BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM.TPHCM
KHOA MÔI TRƯỜNG.
ĐỀ TÀI: .ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO TỒN
Giảng viên hướng dẫn : TS. LÊ QUỐC TUẤN
Sinh viên thực hiện MSSV
-Đặng Minh Hùng 11149632
-Đinh Quang Cường 11149612
-Lê Phi Hùng 11149559
-Nguyễn Văn Quyết 11149656
-Nguyễn Văn Phương 11149572
-Nguyễn Thanh Tùng 11149593
-Rah Lan Gia Kơ 11149561
LỚP : QM 11
NHÓM : III
- 1 -Đa dạng sinh học
Mục lục
Chương I:Đặt vấn đề
Tại sao phải nghiên cứu về đa dạng sinh học ở Việt Nam ?
Chương II:Nội Dung
I.KHÁI NIỆM ĐA DẠNG SINH HỌC
II. PHÂN LOẠI ĐA DẠNG SINH
Mức độ đa dạng sinh học
+Đa dạng về các hệ sinh thái
+Đa dạng về loài
loài thuỷ sinh vật. Môi trường biển với 20 kiểu hệ sinh thái đặc thù, đặc trưng cho biển nhiệt đới
và là môi trường sống của trên 11.000 loài sinh vật biển. Khoảng hai thập kỷ gần đây, rất nhiều
loài động, thực vật mới được phát hiện và mô tả, trong đó có nhiều chi và loài mới cho khoa
học; đặc biệt là các loài thú và các loài cây thuộc họ Lan. Hiện nay nhiều loài động, thực vật mới
vẫn được tiếp tục phát hiện và công bố ở Việt Nam.
- 3 -
Đa dạng sinh học trên cạn
Ở Việt Nam, các hệ sinh thái và tài nguyên sinh vật không chỉ đóng vai trò quan trọng của nền
kinh tế và văn hoá của đất nước, thể hiện ở các giá trị chính là bảo vệ thiên nhiên và môi trường
(giá trị về chức năng sinh thái); kinh tế (giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp); và văn hóa, xã
hội. ĐDSH đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc gia, là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực; duy trì
nguồn gen vật nuôi, cây trồng; cung cấp các vật liệu cho xây dựng và các nguồn nhiên liệu, dược
liệu…. Mà đa dạng sinh học còn có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự
nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự
bền vững của thiên nhiên trên trái đất.
Theo ước tính giá trị của tài nguyên đa dạng sinh học toàn cầu cung cấp cho con người là 33.000
tỷ đô la mỗi năm (Constan Za et al-1997). Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên đa dạng sinh học
trong các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng năm cung cấp cho đất nước khoảng 2
tỷ đô la (Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam-1995).
Đa dạng sinh học dưới biển
Đa dạng sinh học là cơ sở của mọi sự sống để tạo dựng nên sự phồn vinh của loài người.
Việt Nam cũng giống như các dân tộc trên hành tinh này, 54 cộng đồng các dân tộc anh em sống
trên lãnh thổ Việt Nam qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước đã từng sớm biết lựa chọn,
khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có DDSH.
Thực vậy, trong cuộc sống, để tồn tại và phát triển loài người luôn luôn phải dựa trên cơ sở hai
- 4 -
nguồn năng lượng chính mà thiên nhiên phải mất đi hàng triệu triệu năm để hình thành. Đó là:
1- Năng lượng hoá thạch là nguồn tài nguyên không tái tạo được, vì vậy phải sử dụng hợp lý
• Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn
đến các loài thực, động vật và các loài nấm.
• Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về
gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung
sống trong một quần thể.
• Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh
sống và các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt
của các mối tương tác giữa chúng với nhau.
