Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
viện vật lý địa cầu
*** Báo cáo tổng kết
Nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo nghị định th
Việt Nam Italy, 2006-2008
nghiên cứu dự báo động đất mạnh khu
vực đông nam châu á có nguy cơ gây
sóng thần ảnh hởng đến bờ biển và hảI
đảo việt nam
(Mã số: 7EE1)
Chủ nhiệm : PGS.TS.Cao Đình Triều 7509
17/9/2009
6. PGS.TS. Cao Đình Triều chủ nhiệm
7. TSKH Ngô Thị L - Đồng chủ nhiệm
Phòng nghiên cứu Địa Động Lực Hà Nội, 2008
1 MỤC LỤC
Trang
Mục lục 1
Mở đầu 2
Chương I:
KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỘNG ĐẤT VÀ SÓNG THẦN
TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM
10
Chương II:
Tài liệu tham khảo 212
2
MỞ ĐẦU
1. Thông tin chung về nhiệm vụ hợp tác
1.1. Cơ sở pháp lý của việc thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế
1.1.1. Hợp đồng thực hiện nhiệm vụ số 44/2006/HĐ-NĐT, ký ngày 28 tháng 07 năm
2006:
Bên giao nhiệm vụ:
a. Bộ Khoa học và Công nghệ, Ông Tô Đình Huyến, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Xã
hội và Tự nhiên là đại diện.
b. Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Ông Bùi Công Quế, Trưởng ban Tài
chính - Kế toán là đại diện.
Bên nhận nhiệm vụ:
a. Cơ quan chủ trì nhiệm vụ: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Thuỷ, Viện trưởng Viện Vật lý
Địa cầu, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
b. Chủ trì nhiệm vụ (đồng chủ trì): PGS TS Cao Đình Triều, Trưởng phòng nghiên
cứu Viện Vật lý Địa cầu.
Điện thoại: CQ; 844 7564380;
Fax; 844 8364696
NR; 844 8236277
Mobile; 0913380853
1.4. Các cán bộ khoa học tham gia chính vào dự án
Số
TT
Họ và Tên Địa vị khoa học Nơi công tác
1 PGS TS Cao đình triều
(Đồng chủ nhiệm phía Việt Nam)
Nghiên cứu viên cao
cấp
Viện Vật lý Địa cầu
2 TSKH Ngô Thị Lư
(Đồng chủ nhiệm phía Việt Nam)
Nghiên cứu viên
chính
Viện Vật lý Địa cầu
3 ThS. Nguyễn Hữu Tuyên Nghiên cứu viên Viện Vật lý Địa cầu
4 ThS. Lê Văn Dũng Nghiên cứu viên Viện Vật lý Địa cầu
5 ThS. Phạm Nam Hưng Nghiên cứu viên Viện Vật lý Địa cầu
6 CN. Mai Xuân Bách Nghiên cứu viên Viện Vật lý Địa cầu
7 ThS. Thái Anh Tuấn Nghiên cứu viên Viện Vậtu lý Địa cầu
8 GS. TS. PANZA G. F.
(Chủ nhiệm phía Italy)
Nghiên cứu viên cao
cấp
Đại học tổng hợp Trieste
9 TS. A. Peresan Nghiên cứu viên
chính
Đại học tổng hợp Trieste
10 TS. F.Vaccari Nghiên cứu viên
chính
4
thế nữa, hiện tại, xu hướng lập các hệ thống cảnh báo sóng thần đang được chú ý tới với sự nỗ lực
của nhiều quốc gia.
1.6. Danh mục tài liệu giao nộp
(Theo hợp đồng số 44/2006/HĐ-NĐT)
Số
TT
Tên tài liệu Số
lượng
1 Báo cáo định kỳ tình hình thực hiện nhiệm vụ 05
2 Báo cáo tổng kết Khoa học của nhiệm vụ 15
3 Báo cáo tóm tắt tổng kết nhiệm vụ 15
4 Báo cáo thống kê kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 15
1.7. Danh mục sản phẩm KHCN
(Theo hợp đồng số 29/2004/HĐ-NĐT)
Số
TT
Tên sản phẩm Yêu cầu Khoa học
1 Chương trình tính lan truyền sóng thần. Theo quy chuẩn của Viện Hàn lâm Khoa
học thế giới thứ III.
2 Kết quả dự báo vùng nguồn động đất
gây sóng thần ảnh hưởng đến bờ biển và
hải đảo Việt Nam.
Xác định được vùng nguồn phát sinh động
đất có nguy cơ gây sóng thần ảnh hưởng
đến bờ biển và hải đảo Việt Nam.
3 Số liệu thực địa và kết quả phân tích về
5
Trên cơ sở các kết quả nghiên cho thấy:
1. Vận tốc truyền sóng P trung bình của lớp dưới vỏ Trái đất, ở độ sâu 50 km biến
động trong giới hạn 7,40 ÷ 8,10 km/s. Vận tốc sóng P cao (7,80 ÷ 8,10 km/s) trùng với khu
vực có vỏ đại dương như Biển Đông Việt Nam, Biển Philippin và Ân Độ Dương. Đới ranh
giới mảng được phản ánh trên tài liệu vận tốc sóng P như đới có giá trị vận tốc th
ấp. Giá trị
vận tốc thấp (P = 7,40 ÷ 7,70 km/s) trùng với cấu trúc Trường Sa và Kalimantan (Hình 2).
2. Vận tốc truyền sóng P trung bình của đỉnh manti (top of mantle), ở độ sâu 100 km
biến động trong giới hạn 7,80 ÷ 8,10 km/s. Vận tốc sóng P cao (8,00 ÷ 8,10 km/s) trùng với
khu vực có vỏ đại dương như Biển Đông Việt Nam, Biển Philippin và Ân Độ Dương. Đới
ranh giới mảng được phản ánh trên tài liệu vận tốc sóng P như đới có giá trị vận t
ốc thấp.
Giá trị vận tốc thấp (P = 7,80 ÷ 7,90 km/s) trùng với cấu trúc Trường Sa, bắc Kalimantan và
Banda (Hình 2).
3. Vận tốc truyền sóng P trung bình của quyển dẻo (quyển mềm), ở độ sâu 200 km
biến động trong giới hạn 8,10 ÷ 8,40 km/s. Vận tốc sóng P cao (8,00 ÷ 8,10 km/s) trùng với
khu vực có vỏ đại dương như Biển Đông Việt Nam, Biển Philippin và ấn Độ Dương. Giá trị
vận tốc thấp (P = 8,10 ÷ 8,20 km/s) trùng vớ
i cấu trúc Tây Bắc Việt Nam, bắc Sulawesi và
đảo Cocost (Hình 4).
4. Vận tốc truyền sóng P trung bình của phần dưới manti trên, ở độ sâu 300 km biến
động trong giới hạn 8,40 ÷ 8,70 km/s. Giá trị vận tốc thấp (P = 8,40 ÷ 8,60 km/s) trùng với
cấu trúc có vỏ đại dương như Biển Đông Việt Nam, Biển Philippin và Ân Độ Dương. Các
cấu trúc có vỏ lục địa như: Trường Sơn, Kho Rat, Kon Tum, Đà Lạt cũng có giá trị mật độ
th
ấp, nhỏ hơn 8,60 km/s
(Hình 5).
tuyến 110, đới đứt gãy Thuận Hải – Minh Hải, đới đứt gãy Phú Quý - Cảnh Dương, đới đứt
gãy Shabah và đới đứt gãy Palawan có biểu hiện rõ nét trên tài liệu trọng lực vệ tinh và vận
tốc sóng dọc P địa chấn ở
độ sâu trên 100 km. Các đứt gãy này có biểu hiện hoạt động động
đất mạnh và có thể là nguồn phát sinh động đất gây sóng thần ảnh hưởng tới bờ biển và hải
đảo Việt Nam.
4. Chương trình tính lan truyền sóng thần
Phần mềm mô phỏng lan truyền sóng thần được viết trên ngôn ngữ Fortran 77 (Do
GS Yanovskaya T.B., Đại học Tổng hợp Xanh Peterburg, và các GS Khoa Địa chất thuộc
Đại học Tổng hợp Triest viết trong năm 2007 theo nhiệm vụ hợ
p tác khoa học và Công nghệ
Việt Nam – Italy (2006-2008). Nó bao gồm 3 chương trình là Tsu.par, Tsu2d.par và
geosp.par. Thuật toán của ba chương trình này là dựa trên phương pháp hàm Green.
- Tsu.par tính mô phỏng lan truyền sóng thần trong một vùng biên có mực nước sâu
không thay đổi (H= const). Ưu điểm của chương trình này là tính được cả cho những vùng
nước nông hoặc đối với những nguồn động đất ven bờ.
- Tsu2d.par tính mô phỏng lan truyền sóng thần trong điều kiện địa hình đáy biển
không bằng phẳng. Tsu2d cho phép chúng ta đư
a vào bản đồ địa hình đáy biển khu vực sóng
truyền qua.
- Geosp.par tính toán thời gian tới và độ cao sóng đến trên cơ sở mô hình 2D đáy
biển.
5. Kết quả dự báo sóng thần ven biển và hải đảo Việt Nam theo một số kịch bản khác
nhau.
- Động đất cấp độ mạnh 8,85 độ Richter tại đới Manila có thể tạo nên sóng thần có độ
cao tại một số vị trí bờ biển và hải
đảo Việt Nam như sau: Quảng Ninh, cao 3,2 m và thời
gian sóng tới sau động đất là 240 phút (3,2 m và 240 phút); Hải Phòng (3,3 m và 235 phut);
Trái đất. Tuyển tập báo cáo Hội nghị KHKT ĐVL Việt
nam lần thứ 5, Tp. Hồ Chí Minh, trang 159 - 171.
7. Cao Đình Triều, Rogozhin E.A., Ngô Thị Lư, Nguyễn Hữu Tuyên, Mai Xuân
Bách, Lê Văn Dũng, Nguyễn Thanh Tùng, 2007. Sóng thần có thể đã có thể tác động đến
bờ biển Việt Nam. Tuyển tập báo cáo Hội nghị KHKT ĐVL Việt nam lần thứ 5, Tp. Hồ Chí
Minh, trang 172 - 181.
8. Cao Đình Triều, Phạm Nam Hưng, Cao Đình Trọng, 2007. Thiết l
ập danh mục
động đất, dự báo động đất ở Việt Nam trên cơ sở phần mềm CN. Tạp chí Địa chất, loạt A,
Số 300 (5-6), Hà Nội, trang 35 - 49.
9. Cao Đình Triều, 2007. Cổ sóng thần – Một định hướng nghiên cứu mới được triển
khai ở Việt Nam. Báo cáo khoa học Hội thảo ảnh hưởng của sóng thần đối với cộng đồng
dân cư ven biển đề xuất một s
ố biện pháp phòng tránh, Tp. Hai phòng, trang 26 - 37.
