và chất lượng. Đầu tư trực tiếp
nước ngoài là một trong những xu hướng nổi bật của nền kinh tế thế giới hiện nay, đưa
nền kinh tế của các quốc gia vào quá trình hội nhập và toàn cầu hoá. Hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài đã xuất hiện ở Việt Nam, như một tất yếu của sự phát triển, đã
đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam, góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế từ 7%-10% hằng
năm, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng kim
ngạch xuất nhập khẩu, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, nâng cao trình độ cán bộ quản
lí cũng như chất lượng đội ngũ lao động, xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật, …
Những thành tựu về kinh tế Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua, đặc biệt từ gian
đoạn 2006-2010 khẳng định sự đóng góp không nhỏ của hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài, cũng như sự cần thiết phải phân tích, nghiên cứu, dự báo tình hình thu hút
vốn FDI tại Việt Nam trong những năm tiếp theo. Với kế hoạch kinh tế 5 năm 2011-
2015 của Đảng và Nhà nước, những thuận lợi bước đầu và kết quả khả quan của tình
hình FDI trong giai đoạn 2011-2013 là một trong những yếu tố đánh giá chính xác và
là nhân tố quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế cũng như hoàn thành mức chỉ
tiêu đã đề ra trong nửa cuối của giai đoạn 2014-2015. Do đó, để giúp có cái nhìn trực
Pháp, Hà Lan… đầu tư vào châu Á để khai thác tài nguyên thiên nhiên cho các công ty
của chính quốc. Đến thể kỷ 19, khi nền công nghiệp phát triển, quá trình tích tụ tập
trung tư bản phát triển nhanh chóng, việc đầu tư trong nước không còn mang lại nhiều
lợi nhuận vì lợi thế so sánh không có nữa, để tăng lợi nhuận các nước tư bản đầu tư
vào các nước lạc hậu hơn vì yếu tố sản xuất rẻ nên lợi nhuận cao. Do vậy, sự dư thừa
tích tụ tư bản trong nước và sự chênh lệch tích tụ tư bản trên thế giới dẫn đến tất yếu
có một luồng vốn chảy từ các nước dư thừa tư bản sang các nước thiếu tư bản.
Luồng vốn tư bản này có lợi cho cả nước xuất khẩu tư bản và nước nhập khẩu
tư bản. Các công ty tư bản lớn cần nguồn nguyên liệu và tài nguyên thiên nhiên ổn
định, giá rẻ cho sản xuất. Điều đó giúp cho họ vừa có lợi nhuận cao vừa giữ được vị trí
độc quyền. Bên cạnh đó, các nước cần vốn đầu tư cũng rất cần vốn để phát triển kinh
tế. Tuy nhiên, các nước tư bản phát triển lại muốn đầu tư vào nước nào đó phải có điều
kiện như cơ sở hạ tầng đủ để đảm bảo cho các hoạt động sản xuất và một số ngành phụ
trợ để phục vụ cho sản xuất đời sống. Còn những nước lạc hậu thì khi đầu tư vào đó họ
phải dành một phần cho xây dựng cơ sở hạ tầng và các ngành dịch vụ để phục vụ yêu
cầu sản xuất và đời sống. Vì vậy mà vào đầu thế kỷ 19, luồng vốn đầu tư có xu hướng
chảy vào các nước phát triển.
Do nền kinh tế tư bản phát triển có tình chu kỳ, sau mỗi chu kỳ kinh tế nền kinh
tế các nước công nghiệp lại rơi vào khung hoảng, khi vượt qua vào giai đoạn này và
tiếp tục phát triển thì họ phải đổi mới tư bản cố định. Đầu tư ra nước ngoài là giải pháp
tốt nhất để các nước công nghiệp phát triển có thể chuyển may móc và thiết bị cần
thay thế sang các nước kém phát triển và thu hối chi phí không nhỏ bù đăp cho mua
sắm may móc mới. Ngày này khi khoa học phát triển mạnh, chu kỳ kinh doanh ngày
càng ngắn thì yêu cầu đổi mới càng cấp bạch, vì thế các nước phát triển phải luôn tìm
cho mình một thị trường để tiêu thụ công nghệ lạc hậu đó. Bên cạnh đó, các nước tiếp
3
nhận đầu tư, đặc biệt là những nước mới giành độc lập, bắt tay vào phát triển kinh tế
rất cần một lượng tư bản lớn để thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo. Do
đó, đầu tư ra nước ngoài là lựa chọn tốt nhất cho cả nước phát triển và nước đang phát
triển.
nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải
lợi tức.
- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu
trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tư nước ngoài được quyền lựa chọn lĩnh vực đầu tư,
hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do
đó sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. Vì thế, hình thức này mang tính
khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại
gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế nước nhận đầu tư.
- FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư.
Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật
tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý.
1.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
a) Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Enterprise with 100% foreign
capital)
- Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước
ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
của mình.
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập ở Việt Nam được hợp
tác với nhau và/hoặc nhà đầu tư nước ngoài để thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu
tư nước ngoài mới tại Việt Nam.
- Vốn pháp định: tối thiểu 30% vốn đầu tư. Đối với các dự án xây dựng công
trình kết cấu hạ tầng, dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng,
dự án có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% và phải được
cơ quan Nhà Nước cấp giấy phép đầu tư chấp thuận.
b) Doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài
(Join venture enterprise)
- Là hình thức đầu tư mà một doanh nghiệp mới được thành lập trên cơ sở góp
vốn của 2 bên hoặc nhiều bên Việt Nam và nước ngoài.
- Vốn pháp định: tối thiểu 30% vốn đầu tư, bên nước ngoài đóng góp tối thiểu
30% vốn pháp định. Đối với các dự án xây dựng, công trình kết cấu hạ tầng tại các
quyết định quản lý của công ty.
g) Đầu tư thực hiện việc mua lại và sáp nhập doanh nghiệp
- Là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt
động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước
6
nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu
tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào.
• Theo điều 4 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2005, các nhà đầu tư
nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam dưới các hình thức sau đây:
- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh;
- Doanh nghiệp liên doanh;
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
1.1.4 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các nước đang phát
triển
a) Tác động tích cực
Thứ nhất, FDI giải quyết vấn đề thiếu vốn trong giai đoạn phát triển kinh tế. Vì
trong giai đoạn này, các nước đang phát triển thường gặp phải vấn đề nan giải là thiếu
vốn đầu tư do tích lũy nội bộ thấp hoặc không có tích lũy. Điều đó đã hạn chế đến quy
mô đầu tư và nhu cầu đổi mới kỹ thuật cũng gây ra tình trạng mất cân đối trong xuất
khẩu và nhập khẩu, cán cân thanh toán thường xuyên bị thâm hụt, đất nước thiếu ngoại
tệ. Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài có thể giải quyết được khó khăn về khả năng
tích lũy vốn thấp và bù đắp các khoản thiếu hụt ngoại tệ trong cán cân thanh toán.
Thứ hai, FDI góp phần tạo ra việc làm, giúp giải quyết vấn đề thất nghiệp tại
các nước đang phát triển.
Thứ ba, FDI là cầu nối cho các nước đang phát triển tiếp thu công nghệ, kỹ
thuật tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý và tác nghiệp của các nhà đầu tư
nước ngoài.
Thứ tư, FDI góp phần cải tiến cơ cấu kinh tế, đưa nền kinh tế tham gia phân
công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ, tạo ra môi trường cạnh tranh, động lực thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế cả về lượng cũng như về chất.
không chỉ về số lượng mà còn cả chất lượng người lao động. Các nhà đầu tư nước
ngoài luôn mong muốn tìm kiếm một thị trường lao động dồi dào và giá rẻ, nhưng
cũng đòi hỏi cao về chất lượng lao động như: tác phong, kỷ luật, kỹ năng, kiến thức,
trình độ.
• Đất đai (Natural Resources): Đất đai ở đây bao gồm cả đất đai nông nghiệp, đất
rừng, biển và tài nguyên thiên nhiên. Nó có vai trò đặc biệt, là tư liệu sản xuất của sản
xuất nông nghiệp và công nghiệp khai khoáng, luyện kim và công nghiệp chế biến.
Đất nước có tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên có giá trị cao thì càng thu hút đầu tư
nước ngoài.
8
• Công nghệ (Technology): Là đầu vào quan trọng làm thay đổi phương pháp sản
xuất, nâng cao năng suất lao động. Ở các nước đang phát triển, công nghệ là một mặt
hạn chế, thường phải nhập khẩu dây chuyền, máy móc của các nước phát triển.