II/Phân loại đa dạng sinh học
Mức độ đa dạng sinh học
Phân hóa đa dạng sinh học toàn cầu
- 6 -
1. Đa dạng sinh học ở Việt Nam
1.1. Đa dạng về các hệ sinh thái (HST)
Khái niệm HST: HST là hệ các quần xã sinh vật sống chung và phát triển trong cùng một môi
trường nhất định, tương tác với nhau và với môi trường đó thông qua chu trình trao đổi năng
lượng và vật chất.
Ví dụ: Một cái ao, hồ, một khúc sông, khu rừng, đồng cỏ, một cánh đồng, một làng, thành phố
…. gồm các sinh vật và môi trường của nó đều được coi là HST.
- Phân chia chức năng của HST:
Căn cứ vào vị trí, vai trò, chức năng và yêu cầu của kinh tế, xã hội môi trường có thể chia 4 loại
hình HST chính như sau:
- HST nơi cư trú
- HST làm chức năng sản xuất
- HST cần được bảo tồn
- HST phục vụ cho nghỉ ngơi, giải trí, văn hoá – xã hội …
HST trên đất liền: HST công nghiệp – đô thị; HST nông nghiệp; HST rừng; HST savan, đồng
cỏ;HST khô cạn; HST núi đá vôi.
HST dưới nước: HST đất ngập nước: hồ, ao, đầm phá …, HST sông, suối, HST ven biển, các
- Đầm lầy than bùn: đầm lầy than bùn là đặc trưng cho vùng Đông Nam Á. U Minh thượng và U
Minh hạ thuộc các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau là hai vùng đầm lầy than bùn tiêu biểu còn sót lại ở
đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.
Vùng sông nước U Minh Hạ
- Đầm phá: thường thấy ở vùng ven biển Trung bộ Việt Nam. Do đặc tính pha trộn giữa khối
nước ngọt và nước mặn nên khu hệ thủy sinh vật đầm phá rất phong phú bao gồm các loài nước
ngọt, nước lợ và nước mặn. Cấu trúc quần xã sinh vật đầm phá thay đổi theo mùa rõ rệt.
- 8 -
Tam Giang-Cầu Hai là hệ đầm phá lớn nhất Việt Nam
- Rạn san hô, cỏ biển: đây là các kiểu hệ sinh thái đặc trưng cho vùng biển ven bờ, đặc biệt rạn
san hô đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới. Quần xă rạn san hô rất phong phú bao gồm các nhóm
động vật đáy (thân mềm, giáp xác), cá rạn. Thảm cỏ biển thường là nơi cư trú của nhiều loại rùa
biển và đặc biệt loài thú biển Dugon.
Rạng san hô Việt Nam
- Vùng biển quanh các đảo ven bờ: ven bờ biển Việt Nam có hệ thống các đảo rất phong phú.
Vùng nước ven bờ của hầu hết các đảo lớn được đánh giá có mức độ ĐDSH rất cao với các hệ
sinh thái đặc thù như rạn san hô, cỏ biển
- 9 -
Biển và đảo ngày càng có vai trò quan trọng về nhiều mặt kinh tế, quân sự, chính trị
Việt Nam có 2 vùng ĐNN quan trọng là ĐNN vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng và ĐNN
đồng bằng sông Cửu Long:
- ĐNN ở vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha. Đây là nơi tập trung các
hệ sinh thái với thành phần các loài thực vật, động vật vùng rừng ngập mặn phong phú, đặc biệt
là nơi cư trú của nhiều loài chim nước.
- ĐNN đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nước 4.939.684 ha. Đây là bãi đẻ quan
trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phía thượng nguồn sông Mê Công. Những khu rừng ngập
nước và đồng bằng ngập lũ cũng là những vùng có tiềm năng sản xuất cao. Có 3 hệ sinh thái tự
nhiên chính ở đồng bằng sông Cửu Long, đó là hệ sinh thái ngập mặn ven biển; hệ sinh thái rừng
Các hệ sinh thái của rừng Việt Nam rất đa dạng, mỗi hệ sinh thái rừng thực chất là một phức hệ
rất phức tạp, được vận hành và chi phối bởi các quy luật nội vi và ngoại vi. Xét theo tính chất cơ
bản là thảm thực vật bao phủ đặc trưng cho rừng mưa nhiệt đới ở Việt Nam, có thể thấy các kiểu
rừng tiêu biểu: rừng kín vùng thấp, rừng thưa, trảng truông, rừng kín vùng cao, quần hệ lạnh
vùng cao. Trong đó, các kiểu và kiểu phụ thảm thực vật sau đây có tính ĐDSH cao hơn và đáng
chú ý hơn cả: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô
nhiệt đới; kiểu rừng kín cây lá rộng, ẩm á nhiệt đới núi thấp; kiểu phụ rừng trên núi đá vôi có giá
trị đa dạng sinh học cao và có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học của
Việt Nam.
Tuy nhiên,diện tích rừng của Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn biến động khác nhau. Theo
thống kê của tác giả Paul Maurand (1943), năm 1943 Việt Nam có diện tích rừng là 14,3 triệu
hecta, đạt tỷ lệ che phủ lãnh thổ là 43%. Từ năm 1943-1975, diện tích rừng đã bị suy giảm còn
11,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ là 34% (Viện Điều tra quy hoạch rừng, năm 1976).
Giai đoạn 1976 đến 1990 là thời kỳ tài nguyên rừng bị khai thác mạnh để phục vụ phát triển kinh
tế xã hội của đất nước sau chiến tranh. Diện tích rừng trong giai đoạn này tiếp tục giảm xuống,
diện tích rừng năm 1990 chỉ còn chưa đầy 9,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ chỉ đạt 27,8%.
Giai đoạn 1990 đến nay Chính phủ đã có nhiều biện pháp về chính sách và đầu tư nên diện tích
rừng đã dần được phục hồi kể cả diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng. Năm 2005, diện tích rừng
đã đạt trên 12,6 triệu hecta với độ che phủ 37%.
- 13 -
Bảng 1: Diễn biến diện tích và độ che phủ rừng qua các thời kỳ
Năm Diện tích rừng (1000 ha) Độ che phủ
(%)
Ha/Đầu
người
Tổng cộng Rừng tự
nhiên
Rừng trồng
1943 14.300,0 14.300,0 0 43,2 0,57
a/Đa dạng loài trên thế giới
Thế nào là loài (Species)?
Loài là một taxon của mỗi nhóm cá thể, có quan hệ họ hàng gần nhau, có khả năng trao đổi
thông tin di truyền, tức là giao phối lẫn nhau tạo thành các thế hệ trong quần thể.
Các nhà khoa học đã ước tính về sự đa dạng loài có khoảng từ 5.443.644 đến 33.392.485 loài.
Đây là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo vô cùng quí giá, là tiềm năng rất lớn quyết định sự
sống còn của nhân loại.
Nhóm sinh vật
Số lượng loài đã được miêu
tả (%)
Số lượng loài ước tính (%)*
Động vật chân khớp 1,065,000 (61%) 8,900,000 (65%)
Thực vật ở cạn 270,000 (15%) 320,000 (2%)
Protoctists 80,000 (5%) 600,000 (4%)
Nấm 72,000 (4%) 1,500,000 (11%)
Thân mềm 70,000 (4%) 200,000 (1%)
Động vật có dây sống 45,000 (3%) 50,000 (<1%)
Giun tròn 25,000 (1%) 400,000 (3%)
Vi khuẩn 4,000 (<1%) 1,000,000 (7%)
Vi rut 4,000 (<1%) 400,000 (3%)
Nhóm khác 115,00 (7%) 250,000 (2%)
Total 1,750,000 (100%) 13,620,000 (98%)
Thành phần đa dạng sinh học của trái đất.
- 17 -
Trong những năm qua, cùng với những nổ lực về bảo tồn đa dạng sinh học, công tác điều
tra nghiên cứu về đa dạng sinh học cũng được nhiều cơ quan Việt Nam cũng như các tổ chức
quốc tế thực hiện. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thành phần loài động, thực vật, các hệ
sinh thái đặc trưng. Các kết quả nghiên cứu được tập hợp từ các nhà khoa học, các cơ quan
nghiên cứu cho thấy:
Thú biển 16
Nguồn: Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật,2005
b/Đa dạng loài tại Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia xếp thứ 16 trên thế giới về tính đa dạng sinh học
Cụ thể:
Đa dạng về thực vật ở Việt Nam.
Khu hệ thực vật: Do sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt
đới,cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên và cũng do đó mà
Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao.Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng
trong một thời kỳ kéo dài nhiều thế kỷ, hệ thực vật rừng Việt Nam vẫn còn phong phú về chủng
loại. Theo các tài liệu đã công bố, hệ thực vật nước ta gồm khoảng 11.373 loài thực vật bậc cao
- 18 -
có mạch, khoảng 1.030 loài rêu, 2.500 loài tảo và 826 loài nấm. Theo dự báo của các nhà thực
vật học, số loài thực vật bậc cao có mạch ít nhất sẽ lên đến 15.000 loài.Hệ thực vật Việt Nam có
độ đặc hữu cao. Phần lớn số loài đặc hữu này (10%) tập trung ở bốn khu vực chính: khu vực núi
cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, cao nguyên Lâm
Viên ở phía Nam và khu vực rừng mưa ở Bắc Trung Bộ. Nhiều loài là đặc hữu địa phương chỉ
gặp trong vùng rất hẹp với số các thể rất thấp
Cây đa Bác Hồ ở thôn Ngòi
Đa dạng về động vật ở Việt Nam
310 loài thú
840 loài chim( 100 loài đặc hữu)
286 loài bò sát
82 loài lưỡng cư
52 loài tôm ( 27 loài đặc hữu)
547 loài cá nước ngọt ( 35 loài đặc hữu)
2038 loài cá biển
7750 loài côn trùng
Các loại trên cạn va các loại nước ngọt
khoa học, đã xác định được 547 loài cá nước ngọt phân bố ở Việt Nam. Ngoài ra, trong quá trình
phát triển nghề, đã nhập nội thêm hàng chục loài khác như cá trắm cỏ, cá rô phi, cá rôhu,
v.v… Cho đến nay nhiều loài cá nước ngọt mới vẫn tiếp tục được tìm thấy.
- 21 -
Một số loài cá vừa phát hiện tại Việt Nam
Trong một khoảng thời gian ngắn từ 1992-2004, các nhà khoa học Việt Nam đã cùng với
một số tổ chức quốc tế đã phát hiện thêm 7 loài thú, 2 loài chim mới cho khoa học.
- Sao la Pseudoryx nghetinhensis
- Mang lớn Megamuntiacus vuquangensis
- Bò sừng xoắn Pseudonovibos spiralis
- Mang trường sơn Canimuntiacus truongsonensis
- Mang Pù hoạt Muntiacus puhoatensis
- Cầy Tây nguyên Viverra taynguyenensis
- Vooc xám Pygathrix cinereus
- Thỏ vằn Isolagus timminsis
- Khưới Ngọc linh Garrulax ngoclinhensis
- Khưới đầu đen Actinodora sodangonum
Về thực vật, trong giai đoạn 1993 – 2003, đã có 13 chi, 222 loài và 30 taxon dưới loài đó
được phát hiện và mô tả mới cho khoa học v.v.
- 22 -
Một số hình ảnh về đa dạng hệ sinh thái loài (các loài động vật mới phát hiện)
Sao la Pseudoryx nghetinhensis
Khưới Ngọc linh Garrulax ngoclinhensis
Các sinh vật biển
- 23 -
Một số loài sinh vật biển
nghiệp và phát triển nông thôn, 2005.
Lúa, ngô, sắn, khoai lang là bốn cây lương thực chính của Việt Nam
- 25 -