10. Cao Đình Triều, Lê Văn Dũng, Cao Đình Trọng, 2007. Bước đầu áp dụng
phương pháp tất định mới trong nghiên cứu tai biến động đất ở Việt Nam. Tạp chí Các Khoa
học về Trái đất, tập 29, số 4, Hà nội, trang 333- 341.
11. Cao Đình Triều, S. Tatiana, 2008. Mô hình cấu trúc vận tốc sóng dọc P của
Manti khu vực Đông Nam Châu á. Tạp chí Các Khoa học về Trái đất, tập 30, số 2, Hà nội,
trang 176- 184.
12. Cao Đình Triề
u, Thái Anh Tuấn, Cao Đình Trọng, 2008. Một số nét đặc trưng
về kiến tạo địa chấn khu vực Đông Nam Á. Tạp chí Địa chất, loạt A, Số 306 (5-6), Hà Nội,
trang 3 - 13.
13.Cao Dinh Trieu, Nguyen Huu Tuyen, Pham Nam Hung, Le Van Dung, Mai
Xuan Bach, G.F. Panza, A. Peresan, F. Vaccari, F. Romanelli, 2008. Some features of
seismic activity in Vietnam. ASEAN Journal on Science & Technology for Development,
Vol. 25, No. 1, p 95 - 116.
14. Cao Đình Triều, 2008. Tai biến động đất và sóng thần, Nhà xuất bản Khoa học
Kỹ thuật, Hà Nội, 156 trang.
1. PGS. TS. Cao Đình Triều, 15 ngày (2-16/10 năm 2006)
2. CN Mai Xuân Bách, 15 ngày (2-16/10 năm 2006)
Năm 2007:
1. ThS Lê văn Dũng, 10 ngày (12/10 - 22/10 năm 2007)
2. CN Mai Xuân Bách, 1 tháng (28/9 - 27/10 năm 2007)
Hai cán bộ Khoa học làm việc tại Viện Hàn Lâm KH Ucrain về cắt lớp sóng địa chấn
khu vực Đông Nam Châu á:
1. ThS Nguyễn Hữu Tuyên, (5/9 – 15/9 năm 2007)
2. ThS Phạm Nam Hưng, (5/9 – 15/9 năm 2007)
Năm 2008:
1. ThS. Phạm Nam Hưng, 30 ngày (15/10 - 14/11 năm 2008)
2. ThS. Thái Anh Tuấn, 30 ng ày
(15/10 - 14/11 năm 2008)
Ba cán bộ Khoa học làm việc tại Viện Hàn Lâm KH Ucrain về cấu trúc thạch quyển
khu vực Đông Nam Châu á:
1. ThS. Lê Văn Dũng, 10 ngày (10/7 – 19/7 năm 2008)
2. CN. Mai Xuân Bách, 10 ngày, (10/7 – 19/7 năm 2008)
3. PGS.TS. Cao Đình Triều, 10 ngày (10/7 – 19/7 năm 2008)
2.4.2. Cán bộ được cử đi học tại Italy (do nhiệm vụ đem lại)
Năm 2006:
1. ThS Nguyễn Hữu Tuyên, (25/9-6/10 năm 2006)
2. ThS. Thái Anh Tuấn (25/9-6/10 năm 2006)
3. Ths Lê Văn Dũng (25/9-6/10 năm 2006)
Năm 2007:
1. ThS Lê văn Dũng, 10 ngày (2/10 - 12/10 năm 2007)
)
3.3. Chương 2 (MỘT SỐ NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA ĐỘNG LỰC THẠCH QUYỂN ĐÔNG NAM CHÂU
Á TRONG KAINOZOI
)
3.4. Chương 3 (MỘT SỐ NÉT ĐẶC TRƯNG HOẠT ĐỘNG ĐỘNG ĐẤT CÁC ĐỚI RANH GIỚI
MẢNG ĐÔNG NAM CHÂU Á
)
3.5. Chương 4 (MÔ HÌNH CẤU TRÚC VẬN TỐC SÓNG DỌC P CỦA MANTI VÀ ĐẶC TRƯNG CẤU
TRÚC THẠCH QUYỂN LÃNH THỔ VIỆT NAM VÀ KẾ CẬN
)
3.6. Chương 5 (
NGHIÊN CỨU CỔ ĐỘNG ĐẤT VÀ CỔ SÓNG THẦN Ở VIỆT NAM)
3.7. Chương 6 (ĐỨT GÃY PHÁT SINH ĐỘNG ĐẤT CÓ NGUY CƠ GÂY SÓNG THẦN TRONG
PHẠM VI BIỂN ĐÔNG
)
3.8. Chương 7 (
PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP HÀM GREEN TRONG TÍNH TOÁN
LAN TRUYỀN SÓNG THẦN)
3.9. Chương 8 (NGUY CƠ SÓNG THẦN ẢNH HƯỞNG TỚI BỜ BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM)
3.10. Kết luận
3.11. Tài liệu tham khảo
4. Đánh giá chung kết quả thực hiện nhiệm vụ
Nhiệm vụ đã hoàn thành tốt các nội dung được ký kết trong hợp đồng. Thành tích nổi
bật nhất của nhiệm vụ này là đào tạo cán bộ trẻ, sự hợp tác có hiệu quả trong việc chuyển
giao công nghệ. Kết quả của nhiệm vụ hợp tác này đã mở
ra những định hướng nghiên cứu
mới ở Việt Nam như: Nghiên cứu dự báo trung hạn động đất; Áp dụng bài toán tất định
trong nghiên cứu tai biến và rủi ro động đất; và nghiên cứu cắt lớp sóng địa chấn.
