CHƯƠNG I. LÝ THUYẾT QUYỀN CHỌN
Trang
1. Khái quát quyền chọn chứng khoán: 1
1.1. Khái niệm: 1
1.2. Phân loại: 1
Theo kiểu quyền chọn: 1
+ Quyền chọn kiểu Mỹ: 1
+ Quyền chọn kiểu Châu Âu: 1
Theo hình thức: 1
+ Quyền chọn mua: 1
+ Quyền chọn bán: 1
1.3. Thị trường quyền chọn: 1
2. Lịch sử hình thành: 2
CHƯƠNG II. SỰ CẦN THIẾT ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.
1. Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam: 5
2. Phân tích sự biến động của VN-Index trên thị trường
chứng khoán Việt Nam: 6
2.1. Từ 2000 đến 6/2001: 6
2.2. Từ 6/2001 đến 12/2005: 6
2.3. Năm 2006: 7
2.4. Năm 2007: 8
2.5. Đầu 2008: 10
3. Phân tích và đánh giá rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam: 12
3.1. Rủi ro hệ thống: 12
3.1.1. Rủi ro thị trường (loại rủi ro phổ biến và thường thấy nhất): 13
3.1.2. Rủi ro lãi suất: 13
3.1.3. Rủi ro sức mua: 14
3.1.4. Rủi ro tỷ giá: 14
1.2. Khó khăn: 23
1.2.1 Vẫn chưa có hệ thống pháp luật nào điều chỉnh
và qui định cụ thể hoạt động này: 23
1.2.2. Chính sách thuế chưa khuyến khích nhà đầu tư: 23
1.2.3. Sự thiếu hiểu biết của nhà đầu tư. 23
1.2.4. Hàng hóa trên thị trường chứng khoán thật sự chưa nhiều
và kém chất lượng. 23
1.2.5. Giá giao dịch cổ phiếu vẫn còn nằm trong biên độ kiểm soát: 24
2. Những đề xuất để có thể áp dụng quyền chọn trong thời gian tới: 24
2.1. Nhà nước nên sớm nghiên cứu và áp dụng quyền chọn cổ phiếu
trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 24
2.2. Nâng cao hơn nữa năng lực quản lý của nhà nước đối với thị trường. 24
2.3. Tăng cung ứng cho thị trường về số lượng, chất lượng, chủng loại: 24
2.4. Khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường. 25
2.5. Nâng cao tính hiệu quả, chính xác và minh bạch trong việc
cung cấp thông tin. 25
2.6. Hoàn thiện quy trình và nâng cao trang bị kỹ thuật giao dịch. 25
2.7. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền phổ biến lợi ích của
các công cụ phái sinh và khuyến khích hướng dẫn các doanh nghiệp,
các nhà đầu tư sử dụng hiệu quả. 25
2.8. Hoàn thiện cơ sở hạ tầng đê chuẩn bị cho giao dịch phái sinh. 26
KẾT LUẬN
CHƯƠNG I. LÝ THUYẾT QUYỀN CHỌN
1. Khái quát quyền chọn cổ phiếu:
1.1.Khái niệm:
Quyền chọn cổ phiếu là một hợp đồng giữa hai bên - người mua và người
bán - trong đó người mua có quyền (nhưng không có nghĩa vụ) mua hoặc bán một
chọn mua và quyền chọn bán đã thành lập các thị trường quyền chọn với mục đích
cung cấp kỹ thuật nhằm đưa những người mua và bán lại với nhau. Nếu một người
nào đó muốn mua quyền chọn, môt thành viên của hiệp hội sẽ tìm kiếm một người
bán sẵn sàng muốn ký hợp đồng bán quyền chọn. Nếu công ty thành viên không
tìm được người muốn bán, tự công ty sẽ bán quyền chọn. Vì vậy, một công ty
thành viên có thể vừa là nhà môi giới - người mang người mua và người bán đến
với nhau hoặc nhà kinh doanh - người thực hiện vị thế giao dịch.
Tuy nhiên, thị trường quyền chọn phi tập trung này bộc lộ nhiều khiếm
khuyết:
Thứ nhất, do không có thị trường thứ cấp nên hợp đồng quyền chọn có rất
ít, thậm chí không có tính thanh khoản.