• Các yếu tố khác:
- Lạm phát: Lạm phát ở các nước phát triển khiến dòng vốn bị ngưng trệ, dẫn đến
việc đổ vốn sang các nước đang phát triển để thu về lợi nhuận
- Lãi suất: Lãi suất cho vay ở các nước nhập khẩu vốn đầu tư ảnh hưởng rất lớn
đối với các nhà đầu tư, bởi đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới tổng cầu và tỷ suất
lợi nhuận. Lãi suất cho vay càng cao thì càng không hấp dẫn nhà đầu tư.
b) Các nhân tố về chính trị:
Các quốc gia nhập khẩu vốn đầu tư có tình hình chính trị ổn định thì càng có lợi
thế thu hút đầu tư hơn so với những quốc gia có tranh chấp, nội chiến, đình công, …
Bên cạnh đó, luật pháp của nước nhập khẩu vốn càng tạo cơ hội cho nhà đầu tư nước
ngoài thì càng thu hút đầu tư.
c) Các nhân tố về xã hội:
Ô nhiễm môi trường là một yếu tố quan trọng trong việc thu hút đầu tư, bởi
theo lý thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith, luôn luôn có sự tác động qua lại giữa
lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài và xã hội ở các nước nhận vốn đầu tư. Trên thực tế,
việc đầu tư công nghệ quá lỗi thời, gây ô nhiễm môi trường, hoặc việc sản xuất kinh
doanh của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài bất chấp quy định về xử lý chất thải
pháp luật. Bên cạnh ðó, Nhà nýớc trả lýõng rất cao cho viên chức. Hàng tháng họ phải
trích lại một phần lýõng coi nhý là một khoản tiền tiết kiệm khi về hýu, nếu trong quá
trình công tác mà phạm tội tham ô thì sẽ bị cắt khoản tích lũy này và cách chức. Họ
không những mất số tiền do mình tích cóp nhiều nãm, mà có thể phải chịu hình phạt
tù. Nhiều ngýời gọi ðây là quỹ dýỡng liêm cho quan chức.
- Thứ ba, Chính phủ Singapore ðã ban hành những chính sách khuyến khích các
nhà tý bản nýớc ngoài bỏ vốn vào ðầu tý. Singapore áp dụng chính sách ýu ðãi rất ðặc
biệt, ðó là: khi kinh doanh có lợi nhuận, nhà ðầu tý nýớc ngoài ðýợc tự do chuyển lợi
nhuận về nýớc; Nhà ðầu tý có quyền cý trú nhập cảnh (ðặc quyền về nhập cảnh và
nhập quốc tịch); Nhà ðầu tý nào có số vốn ký thác tại Singapore từ 250.000 Ðô la
Singapore trở lên và có dự án ðầu tý thì gia ðình họ ðýợc hýởng quyền công dân
Singapore.
b) Kinh nghiệm của Thái Lan:
10
- Ngay từ giai đoạn 1959 - 1971, Thái Lan đã thực hiện Chiến lược phát triển
kinh tế thay thế hàng nhập khẩu. Quốc gia này đã có chủ trương giảm dần đầu tư từ
Chính phủ, khuyến khích đầu tư tư nhân. Theo đó, năm 1959, Thái Lan đã thành lập
Bộ Đầu tư và đến năm 1960 đã ban hành Đạo luật Đầu tư. Giai đoạn 1972 - 1996, Bộ
Đầu tư Thái Lan đã ban hành chính sách thu hút các chuyên gia, lao động chất lượng
cao từ bên ngoài với những ưu đãi về đất, việc làm để thực hiện Chiến lược phát triển
kinh tế theo hướng xuất khẩu. Từ năm 2005, chính sách thu hút FDI của Thái Lan có
sự biến chuyển theo hướng đầu tư chọn lọc với chính sách ưu tiên nhà đầu tư trong
nước, hỗ trợ phát triển các loại hình dịch vụ phi sản xuất và các loại hình dịch vụ tài
chính. Thống kê cho thấy, FDI vào Thái Lan đầu tư nhiều nhất là lĩnh vực công
nghiệp, sau đó là thương mại, bất động sản, xây dựng…
- Bên cạnh đó, Thái Lan còn thực hiện rất nhiều cải cách về luật. Luật xúc tiến
thương mại quy định rõ ràng cơ quan nào, ngành nào có nhiệm vụ gì trong việc xúc
tiến đầu tư Thái Lan giảm giá thuê nhà đất, văn phòng, cước viễn thông, vận tải Các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp từ 3
đến 8 năm, miễn thuế nhập khẩu 90% đối với nguyên liệu, 50% đối với máy móc mà
- Tạo quỹ đất và những chính sách thuê đất nhiều ưu đãi cho nhà đầu tư nước
ngoài.
- Tạo môi trường kinh doanh, môi trường chính trị ổn định.
12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN FDI
VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2013
2.1 Sơ lược thực trạng thu hút vốn FDI tại Việt Nam
Hơn 20 năm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, kinh tế nước ta có nhiều
đổi mới. Sản phẩm của các doanh nghiệp FDI với nhiều mẫu mã và chất lượng cao,
phần đưa về chính quốc để hoàn chỉnh, phần xuất khẩu, phần bổ sung vào quỹ hàng
hóa xã hội của nước ta để bớt phần nhập khẩu trực tiếp. Với sự đóng góp khoảng 16 –
18% GDP trong những năm gần đây, FDI đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
nước ta theo đường hướng mới, được kì vọng là động lực quan trọng cho công cuộc
đổi mới.
Đây cũng là một trụ cột không thể thiếu của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập
sâu rộng, góp phần làm thay đổi phương thức sản xuất, phân phối, tiêu dùng và lối
sổng của người Việt Nam theo hướng tiếp cận văn minh, hiện đại.
Một trong những bước ngoặt lớn khiến cho FDI vào Việt Nam thay đổi mạnh
mẽ đó là sự hội nhập với kinh tế thế giới, điển hình là việc năm 2007 Việt Nam trở
thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO
• Trước khi Việt Nam ra nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 và việc kí kết Hiệp định thương mại
Việt Mỹ đã có tác động lớn đến thái độ của nhà đầu tư. Tuy nhiên dòng vốn FDI vào
Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2003 vẫn không có nhiều chuyển biến so với giai
đoạn trước đó. Lý do là cùng thời điểm đó, Việt Nam lại thực hiện mở cửa thị trường
chứng khoán khiến cho dòng vốn chảy vào kênh khác hơn là FDI. Nhìn chung trong
giai đoạn 2001 – 2006, vốn đầu tư nước ngoài cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao
hơn năm trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án có quy
mô vừa và nhỏ là chủ yếu. Việc giải ngân cũng khá tốt và đạt mức cao nhất trong giai
đoạn 2000 – 2004 (73,5%) nhưng đến năm 2006 giảm mạnh xuống chỉ còn 30,4%.
tổng vốn đăng kí là gần 21 500 triệu USD. Năm 2010, Việt Nam thu hút được 1 115
dự án với tổng vốn đăng kí là 18 595 triệu USD .(nguồn: theo số liệu từ Tổng cục
thống kê và trung tâm Nghiên cứu Đầu tư nước ngoài). Sau khi Việt Nam gia nhập
WTO, tổng vốn đăng kí tăng lên rất nhiều so với trước nhưng vấn đề đặt ra là ở chỗ
tốc độ tăng của vốn thực hiện lại không tương xứng (chỉ giải ngân được từ 20% đến
hơn 40% số vốn đăng kí) tức là quá trình giải ngân diễn ra quá chậm chạp một phần là
bởi dự án dài hạn kéo dài nhiều năm nên giải ngân từ từ, tình hình tài chính của chủ
14
đầu tư gặp khó khăn; còn chủ yếu là do giải phóng mặt bằng chậm chạp, cơ sở hạ tầng
quá kém khiến dự án FDI không thực hiện được.
Trong giai đoạn này FDI vẫn tập trung vào công nghiệp – xây dựng, theo số
liệu cả năm 2010, ngành này vẫn dẫn đầu về số lượt dự án đăng kí cấp mới và dự án
tăng vốn đầu tư, chiếm hơn 50% tổng vốn đầu tư đăng kí. Cùng với việc thực hiện lộ
trình thương mại dịch vụ trong WTO, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh thu hút FDI phát
triển các ngành dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất xuất khẩu. Tính đến hết năm 2009
cơ cấu FDI đã thay đổi rất nhiều so với năm 2007, khi FDI vào dịch vụ mới chỉ chiếm
25% thì đến 2009 đã tăng lên 41% (nguồn: tổng cục thống kê). Nguyên nhân là do rất
nhiều các hạn chế thâm nhập của Việt Nam về dịch vụ đã được dỡ bỏ theo cam kết gia
nhập WTO trong đó có các han chế trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, phân phối, giáo
dục.
Cho đến nay đã có 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, trong đó
69,1% đến từ các nhà đầu tư Châu Á, 16,2% từ EU và 11,8% từ các nhà đầu tư Mĩ.
Đáng lưu ý, trong những năm gần đây dòng FDI từ Trung Quốc đổ vào nước ta là khá
lớn và trong năm 2010, Trung Quốc đã đứng hàng thứ 11, sau top 10 có vốn đăng kí
vào Việt Nam, cho thấy xu hướng các nhà đầu tư Trung Quốc cũng đang chuyển sự
chú ý đáng kể đến Việt Nam. Từ trước đến nay FDI chủ yếu vẫn tập trung khu vực
Đông nam bộ, tuy nhiên trong hai năm 2008 - 2009 Vùng trọng điểm miền Trung nổi
lên mạnh mẽ, thu hút được lượng FDI tăng đột biến. Cho đến năm 2007, FDI vào khu
vực này chỉ mới chiếm 6% tổng vốn đăng kí cả nước thì đến hết năm 2009 đã thu hút
được 820 dự án đầu tư với 51,73 tỉ USD chiếm 23% tổng vốn đăng kí cả nước.
472
(Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài)
Năm 2011 đánh dấu sự kiện lượng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam giảm mạnh.
Lượng vốn thực hiện hầu như không tăng, vẫn xấp xỉ mức 11 tỷ USD của năm 2010.
Trong khi đó, lượng vốn đăng ký lại có xu hướng giảm mạnh, chỉ bằng 74% so với
năm trước. Tuy lượng vốn đăng ký cấp mới giảm 65% so với năm 2010, nhưng lượng
vốn đăng ký tăng thêm lại có xu hướng tăng thêm 165% so với năm ngoái. Bên cạnh
đó, các nhà đầu tư trong năm 2011 cũng dè dặt hơn, số dự án cấp mới giảm chỉ bằng
88% số dự án cấp mới trong năm 2010, số dự án tăng vốn cũng không thoát khỏi xu
hướng chung, chỉ còn bằng 95% so với năm 2010.
Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do các doanh nghiệp trong năm 2011 gặp
nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Lạm phát tăng, lãi suất ngân hàng cao, giá
vật tư, thiết bị, nguyên vật liệu cũng không ổn định khiến các nhà đầu tư e ngại. Tuy
nhiên, lượng vốn đăng ký tăng thêm lại không giảm vì trong năm 2011, rất nhiều dự án
đầu tư vẫn còn đang thi công như: Công ty TNHH Ðiện lực Jaks Hải Dýõng (nhà máy
nhiệt ðiện BOT Hải Dýõng) với tổng vốn ðầu tý ðãng ký 2,26 tỷ USD; dự án Công ty
TNHH sản xuất First Solar Việt nam, thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo do
Singapore ðầu tý tại TP Hồ Chí Minh với tổng vốn ðầu tý hõn 1 tỷ USD; dự án Công
ty TNHH Thông tin & Viễn Thông Di ðộng S-telecom với tổng vốn ðầu tý là 452,38
triệu USD ðầu tý vào lĩnh vực xây dựng khai thác dịch vụ mạng và cung cấp dịch vụ
thông tin di ðộng; dự án Công ty TNHH lốp xe Việt Luân với tổng vốn ðầu tý 400
16
triệu USD ðầu tý vào lĩnh vực sản xuất lốp xe do Trung Quốc ðầu tý. Ðiều ðó cho thấy
niềm tin của nhà đầu tư vào mảnh đất màu mỡ cơ hội này. Theo Điều tra triển vọng
đầu tư thế giới (WIPS) 2010-2012 của Diễn đàn Thương mại và phát triển Liên hợp
quốc (UNCTAD) thì Việt Nam đứng thứ nhất trong khối ASEAN về mức độ hấp dẫn
FDI và là một trong 10 nền kinh tế hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Bước sang năm 2012, nhìn chung, tình hình thu hút FDI không mấy khả quan
hơn năm 2011. Số vốn được giải ngân trong năm 2012 giảm xuống còn khoảng 10 tỷ
USD, chỉ bằng 95,1% so với năm 2011. Lượng vốn đăng ký cũng giảm mạnh, từ hơn
(Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài)
Nhìn chung giai đoạn 2011 - 2013 đã có nhiều sự thay đổi trong việc thu hút
nguồn vốn FDI. Trong bối cảnh kinh tế thế giới bất ổn và nền kinh tế trong nước gặp
18
nhiều khó khăn, lượng vốn FDI vẫn có những bước tiến ấn tượng. Điều đó cho thấy
các nhà đầu tư đặt niềm tin lớn vào nền kinh tế Việt Nam.
2.2.2 Theo hình thức FDI thực hiện ở Việt Nam
Năm 2011, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế mà lượng vốn FDI đổ
vào Việt Nam giảm mạnh. Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ các hình thức đầu tư FDI, ta
có thể thấy một số điểm nổi bật.
Bảng 2.2: Tình hình thu hút FDI năm 2011 theo hình thức đầu tư
T
T
Hình thức ðầu tý
Số dự án
cấp mới
Vốn ðãng
ký cấp mới
(triệu USD)
Số lýợt
dự án
tãng
vốn
Vốn
ðãng ký
tãng
thêm
(triệu
USD)
Vốn ðãng
Số lýợt
dự án
tãng
vốn
Vốn
ðãng ký
tãng
thêm
(triệu
USD)
Vốn ðãng
ký cấp
mới và
tãng thêm
(triệu
USD)
1
100% vốn nýớc
ngoài
933 5.649,02 389 4.838,38 10.487,39
2 Liên doanh 164 2.203,50 40 191,54 2.395,05
3 Cổ phần 3 1,58 5 129,12 130,70
4
Hợp ðồng hợp tác
kinh doanh
0 0 1 0,20 0,20
Tổng số 1.100 7.854,10 435 5.159,24 13.013,34
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài
19
Bảng 2.4: Tình hình thu hút FDI năm 2013 theo hình thức đầu tư
Ðầu tý theo BOT,
BT, BTO
2 2.063,05 0 0,00 2.063,05
4 Công ty cổ phần 0 0 4 20,65 20,65
Tổng số 1.275 14.272,36 472 7.356 21.628,04
(Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài)
Nhìn chung trong giai đoạn 2011 - 2013, hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên
doanh.
Năm 2011, số công ty 100% vốn nước ngoài là 899 công ty, trong cả hai năm
2012 và 2013, số công ty được thành lập tăng mạnh. Năm 2012, số công ty 100% vốn
nước ngoài tăng thêm 3,78%, lên 933 công ty. Năm 2013, mức tăng là 18,11% so với
năm 2012, đạt 1102 công ty. Số lượt dự án tăng vốn cũng trong xu hướng tăng, năm
2011 có 331 lượt; năm 2012 có 389 lượt, tăng 17,11%; năm 2013 có 425 lượt, tăng
9,25% so với năm 2012. Tuy nhiên, khác với xu hướng đầu tư thành lập công ty 100%
vốn nước ngoài, diễn biến nguồn vốn đầu tư lại có xu hướng giảm sút trong năm 2012
và đột ngột tăng trong năm 2013. Năm 2012, lượng vốn cấp mới cho các doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài xấp xỉ 5,6 tỷ USD, giảm 13,25% so với năm 2011, nhưng số
lượng công ty thành lập lại tăng, điều đó cho thấy trong năm 2012, các công ty 100%
vốn nước ngoài thành lập tại Việt Nam có số vốn nhỏ, dự án không lớn. Điều đó cho
thấy khi thế giới đang rất khó khăn trong ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế,
các nhà đầu tư cũng thận trọng hơn. Tuy nhiên, trái với xu hướng giảm xuống của việc
đầu tư thành lập công ty mới, các nhà đầu tư trong năm 2012 lại rót nhiều vốn cho các
dự án tăng vốn cho các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Lượng vốn tăng thêm
trong năm 2012 đạt hơn 4 tỷ USD, gấp đôi lượng vốn đầu tư tăng thêm năm 2011.
20