ối thế kỷ thư 19. Theo các tác giả này thì
trong số các trận động đất có ghi chép chỉ có 37 trận là có đề cập đến địa điểm cảm
nhận và một ít mô tả kèm theo về biểu hiện chấn động.
2. Việc điều tra của nhóm công tác thuộc Trung Tâm nghiên cứu Việt Nam và
Giao lưu Văn hóa (Đại Học QG Hà Nội) do GS TSKH Vũ Minh Giang phụ trách tiến
hành trong thời gian 2000 - 2003 có vẻ là công phu nhất. Với việc tham khảo 27 bộ s
ử
ký ghi chép các sự kiện đã xảy ra ở Việt Nam từ thế kỷ thứ 3 (năm 204) trước công
nguyên đến cuối thế kỷ thứ 19 (năm 1888). Nhóm nghiên cứu đã lập 1 268 phiếu điều
tra và ghi nhận được 83 sự kiện động đất trong toàn bộ thời gian từ 978 đến 1888 (910
năm). Kết quả phân tích thống kê của các tác giả cho thấy:
- Bình quân 11 năm có một trận động đất xảy ra;
- Động đất xảy ra thường xuyên hơn cả là vào thế kỷ thứ 12 và 13. Riêng thế kỷ
12, cứ 3 năm lại có một lần động đất. Thế kỷ thứ 10 là 2 trận; thế kỷ thứ 11 là 4 trận;
thế kỷ thứ 12 là 28 trận; thế kỷ thứ 13 là 12 trận; thế kỷ thứ 14 là 5 trận; thế kỷ thứ 15
là 7 trận; thế kỷ thứ 16 là 4 trận; thế kỷ thứ
17 là 5 trận; thế kỷ thứ 18 là 9 trận; thế kỷ
thứ 19 là 7 trận.
3. Tổng hợp các tư liệu ghi chép trong lịch sử Việt Nam, danh sách các động
đất lịch sử đã được thiết lập trong Bảng I.1.
Xem xét các tư liệu ghi chép động đất trong sử sách nước nhà có được có thể
rút ra một số nhận định sau:
1- Sử dụng nguồn tư liệu lịch sử của Việt Nam có
được cho đến cuối thế kỷ 19
ta thấy có 108 ghi chép có liên quan đến biểu hiện xuất hiện động đất.
2- Có bốn mươi trận động đất (cỡ 40%) là có mô tả hết sức sơ lược về vị trí
cũng như mức độ biểu hiện của động đất. Số còn lại chỉ nói lên rằng đã có động đất
xuất hiện trong thời bấy giờ, song ở đ
âu và mức độ cảm nhận như thế nào? thì không
Nam
Độn
g
đất. Đất nứt xé ra
dài hơn trăn dăm (35 - 36
km)
VIII? Nghệ An -
Quảng Nam
2 978* I Động đất
3 998* III Động đất trong ba ngày
liền
4 1016 III
Có thể ở Kin
h
S (Hà Nội)
Động đất. V
5 1017 VIII Kinh Đô? Động đất, điện Càn
Nguyên rung chuyển
Đại Việt Sử
Lợc
6 1020 XI Kinh Đô? Động đất, trớc kia điện Càn Nguyên
rung chuyển nên phải cho ngự triều ở
điện phía đông, nay lại rung chuyển nữa
nên lại cho ngự triều ở phía tây.
Đại Việt Sử
Lợc
7 1042* IX Động đất
8 1053* I Động đất ba lần
Động đất.Vô cớ bị rung
động
V
24 1171 VII
Động đất
25 1174* I Động đất
26 1174* XI Động đất
27 1175 I Đầu mùa xuân có động đất
Đ
ại Việt Sử Lợc
28 1179* II Động đất
29 1180 VIII Điện Hội Tiên Động đất. V Hà Nội
30 1187 VI Động đất. Giữa mùa hạ
nhà Thái Miếu rung
chuyển
Đ
ại Việt Sử Lợc
31 1188* VI Động đất
32 1189* II Động đất
33 1190 III Động đất
34 1192* VI Động đất
35 1195* II Động đất
36 1195 V Động đất
37 1196 Thăng Long Động đất, Giác Minh Lý
rung chuyển
38 1198 Thu Thăng Long Động đất, mái hiên tòa Tả
Vũ Thắng rung chuyển
53 1271* II Động đất
54 1277 V Kinh Đô Động đất. Đất nứt 7 trợng
(28 m)
VII
55 1278 VIII Kinh Đô Động đất. Ba lần động đất
trong một ngày, nhiều trâu
bò, gia súc bị chết
VIII
56 1285 IX Chùa Bảo
Thiên
(Hà Nội, Nhà
Thờ Lớn)
Động đất. Bia ở Chùa Bảo
Thiên gãy làn đôi; Núi Cao
Sơn lở xuống
VIII
57 1300* I Động đất. tháng giêng
động đất ba lần, từ giờ
thân đến giờ tý
58 1335* XII Động đất
59 1355 II Hải Dơng Động đất. Núi Kinh Chủ bị
lở
VII
60 1393 VIII Kinh Đô Động đất. V Hà Nội
61 1408* IX Động đất
62 1435 XI Kinh Đô Động đất. Trên trời có
tiếng động nh sấm sét nổ
V Hà Nội
63 1443* II Động đất
Nho Quan
thuộc Tỉnh
Ninh Bình
Núi Đa Bút bị lở vì động
đất. Cùng ngày hai quả núi
cạnh giếng An Dơng,
huyện Phụng Hòa bị lở,
lấp cả đờng đi, ngời và
trâu bò không đi đợc
VIII
76 1666 III Hồ Xá Động đất V
14
(Vĩnh Linh)
77 1666* Động đất
78 1678* IV Động đất
79 1678 XII Động đất
80 1685 V
X
Cam Lộ Động đất V Quảng Trị
81 1685 XII Động đất
82 1686 I Động đất
83 1715 III Phủ Thăn
g
Hoa
(Quảng Nam)
và Quy Ninh
Lại nữa, tháng 2 năm Quý Mão (1783) núi Hùng Sơn sụt xuống
đến hơn 20 trợng. Tháng 6 năm ấy sông Thiên Sức cạn nớc
đến một ngày một đêm.
Đêm 1 tháng 10 năm Giáp Thìn (1784) trong hồ Tủy Quên ở
Kinh Đô có tiếng kêu nh sấm, nớc hồ sục sôi. Sáng hôm sau
thấy tôm cá đều chết hết và trong phủ chúa thấy hàng vạn quạ
đen bay lợn trên cây, ngày đêm quàng quạc kêo ở cửa các môn
trớc phủ đờng. Lại nữa, móng thành Kinh Đô vô cớ sụt lở đến
hơn 10 trợng. Còn các tai biến nhỏ nhặt khác không sao kể
xiết.
Nghi động đất
96 1812 XI Thanh Hoa và
Thanh Bình (Ninh
Bình)
Động đất V
97 1817 VII Nghệ An Động đất V
98 1821 VII Nghệ An Nhà cữa của dân bị xiêu đi
nhiều vì Động đất
VIII
99 1822 III Nghệ An Động đất V
100 1824 II Trấn Thanh Hoa Đại hạn và Động đất V
15
101 1829 XI Thừa Thiên Phía Bắc thành bị rụt và
rung động vì Động đất
VII
102 1842* X Động đất
103 1858* VI Động đất
104 1859* VII Động đất
105 1871 XII Bắc Ninh Động đất V
- Cú 46 trn khụng v c ng ng chn cho nờn chn tõm xỏc nh l tõm
im bao quanh ớt nht l hai a im cm thy ng t (cỏc trn ny ch cú t 2 n
5 im nhn thy). Theo cỏc tỏc gi thỡ loi ng t ny cú sai x xỏc nh v trớ chn
tõm l 20 - 30 km.
Bng I.2. ng t c phỏt hin qua iu tra trong nhõn dõn, xy ra trong
nhng nm u ca th k 20, cú th v c ng ng chn (Theo Nguyn Khc
Móo v nnk, 1968. Chn tõm xỏc nh theo bn ng ng chn)
Thi gian Ta chn tõm S TT
Ngy,Thỏng,
Nm
Gi, phỳt,
Giõy
V Kinh
a phng
xy ra ng
t
Cng
chn
ng Io
Ghi chỳ
1 2 3 4 5 6 7 8
1 1903 20.55 106.30 Mo khờ VI
2 VII.1903 24 18.40 105.40 Vinh VII Gia ph
3 Hố.1910 ngy 21.10 104.05 Hỏt Lút VI
4 Hố.1910 chiu 20.25 106.20 Thỏi Bỡnh VI
5 III.1913 1 18 25 105.45 Can Lc VI
6 VI.1915 15 20.40 105.55 Phỳ Xuyờn V
7 Hố.1920 chiu 18.40 105.30 Nam n VI
36 XII.1961 chiều 20.55 104.55 Chợ Ngọc VI
37 VIII.1962 20 20.50 104.50 Mộc Hạ V
Bảng I.3. Động đất được phát hiện qua điều tra trong nhân dân, xảy ra trong
những năm đầu của thế kỷ 20, không vẽ được đường đẳng chấn (Theo Nguyễn Khắc
Mão và nnk, 1968. Chấn tâm xác định là tâm điển bao quanh ít nhất là 2 điểm cảm
nhận động đất)
Thời gian Tọa độ chấn tâm Số
TT
Ngày,Tháng,
Năm
Giờ, phút,
Giây
Vĩ độ Kinh độ
Địa phương
xảy ra động
đất
Cường
độ chấn
động Io
Ghi
chú
1 2 3 4 5 6 7 8
1 IV.1903 14 16.35 105.05 Quỳ Châu VI
2 IV.1903 14 21.00 104.30 Tự Nang VI
3 1910 ngày 21.15 104.20 Tạ khoa VI
4 HÌ.1913 24 21.50 105.10 Tuyên
Quang
VI
33 X.1944 5 21.55 104.50 Đồng Lạng VI
34 II.1945 11 21.30 103.40 Thuận Châu VI
35 IX.1945 20 21.05 105.05 Cửa Hét VI
36 Rét.1945 ngày 21.50 104.55 Yên Bình VI
37 VII.1946 chiều 18.55 105.15 Đô Lương VI
38 1947 23 21.35 105.00 Hạ Hòa VI
39 1948 9 21.50 104.55 Yên Bình VI
40 Rét.1950 14 22.25 104.35 Yên Bình VI
41 VII.1952 1 21.50 104.55 Yên Bình VI
42 VII.1953 chiều 22.05 104.45 Lục Yên VI
43 V.1955 21.40 105.10 Đoan Hùng VI
44 VI.1956 ngày 22.05 104.45 Lục Yên VI
45 1957 16.15 104.30 Tương
Dương
VI
46 X.1961 3 22.05 104.45 Lục Yên VI
2. Cuộc điều tra của Nguyễn Khắc Mão và cộng sự mới chỉ giới hạn trên phần
lãnh thổ Bắc Việt Nam và điểm khảo sát phân bố cũng không đều, nhiều vùng còn bỏ
trống. Sau này, vào năm 1970, 1972, 1979, 1984 Phạm Văn Thục, Nguyễn Đình
Xuyên và các cộng sự đã điều tra khảo sát bổ sung ở Miền Bắc và mở rộng cuộc điều
tra khảo sát ra toàn lãnh th
ổ. Ở Miền Nam Lê Minh Triết và đồng nghiệp cũng có cuộc
điều tra phục vụ nghiên cứu phân vùng động đất Miền Nam Việt Nam. Các điểm điều
tra khảo sát đã trở nên dày hơn và phân bố đều hơn, cho phép không bỏ qua động đất
cường độ chấn động cấp VI và lập được bản đồ đường đẳng chấn của nhiều trận động
đất mạnh và cả
m thấy.
3. Năm 2002, Lê Tử Sơn và Nguyễn Thị Cẩm đã dựa trên cơ sở tài liệu động
year-mo d h-mi s lat long dep mb ms ml mp in
1. 114 1 1 3 0 0 17.50 106.60 17 6.00 0.00 0.00 0.00 8
2. 1067 11 1 0 0 0 23.60 116.50 0 6.80 0.00 0.00 0.00 9
3. 1137 2 1 5 0 0 18.67 105.66 10 5.10 0.00 0.00 0.00 7
4. 1277 5 1 2 0 0 21.00 105.85 15 4.80 0.00 0.00 0.00 6
5. 1278 8 22 2 0 0 21.00 105.85 10 5.10 0.00 0.00 0.00 7
6. 1285 9 2 0 0 0 21.00 105.85 10 5.10 0.00 0.00 0.00 7
7. 1355 2 1 2 0 0 20.92 106.34 13 5.50 0.00 0.00 0.00 7
8. 1372 9 17 0 0 0 23.10 113.30 0 4.80 0.00 0.00 0.00 6
9. 1445 1 1 0 0 0 23.40 112.60 0 4.80 0.00 0.00 0.00 6
10. 1446 1 1 0 0 0 23.60 102.80 0 5.00 0.00 0.00 0.00 7
11. 1519 1 1 0 0 0 23.70 117.20 0 4.80 0.00 0.00 0.00 6
12. 1524 5 5 0 0 0 19.20 110.50 0 5.00 0.00 0.00 0.00 6
13. 1539 8 8 0 0 0 23.60 102.80 0 5.50 0.00 0.00 0.00 7
14. 1558 6 1 0 0 0 23.40 111.50 0 5.50 0.00 0.00 0.00 7
15. 1571 5 26 0 0 0 23.80 113.50 0 5.00 0.00 0.00 0.00 6
16. 1584 10 1 4 0 0 19.82 105.77 13 5.50 0.00 0.00 0.00 7
17. 1587 8 1 4 0 0 20.12 105.61 10 5.10 0.00 0.00 0.00 7
18. 1588 8 9 0 0 0 24.00 102.70 0 6.00 0.00 0.00 0.00 8
19. 1600 7 1 0 0 0 21.60 110.30 0 4.80 0.00 0.00 0.00 6
20. 1600 9 29 0 0 0 23.50 117.20 0 7.00 0.00 0.00 0.00 9
21. 1605 7 13 0 0 0 19.90 110.50 0 7.50 0.00 0.00 0.00 9
22. 1605 12 15 0 0 0 19.90 110.50 0 6.00 0.00 0.00 0.00 8
23. 1606 11 30 0 0 0 23.70 102.80 0 6.50 0.00 0.00 0.00 9
24. 1611 9 9 0 0 0 21.50 111.30 0 5.50 0.00 0.00 0.00 7
25. 1618 1 1 0 0 0 20.00 110.10 0 5.00 0.00 0.00 0.00 6
26. 1635 6 1 4 0 0 20.12 105.65 24 6.70 0.00 0.00 0.00 8
27. 1641 11 26 0 0 0 23.50 116.50 0 5.80 0.00 0.00 0.00 7
28. 1653 8 12 0 0 0 21.70 110.20 0 4.80 0.00 0.00 0.00 6
59. 1895 8 30 0 0 0 23.50 116.50 0 6.00 0.00 0.00 0.00 8
60. 1899 11 1 0 0 0 23.60 109.60 0 5.00 0.00 0.00 0.00 6
19
I.1.3. Quan trắc động đất ở Việt Nam
Từ năm 1976 trên phạm vi Miền Bắc Việt Nam đã có 5 trạm quan trắc động đất
hoạt động liên tục và đồng bộ (Phù Liễn, 1924; Sapa, 1957; Bắc Giang, 1962; Tuyên
Quang và Hoà Bình, 1972). Các trạm địa chấn này đã ghi nhận khá đầy đủ số liệu về
các trận động đất lãnh thổ Bắc Việt Nam và vùng lân cận. Ở Miền Nam Việt Nam,
trạm địa chấn Nha Trang đ
ã được khôi phục lại vào năm 1978 (xây dựng năm 1957)
và xây dựng thêm trạm Đà Lạt vào năm 1980. Hệ máy địa chấn được trang bị cho 7
trạm trong giai đoạn này là máy chu kỳ ngắn CM-3 của Liên Xô cũ [Short period
seismograph (T=1,0), 3 components (Russian)]. Tín hiệu động đất sau khi được
khuyếch đại qua hệ thống điện kế gương quay được ghi lại trên giấy ảnh (hệ thống
máy ghi quang - cơ).
Trong giai đoạn 1990 - 1996, được sự tài tr
ợ của các dự án UNDP, VIE -
84/001 và VIE - 93/002 mạng lưới trạm địa chấn ở Việt Nam đã được tăng cường.
Trạm địa chấn: Điện Biên, Lai Châu, Vinh và Hà Nội được xây dựng năm 1990. Sau
đó, 1994 - 1995 xây dựng thêm trạm Sơn La và Huế, nâng tổng số trạm quốc gia lên
14 trạm với hệ thống máy địa chấn cũng được trang bị lại hiện đại hơn. Từ việc thay
thế máy đị
a chấn thuộc hệ ghi quang - cơ của những năm trước bằng các máy địa chấn
LE - 3D, khuyếch đại điện tử ghi trên giấy nhiệt của Đức trong năm 1990 và đến năm
1995 toàn bộ mạng lưới trạm địa chấn đã được trang bị hệ thống máy ghi số trên máy
tính PC - 386, PC - 586 do Pháp sản xuất với máy chu kỳ ngắn Mark Pruduct L - 4 của
Mỹ.
Sau năm 1996, nhờ sự đầu tư thích
đáng của nhà nước, Viện Vật lý Địa cầu lại
L - 4C - 1D
SSA - 1
11 Điện Biên DBV 21 23,38 103 01,10
L - 4C - 3D
CMG - 3T
SSA - 2
K2
12 Lai Châu LCV 22 02,32 103 09,26
L - 4C - 3D
SSA - 2
13 Sơn La SLV 21 20,03 103 54,30 L - 4C - 3D
14 Sapa SPV 22 20,30 103 50,11 CMG - 3T
20
SSA - 1
15 Vinh VIV 18 32,88 105 42,00 CMG - 3T
16 Huế HUV 16 25,01 107 35,13 CMG - 3T
17 Nha Trang NTV 12 16,00 109 11,66 LE - 3D
18 Đà Lạt DLV 11 56,69 108 28,91 CMG - 3T
19 Tuần Giáo TGV 21 35,39 103 25,09
L - 4C - 3D
SSA - 1
K2
20 Trạm Tấu TTV 21 28,36 104 21,66 L - 4C - 3D
21 Sông Mã SMV 21 03,42 103 44,66
L - 4C - 3D
K2
22 Lang Chánh LCHV 20 09,19 105 14,85 L - 4C - 3D
23 Thanh Hóa THV 19 51,05 105 46,92 L - 4C - 3D
24 Mộc Châu MCV 20 50,65 104 38,13
trên màn hình và ghi trên giấy nhiệt để tiện theo dõi và phát hiện động đất xảy ra.
Khi xảy ra động đất, tín hiệu động đất của các trạm sẽ được tự động ghi vào đĩa
mềm, hoặc trong trường hợ
p cần thiết, tín hiệu địa chấn từ các trạm còn có thể được
xem xét, theo dõi lại trên màn hình và có thể ghi lại từ ổ cứng sang các ổ mềm.
Chương trình quản lý dữ liệu địa chấn ACCQUI đảm nhận toàn bộ công việc trên.
Việc xử lý số liệu động đất (xác định các thông số cơ bản của động đất như thời
điểm phát sinh động đất t, toạ độ ch
ấn tâm ϕ, λ, độ sâu chấn tiêu h và magnitude M
S
)
được tiến hành trên máy vi tính PC - 586 với chương trình DP16.
Như vậy, hoạt động của hệ trạm địa chấn đo xa đảm bảo kiểm soát một cách
liên tục các động đất có magnitude M
S
≥ 3,0 trên phạm vi Miền Bắc Việt Nam và M
S
≥
4,0 trên toàn lãnh thổ Việt Nam một cách nhanh chóng và kịp thời. Mặt khác, dạng ghi
số tín hiệu địa chấn tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi thông tin địa chấn trong
khu vực và trên thế giới một cách nhanh chóng.
21
Các trạm địa chấn độc lập
Các trạm địa chấn còn lại trong mạng lưới trạm quốc gia (15 trạm) (Bảng I.5)
hoạt động theo chế độ độc lập. Các trạm này cũng sử dụng kỹ thuật ghi số trên máy
tính cá nhân và gửi số liệu về Viện Vật lý điạ cầu theo 2 phương thức: 1/ gửi nhanh
theo đường điện thoại qua MODEM mỗi khi có động đất xảy ra; và 2/ gửi số liệu lưu
ở Việt Nam. Tại các trạm này đ
ã được trang bị máy gia tốc SSA - 1, SSA - 2 của Mỹ.
6/ Một mạng trạm ghi địa chấn dải rộng cũng đã được thiết lập tai: Đà Lạt, Huế,
Phủ Liễn và Vinh vào cuối năm 2001. Đây là kết quả hợp tác Viêt Nam - Nhật Bản
nhằm nghiên cứu bất đồng nhất vận tốc truyền sóng của thạch quyển lãnh thổ Việt
Nam và kế cận. Các trạm quan trắc này bước
đầu đã ghi nhận được một số trận động
đất xa mà hy vọng sẽ là những tư liệu quan trọng phục vụ cho công tác nghiên cứu cấu
trúc thạch quyển Việt Nam.
7) Từ năm 2007 một hệ thống trạm (4 trạm) địa chấn đo xa cũng được thiết lập
xung quanh khu vực Tp. Hồ Chí Minh phục vụ cho công tác vi phân vùng động đất.
Các hệ thống mạng địa chấn tạm thờ
i một mặt đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản
xuất và nghiên cứu, mặt khác nó cũng đóng góp phần tăng thêm độ chi tiết nguồn tài
liệu động đất ở Việt Nam.
22
I.2. Một số định hướng nghiên cứu tiêu biểu
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau về đặc trưng
hoạt động động đất lãnh thổ Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu này chủ yếu tập trung
vào một số hướng phân tích sau:
Để đánh giá định lượng tính địa chấn của khu vực nghiên cứu, đặc trưng hoạt
động động đất A là một đại lượng
0min
−γ−
γ−
∑
−
=
(I.1)
Công thức chuyển đổi giữa hai đại lượng cấp độ mạnh Ms và K:
K = lgE = 1,8Ms + 4 (I.2)
Nguyễn Ngọc Thủy đã tính giá trị A
10
cho Việt Nam trong thời gian 80 năm đầu
thế kỷ XX. Nguyễn Kim Lạp cũng đã tính A
10
cho Đông Dương trong đó có Việt
Nam, kết quả cho thấy vùng Tây Bắc Việt Nam là nơi hoạt động động đất mạnh. Gần
đây nhất trong công trình của Nguyễn Đình Xuyên và Nguyễn Ngọc Thủy cũng đã
dùng đại lượng A
10
để đánh giá độ hoạt động địa chấn cho Việt Nam giai đoạn 1900 -
1992.
Nhiệm vụ của phân vùng động đất là phải chỉ ra được mức độ nguy hiểm động
đất của từng vùng khác nhau trong lãnh thổ nghiên cứu. Từ những năm 1960 ở Việt
Nam đã bắt đầu có những công trình nghiên cứu về vấn đề này, nhưng phải đến năm
1968, Nguyễn Khắc Mão và Rezanop I.A. mới xây dự
ng được sơ đồ đầu tiên về phân
vùng động đất Miền Bắc Việt Nam. Nguyên tắc phân vùng động đất ở đây dựa vào
phương pháp địa chấn kiến tạo và địa chấn thống kê, nhưng các vùng nguồn chưa
được xác định cụ thể và chi tiết. Năm 1978, Nguyễn Đình Xuyên (trong luận án Phó
chủ trì). Đề tài nghiên cứu kiến tạo đứt gãy hiện đại và động đất liên quan ở khu vực
Hoà Bình làm cơ sở đánh giá ổn định công trình thuỷ điện Hoà Bình do PGS TS
Nguyễn Ngọc Thuỷ chủ trì cũng đã kết thúc năm 2007.
Đề tài: Phân vùng nhỏ động đất khu vực Tp. Hồ Chí Minh 2006-2009 (do Liên
Đoàn địa chất Miền Nam Việt Nam chủ trì, có sự tham gia trực tiếp c
ủa GS.TS.
Nguyễn Đình Xuyên và PGS.TS. Cao Đình Triều); Nghiên cứu đánh giá độ nguy hiểm
động đất và sóng thần ở vùng bờ biển và hải đảo Việt Nam và đề xuất các giải pháp
phòng tránh giảm nhẹ hậu quả, 2007-2009 (do GS. TS. Bùi Công Quế chủ nhiệm);
Đánh giá khả năng biến động môi trường sinh chấn vùng hồ thuỷ điện Sơn La sau khi
tích nước. Đề xuất giải pháp phòng tránh sự rui ro môi trường, 2008-2009 (do TS Ngô
Gia Thắng và PGS. TS. Cao Đình Triề
u làm chủ nhiệm) đang được tiến hành.
Về cơ cấu chấn tiêu động đất cũng đã được đề cập tới trong các công trình công
bố của Ngô Thi Lư và Nguyễn Văn Lương song các kết quả nghiên cứu cũng chỉ mới
dừng ở mức sơ lược.
Có nhiều phương pháp đã được áp dụng để tính magnitude cực đại (M
max
) cho
các vùng nguồn phát sinh động đất, theo tài liệu sử dụng có thể phân chia như sau:
a. Theo tài liệu địa chất, địa vật lý: Chủ yếu được Cao Đình Triều và sau đó là
Nguyễn Thanh Xuân cho thấy có thể đánh giá độ nguy hiểm động đất bằng công nghệ
GIS sử dụng tư liệu viễn thám. Trong các công trình trên đều tìm được các M
max
đối
với mỗi vùng nghiên cứu.
b. Theo thống kê địa chấn: Tại Việt Nam áp dụng tính M
max
theo thống kê chủ
= 5,2; Sông Mã
- Sơn La M
max
= 7,1. Nguyễn Đình Xuyên và Nguyễn Ngọc Thủy năm 1997 cũng đã
dùng phương pháp hàm phân bố cực trị Gumbel III tính dự báo M
max
cho các đới phát
sinh động đất ở Việt Nam. Tại phần phía Bắc đã được dự báo các vùng Sông Mã, Sơn
La và Lai Châu - Điện Biên có khả năng M
max
= 7,0 (độ Richter); vùng Sông Hồng -
Sông Chảy M
max
= 5,8; Sông Cả có M
max
= 6,0; Đông Triều - Cẩm Phả sẽ có M
max
=
6,3; còn tại Cao Bằng - Tiên Yên và sông Đà M
max
= 5,0. Năm 2000, Đặng Thanh Hải
đã sử dụng hàm cực trị theo Gumbel loại III và loại I cải tiến để tính dự báo M
max
cho