Thứ hai, việc thực hiện hợp đồng của người bán chỉ được đảm bảo bởi công
ty môi giới kiêm kinh doanh. Do đó, rủi ro thanh toán, rủi ro phá sản đối với người
nắm giữ quyền chọn là rất lớn.
Thứ ba, phí giao dịch còn tương đối cao.
Năm 1973, đã có một thay đổi mang tính cách mạng trong thế giới quyền
chọn. Sàn giao dịch Chicago Board of Trade (CBOT) – sàn giao dịch lâu đời nhất
và lớn nhất về các hợp đồng giao sau hàng hóa, đã tổ chức một sàn giao dịch dành
riêng cho giao dịch quyền chọn cổ phiếu. Sàn giao dịch này được đặt tên là
Chicago Board Options Exchange (CBOE), mở cửa giao dịch quyền chọn mua vào
ngày 26/04/1973 và giao dịch các hợp đồng quyền chọn bán trong tháng 06/1977.
CBOE đã tạo ra một thị trường trung tâm cho các hợp đồng quyền chọn.
Bằng cách tiêu chuẩn hóa các kỳ hạn và điều kiện của hợp đồng quyền chọn, nó đã
làm tăng tính thanh khoản cho thị trường. Tuy nhiên, quan trọng nhất, CBOE đã
bổ sung một trung tâm thanh toán đảm bảo cho người mua rằng người bán sẽ thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng. Vì vậy, người mua quyền chọn không còn
phải lo lắng về rủi ro tín dụng của người bán. Điều này khuyến khích quyền chọn
trở nên hấp dẫn hơn đối với công chúng.
Tiếp theo đó, thị trường chứng khoán Mỹ (AMEX) và thị trường chứng
khoán Philadelphia (PHLX) bắt đầu thực hiện giao dịch quyền chọn vào năm
nhiên, sự phát triển của thị trường phi tập trung của các định chế đã gây áp lực
nặng nề lên các sàn giao dịch quyền chọn. Vào đầu thập niên 1990, các sàn giao
dịch đã cố gắng trở nên sáng tạo hơn để dành lại thị phần giao dịch và kích thích
mối quan tâm của công chúng đối với quyền chọn. Tuy nhiên, các xu hướng này
không có nghĩa là quyền chọn đang mất dần tính đại chúng. Thật ra, chúng trở
nên phổ biến hơn bao giờ hết đối với các định chế tài chính và doanh nghiệp,
nhưng mức tăng trưởng thì tập trung ở các thị trường phi tập trung.
Như vậy, thuật ngữ “quyền chọn” không hề xa lạ trong nền kinh tế thế giới.
Nó là một công cụ phòng ngừa rủi ro hết sức hiệu quả, đáp ứng được hầu hết mọi
khẩu vị của các nhà đầu tư, đặc biệt là đối với những ngành nghề, chủng loại hàng
hoá nhiều rủi ro. Riêng đối với quyền chọn cổ phiếu, thị trường sản phẩm bậc cao
này đã thể hiện tính hiệu quả và năng động của mình song song với thị trường
chứng khoán cơ sở. Qua quá trình phát triển, quyền chọn đã chứng tỏ khả năng và
ưu điểm của mình đối với thị trường tài chính hiện đại.
CHƯƠNG II. SỰ CẦN THIẾT CỦA QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.
1. Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam:
Nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của thị trường chứng khoán đối
với nền kinh tế, Đảng và Nhà nước chủ trương thành lập thị trường chứng khoán
Việt nam với phương châm thận trọng và vững chắc.
Theo Nghị định 75-CP, ngày 28/11/1996, Ủy Ban chứng khóan Nhà nước
trực thuộc Bộ tài chính được thành lập, là cơ quan cao nhất quản lý mọi hoạt động
trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh được thành lập theo
quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998, chính thức giao dịch từ ngày 28
tháng 7 năm 2000, đánh dấu 1 sự kiện quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội
nhiên, phiên giao dịch đầu tiên chỉ có 8 công ty niêm yết với 6 loại cổ phiếu, 3 loại
trái phiếu Chính phủ và 2 loại trái phiếu của BIDV. Tổng giá trị niêm yết 33,9
triệu cổ phiếu là 338,4 tỷ đồng. