Lời nói đầu
Đến nay, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo đã thu
đợc những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Chúng ta đang khơi dậy và
phát huy mạnh mẽ sức mạnh nội sinh, ra sức cần kiệm để đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Đồng thời, chúng ta cũng cố gắng thu hút
các nguồn đầu t, viện trợ nớc ngoài và sử dụng chúng một cách hợp lý, kịp
thời, có hiệu quả.
Cũng giống nh các nớc đang phát triển khác, trong chủ trơng chính
sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nớc ta, nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA) là một trong những nguồn vốn nớc ngoài có ý
nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, vốn ODA không thể thay thế đợc vốn trong n-
ớc, mà chỉ là chất xúc tác, tạo điều kiện để khai thác tối đa và có hiệu quả
mọi nguồn vốn phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá và hiệu đại hoá đất
nớc.
Hơn nữa, kinh nghiệm thu hút sử dụng vốn từ bên ngoài của nhiều n-
ớc trên thế giới cho thấy không phải lúc nào ODA cũng mang lại hiệu quả
tốt. ODA có hai mặt, nếu sử dụng khéo sẽ hỗ trợ thật sự cho công cuộc phát
triển kinh tế - xã hội. Nếu ngợc lại sẽ dẫn đến hậu quả gánh nặng nợ nần
khó trả cho nhiều thế hệ. Trong một số trờng hợp, viện trợ đã không làm
giảm đợc tình trạng nghèo khổ, mà trái lại có khi nó còn làm trầm trọng
thêm tình trạng này do tệ quan liêu, tham nhũng, cũng nh việc xử lý và
phân bổ không hợp lý nguồn viện trợ ở các nớc nhận viện trợ. Vấn đề đặt ra
là làm sao khai thác đợc mặt tốt của ODA và đồng thời cũng hạn chế đợc
tác động và hậu quả không tốt của nó.
Đề tài: "Một số giải pháp tăng cờng thu hút và sử dụng vốn ODA ở Việt
Nam giai đoạn 2001 - 2005". Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm hệ
thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn vốn hỗ trợ phát triển
chính thức đồng thời đánh giá khái quát thực trạng quản lý và sử dụng
nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ở Việt Nam trong những năm qua.
Trên cơ sở đó đa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ở Việt Nam trong
cộng đồng này đối với các nỗ lực cải cách kinh tế và mở cửa của chính phủ
Việt Nam .
b.Tình hình sử dụng vốn ODA .
ODA đợc sử dụng trong hầu hết các ngành kinh tế lớn của quốc gia ,
và tập trung chủ yếu vào các ngành nhằm phát triển hạ tầng kinh tế, kỹ
thuật và xã hội nh năng lợng, giao thông vận tải, y tế, giáo dục, thuỷ lợi, cấp
thoát nớc. Ngoài ra, một phần không nhỏ nguồn vốn ODA (chiếm khoảng
15% tổng số vốn) đợc sử dụng dới dạng các hỗ trợ kỹ thuật nhằm tăng cờng
năng lực cho các cơ quan khác nhau của Chính phủ, tiến hành các cuộc
nghiên cứu chơng trình, dự án phát triển, nghiên cứu khoa học, khảo sát,
điều tra cơ bản, v.v. Các hỗ trợ kỹ thuật này trên thực tế đã có tác dụng quan
trọng góp phần cho cải cách kinh tế, phát triển thể chế, cải cách hành chính
và đào tạo đội ngũ cán bộ cho giai đoạn chuyển tiếp sang nền kinh tế thị tr-
ờng.
Bên cạnh những thành tựu đạt đợc việc sử dụng nguồn vốn ODA thời
gian này nói chung không đạt đợc chỉ tiêu, kế hoạch đề ra nên Việt Nam đã
bị rơi vào tình trạng không trả đợc nợ, bị mất t cách thành viên trong ADB,
WB, IMF và không đợc vay nợ khác.
Đặc biệt sau sự kiện Campuchia năm 1979 Mỹ cấm vận Việt Nam và
các t bản khác đóng cửa.
1. 2. Thời kỳ từ 1993 đến nay .
Sự sụp đổ của hàng loạt các nớc Đông âu ảnh hởng mạnh mẽ tới nền
kinh tế của các nớc nhận viện trợ đặc biệt trong đó có Việt Nam.
Trong bối cảnh thế giới nh thế, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
năm 1986 Chính phủ Việt Nam đã thay đổi đờng lối phát triển kinh tế, đặc
biệt là chính sách đối ngoại, Chính phủ đã mở cửa làm bạn với các nớc trên
thế giới.
Công cuộc cải cách và mở cửa do Chính phủ khởi xớng đem lại các
kết quả tích cực: tăng trởng kinh tế cao và ổn định trong một thời gian dài
(cho đến trớc cuộc khủng hoảng tài chính Châu á), thu hút đầu t nớc ngoài
Đơn vị: tỷ USD
Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Tổng số
Cam kết 1,810 1,940 2,260 2,430 2,400 2,200 2,210 2,400 17,540
Thực hiện 0,413 0,725 0,737 0,900 1,00 1,242 1,350 1,650 8.017
Nguồn: Báo cáo tình hình ODA năm 2000 của Vụ Kinh tế Đối ngoại- Bộ
Kế hoạch &Đầu t
-Mức giải ngân ODA bình quân 1 năm trong thời kỳ1996 - 2000 ớc
đạt khoảng 1,1 tỷ USD, nh vậy mới đạt khoảng hơn 70% kế hoạch đề ra cho
thời kỳ 5 năm này(theo kế hoạch 1996 - 2000, cần thực hiện 7 - 8 tỷ USD
vốn ODA).
-Số lợng các nhà tài trợ trong giai đoạn vừa qua đã tăng lên đáng kể.
Theo đánh giá của UNDP, hiện nay đang có trên 45 nhà tài trợ song phơng
và đa phơng chính thức hoạt động tại Việt Nam. Ngoài ra còn có trên 350
các tổ chức phi chính phủ (NGO).
Sắp xếp theo giá trị ODA cam kết tại Hội nghị Nhóm t vấn năm
1999, hiện có 11 nhà tài trợ lỡn xếp theo thứ tự là;Nhật bản, WB, Ngân
hàng Phát triển Châu á; các tổ chức LHQ; Pháp; Tây Ban Nha; Cộng hoà
Liên bang Đức; Thuỵ Điển: ôxtrâylia; Đan Mạch; Uỷ ban châu âu.
Trong số các nhà tài trợ nói trên Nhật Bản, WB, Ngân hàng Phát triển
Châu á, đã nổi lên là ba nhà tài trợ hàng đầu và tổng số vốn ODA giải ngân
thời kỳ 1993 - 1998 chiếm hơn 45% tổng tất cả các khoản giải ngân trong
thời kỳ này.
-Hình thức cung cấp ODA trong thời gian qua khá phong phú, trên
đại thể có thể chia thành hai nhóm lớn:
Nhóm 1: Bao gồm các chơng trình với những hoạt động trong một
lĩnh vực cụ thể, ví dụ: Chơng trình dân số và sức khoẻ sinh sản; Chơng trình
nớc sạch và vệ sinh môi trờng nông thôn Các tổ chức LHQ thờng cung
cấp ODA dới dạng các chơng trình với một chu kỳ nhất định, ví dụ Chơng
trình dân số và sức khẻo sunh sản của UNFPA chu kỳ 1996 2000
Chơng trình cũng còn đợc cung cấp gắn với khung Chính sách để hỗ
khoảng15% tổng nguồn ODA cam kết. ở Việt Nam tỷ trọng này tơng đối
thấp so với một số nớc đang tiếp nhận ODA khác. Đa phần các nhà tài trợ
đang hoạt động ở Việt Nam hiện nay cung cấp đồng thời cả ODA hoàn lại
và ODA vốn vay. Có nhận xét rằng trong ODA vốn vay nhiều nhà tài trợ áp
dụng các điều kiện có ràng buộc (phải mua thiết bị, vật t, dịch vụ t vấncủa
nớc cung cấp ODA vốn vay).
-Cơ cấu sắp xếp ODA về mặt địa lý ngày càng trở nên cân đối hơn,
phù hợp với u tiên và chú trọng của Chính phủ Việt Nam về phát triển nông
nghiệp, nông thôn và xoá đói giảm nghèo. Theo UNDP, tỷ lệ nguồn vốn
ODA giải ngân cho các khu vực ngoài thành phố chính tăng từ29% năm
1995 lên 52% năm 2000.
Tóm lại trong thời kỳ 1993 - 2000 chiến lợc và chính sách phát triển
kinh tế, xã hội của Việt Nam đã giành đợc sự dồng tình và hỗ trợ của cộng
đồng tài trợ quốc tế thông qua việc cung cấp viện trợ phát triển cho Việt
Nam. Việc sử dụng ODA trong thời gian qua phù hợp với những u tiên phát
triểncủa Chính phủ Việt Nam và về cơ bản có hiệu quả và đóng góp tích cực
cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
2.Đánh giá về cơ cấu ODA.
2.1.Đánh giá về cơ cấu ODA theo ngành.
Bảng 3:Cơ cấu ngành trong tổng giá trị các Hiệp định đã ký kết
thời kỳ 1993-2000
Ngành Tỷ lệ (%)
Tổng số
100
Năng lợng điện 24,22
Giao thông vận tải 27,49
Nông, lâm, thuỷ sản, thuỷ lợi 12,74
Y tế, xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học 11,87
Cấp, thoát nớc 7,81
Các ngành khác 10,32
thêm 3403 MW, bằng tổng công suất cả nớc từ trớc cho tới năm 1995.
Ngoài phát triển nguồn điện, hệ thống đờng dây tải điện và lới điện phân
phối, các trạm biến thế cũng đợc quan tâm. Một số dự án dã hoàn thành
hiện đang có tác dụng tích cực, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân.
(ii) Khoảng 27,5% (3,4 tỷ USD là giá trị nguồn vốn ODA trong tổng
số vốn ODA ký kết đợc sử dụng cho nhiều công trình giao thông chủ chốt
của nền kinh tế Việt Nam nh Quốc lộ 1, Quốc lộ 5, Quốc lộ 18, xây dựng
cầu mỹ thuận, cải tạo cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn, nhiều cầu trên Quốc
lộ 1A và đờng sắt Thống Nhất, phát triển giao thông nông thônCứa tạo
nâng cấp khoảng 3100 Km đờng tỉnh lộ và khoảng 14000 Km đờng nông
thôn, làm mời đợc 70 câù lớn với tổng chiều dài là 15634 m. Nhiều công
trình, dự án đã hoàn thành đang phát huy tác dụng tích cực, phục vụ nhu
cầu thiết thực của ngời dân (cơ hội tăng thu nhập cho ngời dân, đẩy nhanh
quá trình tiêu thụ sản phẩm và tiếp cân nhanh với các dịch vụ xã hội cơ
bản).
(iii) Phát triển nông nghiệp, nông thôn và miền núi (bao gồm cả thuỷ
sản): tổng giá trị nguồn vốn ODA đạt 1,6 tỷ USD, chiếm 12,74%tổng giá trị
nguồn vốn ODA ký kết. Nguồn vốn ODA đợc thực hiện thông qua một loạt
các dự án phát triển cà phê, chè; trồng rừng; xây dựng các cảng cá; phát
triển chăn nuôi; thực hiện chơng trình xoá đói giảm nghèo và phát triển cơ
sở hạ tầng ở nhiều tỉnh nghèo. Một số hệ thống thuỷ lợi lớn ở miền Bắc,
miền Trung và miền Nam đang đuợc khôi phục và phát triểnNhìn chung
các chơng trình, dự án, đặc biệt là các dự án xoá đói giảm nghèo, tạo việc
làm, phát triển cơ sở hạ tầng ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, thời
gian qua đã thực sự đem lại những lợi ích trực tiếp cho những ngời dân
nghèo trên khắp cả nớc, cải thiện đáng kể đời sống văn hoá và tinh thần của
đồn bào.
(iv) Nguồn vốn ODA đã hỗ trợ đáng kể, chiếm 11,87% (tơng đơng
1,4 tỷ USD) vào lĩnh vực y tế, xã hội, giáo dục và đào tạo v.vCải thiện,
cung cấp nớc sinh hoạt tại các thành phố, thị xã và các vùng nông thôn,
trong Chiến lợc Phát triển Kinh tế -Xã hội 10 năm (2001-2010) cũng nh
chiến lợc của các ngành trong thập kỷ tới .Mặc dù đã tăng cờng đáng kể các
dịch vụ cơ sở hạ tầng trong những năm 1990, song mức tiêu thụ năng lợng,
cơ sở hạ tầng về thông tin liên lạc và các dịch vụ thông tin của Việt Nam
vẫn dới mức trung bình của các nớc có thu nhập thấp.
Với 3,4 tỷ USD (27,5% nguồn vốn ODA), ngành giao thông vận tải
lại đợc xếp thứ hai về mức đầu t kinh phí ODA trong năm 2000. Không dới
85% các chơng trình do một số ít nhà tài trợ cung cấp, cụ thể là JIBIC (95
triệu USD), ADB (61 triệu USD) và WB (50 triệu USD). Cả ba nhà tài trợ
này đều giải ngân nhiều hơn so với năm 1998. Đại bộ phận các khoản đầu t
này vẫn đợc tập trung cho các công trình xây dựng đờng quốc lộ số 1, 5 và
18 cũng nh các chơng trình khôi phục cầu, nh trên quốc lộ 1A và đờng sắt
Thống nhất. Tuy nhiên, hệ thống đờng nông thôn sử dụng trong mọi điều
kiện thời tiết hiện còn trong tình trạng kém phát triển và vẫn cha đợc các
nhà tài trợ quan tâm nhiều.
Ngành năng lợng chiếm hơn một nửa nguồn vốn đầu t cho các công
trình cơ sở hạ tầng lớn. Lợng ODA giải ngân cho lĩnh vực này trong năm
2000 là 3tỷ, chiếm 24% tổng nguồn vốn ODA. Các dự án ODA chủ yếu tập
trung cho việc xây dựng các nhà máy. Những công trình đầu t này thờng đi
kèm với các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật nhằm cải thiện và tăng cờng năng lực
các hệ thống cung cấp điện. Phần lớn các nguồn vốn ODA này thuộc về các
dự án của Nhật Bản.
Bên cạnh các ngành giao thông, năng lợng, ngành thuỷ lợi cũng là
một ngành đợc đầu t kinh phí ODA cao trong năm 2000 (12,74%).
Lĩnh vực nớc sạch và vệ sinh môi trờng vẫn thờng đợc cung cấp 1/8
tổng nguồn vốn ODA vào giữa những năm 1990, song tỷ trọng ODA cho
lĩnh vực này đã giảm xuống còn 5% vào cuối thập kỷ. Tuy nhiên, mức giải
ngân tuyệt đối từ năm 1998 trở về trớc khá ổn định (khoảng 50 triệu USD)
nhng đã tăng vọt lên gần 70 triệu USD vào năm 1999 và chiếm tới trên 105
triệu USD vào năm 2000. Lợng kinh phí này đợc phân bổ trong phạm vi
Năm 1999, lĩnh vực phát tiển con ngời lại đợc xếp ở vị trí thứ hai với mức
đầu t là 207 triệu USD (16% tổng nguồn vốn ODA hàng năm). Trong năm
2000 lĩnh vực phát triển con ngời có mức giải ngân 1,4 tỷ USD (11,87%).
Lý do chính là mức chi tiêu rất lớn cho việc cải tạo bệnh viện Bạch Mai,
trong đó JICA viện trợ không hoàn lại 33 triệu USD. Hầu hết nguồn vốn tài
trợ trong lĩnh vực phát triển con ngời đợc phân bổ cho y tế (107 triệu USD)
và Giáo dục - Đào tạo(85 triệu USD). Số kinh phí còn lại (khoảng 15
triệuUSD) đợc chi cho một loạt các phân ngành phát triển xã hội, nh luật
pháp xã hội và quản lý hành chính, nhà ở, văn hoá, phòng chống tội phạm
và lạm dụng ma tuý, phát triển các phơng tiện thông tin đại chúng. Trong
giai đoạn 1993-2000, mỗi lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo và y tế tiếp nhận
khoảng 0,5 tỷ USD tiền viện trợ, trong đó hầu hết đợc cung cấp dới dạng
viện trợ không hoàn lại phục vụ cho mục đích hợp tác kỹ thuật độc lập .
Trong một vài năm gần đây chiều hớng giải ngân trong lĩnh vực y tế
đã dần dần chuyển từ tiêm chủng và các chơng trình phòng chống bệnh
khác - với mức tài trợ 11 triệu USD trong năm 2000- sang xây dựng chính
sách và lập kế hoạch cho các ngành với mức tài trợ giờ đây lên tới gần 18
triệu USD. Có lẽ chiều hớng này cũng phản ánh thành công của các chơng
trình quốc gia về chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nh chiến dịch tiêm
chủng .Mặc dù có mức thu nhập bình quân đầu ngời thấp, song các chỉ số
về sức khoẻ của Việt Nam có thể so sánh với các nớc có thu nhập trung
bình .Song không thể phủ nhận tình trạng bất bình đẳng khá lớn ở nông
thôn và những vấn đề nghiêm trọng mà Việt Nam vẫn phải đối mặt (xem
ngân hàng thế giới /ADB/UNDP,2000). Ngoài ra trong năm 1999 - 2000,
mức viện trợ cho các hoạt động chăm sóc sức khoẻ sinh sản và kế hoạch
hoá gia đình cao hơn 2- 3 lần so với 2 năm trớc đó. Một phần lớn kinh phí
hỗ trợ cho lĩnh vực này do ADB, WB và Đức cung cấp. Đối với ngành y tế
nói chung ,các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc, đặc biệt là WHO, UNFPA và
UNICEF, đã cung cấp hơn 14 triệu USD trong năm 2000, trong đó có một
phần kinh phí do một số nhà tài trợ song phơng đóng góp.
khoản vay phục vụ cho mục đích tài trợ, tín dụng, cơ sở hạ tầng và giao
thông nông thôn, trong đó phần lớn do WB, JIBIC và Pháp cung cấp. Về
viện trợ không hoàn lại, các tổ chức thuộc LHQ tài trợ cho một số dự án
xoá đói giảm nghèo trực tiếp ở các vùng nông thôn, nh các tỉnh Hà Giang,
Quảng Trị và Trà Vinh. Những dự án này có mối liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp với Chơng trình quốc gia về Xoá đói Giảm nghèo và Chơng trình
Hỗ trợ 1.878 xã nghèo của Chính phủ. Mục tiêu của Chính phủ là xoá bỏ
tình trạng đói kinh niên vào năm 2005 và giảm tỷ lệ nghèo từ 17% năm
2000 xuống còn 5% vào năm 2005, dựa trên chuẩn nghèo mới của Bộ Lao
động, Thơng binh và Xã hội. Nếu tính gộp tất cả những dự án này trong lĩnh
vực phát triển vùng lãnh thổ, thì mức giải ngân lên tới 101 triệu USD trong
năm 2000.
ODA đợc giải ngân trực tiếp cho ngành nông nghiệp ở mức dới 84
triệu USD. Sáu dự án lớn nhất là những dự án vay vốn về thuỷ lợi và phòng
chống lũ lụt của ADB và WB, dự án mía đờng do Pháp và Tây Ban Nha hỗ
trợ, các dự án viện trợ không hoàn lại của Đan Mạch nhằm tăng cờng sản
xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo, và của Na-uy nhằm tăng cờng công tác
quản lý dịch hại tổng hợp trong lĩnh vực bảo vệ thực vật. Ngành Lâm
nghiệp và Thuỷ sản cũng đợc rất nhiều nhà tài trợ song phơng quan tâm.
2.2.4.Hỗ trợ về thể chế và chính sách
đứng ở vị trí thứ t, chiếm 6%tổng mức giải ngân ODA trong năm 2000.
Hình thức ODA này có ý nghĩa quan trọng để hỗ trợ Việt Nam chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa cũng nh hội
nhập với nền kinh tế thế giới. Sự hỗ trợ này chủ yếu nhằm tăng cờng cải
cách hành chính và quản lý kinh tế. Với mức giải ngân 45 triệu USD trong
năm 2000, ADB là nhà tài trợ lớn nhất trong lĩnh vực này. Gần nh toàn bộ
kinh phí (43 triệu USD) đợc cung cấp trong khuôn khổ của chơng trình cho
vay vốn thuộc lĩnh vực tài chính của ADB. Thuỵ Điển và UNDP đứng ở vị
trí thứ hai với mức viện trợ không hoàn lại của mỗi bên là 5 triệu USD. Các
dự án giải ngân lớn nhất của Thuỵ Điển bao gồm chơng trình cải cách kinh
Sau khi tăng lên ở mức khá khiêm tốn là 7%, mức hỗ trợ kỹ thuật độc lập
chiếm 21% (với 280 triệu USD) trong tổng nguồn vốn ODA của năm 2000,
phần nào thấp hơn con số do OECD cung cấp cho các nớc đang phát triển
khác trên thế giới. Các lĩnh vực nh y tế, giáo dục và đào tạo, quản lý kinh tế
và hành chính công tiếp tục thu hút một lợng viện trợ kỹ thuật lớn, trong đó
hầu hết là viện trợ không hoàn lại. Một khoản viện trợ kỹ thuật nhất định đ-
ợc gắn với các chơng trình đầu t, nh khoản tài trợ cho việc xây dựng các
báo cáo nghiên cứu khả thi và các báo cáo khác trong ngành năng lợng,
giao thông vận tải và phát triển công nghiệp. Khoản viện trợ này đợc coi là
loại hình hỗ trợ kỹ thuật gắn với đầu t, và mức đầu t ODA dới hình thức này
đã giảm xuống còn 1% trong tổng nguồn vốn ODA của năm 2000. Tuy
nhiên, một phần trong số này có thể sẽ đợc tính vào tổng kinh phí của các
dự án đầu t. Cuối cùng, mức cứu trợ khẩn cấp và viện trợ lơng thực đã giảm
cả về giá trị tuyệt đối cũng nh giá trị tơng đối và cũng chỉ chiếm 1% trong
tổng nguồn vốn ODA.
3.2.Hỗ trợ giải ngân nhanh.
So với năm 1999 hỗ trợ giải ngân nhanh giảm 1/3, với mức chi
khoảng 75 triệu USD. Các dự án giải ngân nhanh thờng cho các cơ quan
Trung ơng của Việt Nam vay vốn để rồi các cơ quan này cho vay lại. Các
chơng trình giải ngân nhanh vì mục đích chung có phạm vi hoạt động rộng
cũng giống nh chơng trình ESAF (hay PRGF mới ) và SAC nhằm xây dựng
một môi trờnh kinh tế vĩ mô thuận lợi, trong khi các chơng trình giải ngân
nhanh ở các ngành tập trung vào lĩnh vực đặc biệt nh tín dụng nông thôn
hay khu vực tài chính. Trong khi vẫn cha có các chơng trình ESAF/PRGF
và SAC, thì nguồn vốn ODA giải ngân nhanh chủ yếu là các khoản vay hỗ
trợ cho các ngành. Khoản giải ngân lớn nhất trong năm 2000 (gần 43 triệu
USD) đợc thực hiện trong khuôn khổ chơng trình thuộc khu vực tài chính
của ADB.
Chơng trình này nhằm tăng mức tiết kiệm và nâng cao tính hiệu quả
trong việc phân bổ nguồn lực thông qua khuyến khích cạnh tranh và tăng c-
kế hoạch ngân sách, sẽ có ý nghĩa quan trọng để kiểm soát tính bền vững về
nợ nớc ngoài của Việt Nam về lâu dài. Việc gắn với kế hoạch ngân sách còn
giúp quản lý tốt hơn các hoạt động và các chi phí bảo trì những công trình
cơ sở hạ tầng mới trong tơng lai ở Việt Nam.
4.Đánh giá ODA theo các nhà tài trợ
Mời nhà tài trợ lớn nhất trong năm 2000 vẫn rất giống với năm trớc
đó. Toàn bộ kinh phí do mời nhà tài trợ cung cấp chiếm hơn 90% tổng
nguồn vốn ODA cho Việt Nam.
Nhật Bản đã củng cố vị trí là nhà tài trợ lớn nhất ở Việt Nam, với
mức giải ngân đạt 531 triệu USD. Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản
(JIBIC) đã đẩy nhanh đáng kể tốc độ giải ngân cho một số dự án giao thông
vận tải và điện lực có quy mô lớn. Nh vậy nghành năng lợng đã tiếp nhận
hơn 2/3 tổng mức giải ngân của JBIC trong năm 2000. Phần lớn số kinh phí
còn lại đợc chi cho việc xây dựng đờng quốc lộ, khôi phục cầu và xây dựng
các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn trong nghành giao thông vận tải.
Nguồn ODA không hoàn lại của JICA nói chung là ổn định so vơí năm
1999 và đợc đầu t đặc biệt cho các chơng trình đào tạo (về công nghệ), giao
thông vận tải và y tế. Một trong số những dự án đợc biết đến nhiều nhất là
dự án cải tạo Bệnh viện Bạch Mai, trong đó có cả phần cung cấp trang thiết
bị y tế .Dự án này về cơ bản đã đợc hoàn thành vào năm 2000.
ADB có mức giải ngân lớn thứ hai (gần 200 triệu USD). Giao thông
vận tải vẫn là ngành đợc ADB đầu t nhiều nhất, với mức giải ngân gần 69
triệu USD. Các hoạt động hỗ trợ của ADB cho nghành năng lợng đã tăng
lên 5 lần. Sự hỗ trợ của ADB cho lĩnh vực thể chế và chính sách thậm chí
còn tăng với mức độ cao hơn nhiều và vì vậy nó đã trỏ thành lĩnh vực hỗ trợ
lớn thứ hai của ADB. Đây chủ yếu là kết qủa triển khai chơng trình hỗ trợ
trong ngành tài chính của ADB nh nêu ở trên, với mức giải ngân 43 triệu
USD trong năm 2000. Trong năm 2000, ADB dự kiến tiếp tục tăng tổng
mức giải ngân.
Sau khi đạt tới đỉnh cao trong năm 1998, mức giải ngân của WB lại
71
52
51
48
47
37
16
Nguồn :UNDP ; Tạp chí đầu t n ớc ngoài tháng ( 6 năm 2000)
0
100
200
300
400
500
600
Giải ngân của các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc gần nh ổn định trong năm
1999-2000 ở mức 52-53 triệu USD. Trong số các tổ chức này, UNDP với
các nguồn kinh phí trong phạm vi quản lý của mình vẫn là nhà tài trợ lớn
nhất, theo sát UNDP là UNICEF và WFP với lợng kinh phí giải ngân của
mỗi tổ chức này trong năm 2000 là 11-12 triệu USD. Mức giải ngân của
UNDP sau một vài năm bị giảm sút đã lại tăng hơn gấp đôi. ODA do các tổ
chức thuộc Liên Hợp Quốc cung cấp chủ yếu dới hình thức viện trợ không
hoàn lại thuần tuý để phục vụ cho các dự án hỗ trợ kỹ thuật .Ngành y tế
nhận đợc nhiều ODA (14,3 triệu USD) hơn hẳn so với các ngành khác đặc
biệt là từ WTO, UNFPA và UNICEF. Lợng kinh phí này đợc chi cho các ch-
ơng trình nh tiêm chủng mở rộng, sức khoẻ và dợc liệu quốc gia, chăm sóc
sức khoẻ ban đầu và dinh dỡng, tăng cờng sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ bà
mẹ. Một lợng kinh phí đáng kể cũng đợc đầu t cho các hoạt động chuẩn bị
phòng chống thiên tai, xây dựng thể chế, giáo dục phát triển nông thôn và
Quỹ Môi trờng toàn cầu (GEF).
%
20
%
40
%
60
%
80
%
100
%
0
5
10
15
20
25
1996
1997
1998
1999
2000
Biểu đồ 4 :ODA tính theo đầu ng ời các vùng .
Vùng núi
phía Bắc
Đồng
bằng
sông
Hồng
Duyên
các tổ chức NGO quốc tế trong năm 2000 vào khoảng 82 triệuUSD, tơng tự
nh năm 1999. Các tổ chức này mang đến cho Việt Nam những bài học quan
trọng và các phơng pháp thực tiễn rút ra từ kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt
trong các chơng trình xoá đói giảm nghèo ở cấp huyện và xã.
5.Đánh giá ODA theo vùng, lãnh thổ.
Phần này phân tích tình hình phân bổ ODA theo vùng lãnh thổ ở Việt
Nam. Để thực hiện việc phân tích các dự án đợc chia thành ba loại (i) các
dự án ở cấp trung ơng/quốc gia, tức là các dự án ODA do Chính phủ
Trung ơng thực hiện về nguyên tắc nhằm phục vụ cho lợi ích của quốc gia
(nh các khoản vay để hỗ trợ cán cân thanh toán vì mục đích chung); (ii) các
dự án toàn quốc, tức là các dự án ODA đợc thực hiện trên phạm vi toàn
quốc, chứ không riêng cho tỉnh nào (nh các chơnng trình quốc gia về tiêm
chủng mở rộng); và (iii) các dự án cấp tỉnh, tức là các dự án ODA đợc
phân bổ cho các tỉnh cụ thể, trong đó có ba thành phố Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh và Hải Phòng. Với trọng tâm chú ý vào loại thứ ba, phần này
phân tích cách thức phân bổ ODA cho các tỉnh và thành phố. Kết quả phân
tích đợc trình bày ở biểu đồ sau.
Nguồn:Báo cáo điều tra ODA của UNDP
Có thể rút ra bốn kết luận trên cơ sở phân tích sự phân bổ ODA theo
vùng lãnh thổ. Thứ nhất, tỷ trọng ODA đầu t cho các dự án cấp tỉnh - là
loại hình dự án phổ biến - đã tăng đáng kể. Vào năm 1995, các dự án ODA
Trung ơng/quốc gia và toàn quốc chiếm khoảng 70% tổng mức giải
ngân, nhng tình hình trong năm 2000 hoàn toàn đảo ngợc với tỷ trọng ODA
đầu t cho các dự án ODA cấp tỉnh là 70%. Điều đó cho thấy xu thế phân bổ
nguồn vốn ODA cho các tỉnh ngày càng tăng, có nghĩa là viện trợ phát triển
ngày càng đợc đầu t nhiều hơn cho các dự án cấp tỉnh. Tuy nhiên, điều đó
không có nghĩa là việc thực hiện và quản lý ODA cũng đợc phân cấp cho
các tỉnh. Mặc dù trong những năm qua một số bớc quan trọng đã đợc triển
khai trong lĩnh vực này, song tiến trình ODA chủ yếu vẫn mang tính tập
trung. Điều đó dờng nh phù hợp với xu hớng tăng cờng phân cấp các khoản
khoảng 30-45% hay trung bình là 37%. Gần 2/3 ngời nghèo Việt Nam sống
ở ba khu vực: vùng núi phía Bắc (gần 8 triệu ngời, tơng đơng 28%), Đồng
bằng sông Cửu Long (hơn 6 triệu ngời, tơng đơng 21%) và duyên hải Bắc
Trung bộ (5 triệu ngời, tơng đơng với 18%).
Qua phân tích tình hình thực hiện ODA ở trên ta thấy việc thực hiện
ODA trong thời gian qua đã có những kết quả bớc đầu phục vụ cho sự
nghiệp phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam, đã đạt đợc một số mục tiêu của
Chính phủ đề ra, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc,
góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí.
6.Các vấn đề trong thực hiện vốn ODA .
Tuy việc thực hiện các dự án ODA tại Việt Nam đã đợc cải thiện
nhiều sau 8 năm tiếp nhận, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập gây ảnh hởng đến
tiến độ và chất lợng của dự án, cụ thể :
6.1.Công tác tái định c và giải phóng mặt bằng (GPMB) bị chậm.
Đây là vấn đề phổ biến mà các dự án có cấu phần xây dựng cơ bản thờng
gặp phải, đặc biệt trong các ngành giao thông, thuỷ lợi, điện, cấp thoát nớc.
Việc tái định c bắt buộc để giải phóng mặt bằng luôn là vấn đề nhạy cảm.
Hơn nữa, do những hạn chế của nghị định 22/CP về đền bù, tái định c nên
phần lớn việc GPMB ở các dự án đều bị chậm nhiều so với dự kiến.
6.2.Thiếu vốn đối ứng cho các dự án ODA.
Điều này thờng không xảy ra với các dự án mà vốn đối ứng đợc lấy trực tiếp
từ ngân sách trung ơng mà tập trung chủ yếu tại các dự án phải cân đối
nguồn vốn này từ ngân sách các cơ quan cấp Bộ và cấp tỉnh. Theo một tổng
kết gần đây, trong năm 2000, số dự án thiếu vốn đối ứng tại các tỉnh là:
Nghệ An : 5 dự án
Hải Phòng : 4 dự án
Bình Thuận : 2 dự án
Phú Thọ : 2 dự án
Bộ Lao động - Thơng binh và xã hội : 4 dự án
Uỷ ban Quốc gia Dân số và KHHGĐ :1 dự án.
1.Chính sách liên quan đến quản lý và sử dụng vốn ODA.
Trớc năm 1993, việc quản lý và sử dụng ODA đợc điều tiết bởi từng
quyết định riêng lẻ của Thủ tớng Chính phủ đối với từng chơng trình, dự án
ODA và nhà tài trợ cụ thể. Cách điều hành này đã không thể đáp ứng đợc
yêu cầu quản lý ODA tronng tình hình mới. Do đó từ 1994 đến nay Chính
phủ đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp quy để quản lý ODA.
1.1.Nghị định 20/CP.
Năm 1993, khi bắt đầu tiếp nhận ODA, Chính phủ Việt Nam đã có
các cam kết với cộng đồng tài trợ quốc tế về trách nhiệm quản lý và sử
dụng có hiệu quả nguồn lực này, trớc hết bằng việc xây dựng và áp dụng
một khung pháp luật cho hoạt động thu hút và tiếp nhận ODA. Ngày
15/3/1994 Chính phủ ban hành nghị định 20/CP về Quy chế quản lý và sử
dụng nguồn vốn ODA là biểu hiện đầu tiên để thể hiện cam kết nói trên.
Trong một bối cảnh hoàn toàn mới mẻ, Nghị định 20/CP không tránh
khỏi sự đơn giản và sơ lợc đối với thực tế tiếp nhận ODA không ngừng biến
đổi và trở nên ngày một đa dạng và phức tạp hơn.
1.2 .Nghị định 87/CP .
Sau 3 năm thi hành, 20/CP tỏ rõ không đủ để đáp ứng với yêu cầu
quản lý trong tình hình mới và do vậy 87/CP ra đời vào ngày 5/8/1997.
Điểm khác nhau căn bản của Nghị định này so với 20/CP ra đời trớc đó thể
hiện ở các điểm:
(i) Quy định một cách cụ thể trách nhiệm, chức năng, quyền hạn của
các Bộ, ngành có tham gia quản lý điều hành vốn ODA, đặc biệt là 5 cơ
quan tham mu nh Bộ Kế hoạch và Đầu t, Bộ Tài chính, Bộ ngoại giao, Ngân
hàng Nhà nớc Việt Nam, Văn phòng Chính phủ.
(ii) Có sự phân cấp mạnh trong quá trình thẩm định, phê duyệt các dự
ánODA. Giao trách nhiệm nhiều hơn cho các Bộ, các địa phơng trong quá
trình xây dựng, phê duyệt, thẩm định dự án.
(iii) Giảm bớt một cách đáng kể các thủ tục, đẩy nhanh hơn quá trình
tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA, nhất là các dự án đầu t.
nhà thầu yêu cầu chủ dự án thanh toán trả chậm, điều này gây khó khăn lớn
cho chủ dự án và thiệt hại cho Nhà nớc. Đối với các dự án do phải chờ phê
duyệt bổ sung giá trị hợp đồng nên một số khôi lợng đã hoàn thành không
giải ngân đợc gây khó khăn cho các nhà thầu.
Xem xét thêm về cơ chế cho vay lại (Quyết định số 02/2000/QĐ-
BTC của Bộ tài chính). Nếu lãi xuất u đãi trong trờng hợp cho vay bằng
ngoại tệ đợc tính bằnh 2/3 lãi xuất thơng mại tham chiếu tại thời điểm ký
hiệp định cộng với phí nớc ngoài (nếu có) và phí dịch vụ cho vay lại thì sẽ
rất khó khăn đối với các chủ dự án trong tình hình hiện nay.
Nguồn vốn để lập đề cơng, xây dựng báo cáo tiền khả thi, khả thi cho
các dự án ODA hiện nay hầu nh không đợc cấp. Nguồn kinh phí này có hay
không còn tuỳ thuộc vào mức độ linh hoạt của các cơ quan chủ quản, các
chủ dự án.
Quản lý dự án là một nghề có tính chuyên nghiệp cao, đòi hỏi cán bộ
phải có phẩm chất và chuyên môn nhất định. Nhng thực tế hiện nay có
không ít dự án, cán bộ làm công tác này có sự điều độngthay đổi rất nhiều
thậm chí rất tuỳ tiện, điều này làm cho phía nớc ngoài khó hiểu và bất bình.
Vẫn có nhiều ý kiến đề nghị miễn thuế (nhập khẩu, VAT, ) đối với
các dự án ODA.
1.3.Nghị định 17/CP.
Với 8 chơng, 46 điều, Nghị định 17/CP ngày 4/5/01 về Việc Ban
hành Quy chế Quản lý và Sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) (có hiệu lực từ 19/05/01 thay thế nghị định 87/CP, đã đề cập một
cách tơng đối chi tiết toàn bộ quá trình từ thu hút, vận động, đến thực hiện
và theo dõi, đánh giá các chơng trình, dự án ODA. Nét mới ở nghị định so
với Nghị định 87/CP thể hiện ở một số điểm:
(1) Có sự điều chỉnh lại thứ tự u tiên các lĩnh vực sử dụng ODA
với định hớng u tiên cao nhất là xoá đói giảm nghèo, nông nghiệp và phát
triển nông thôn, đặc biệt tại các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng
xa (Điều 3.1.a,3.2.a)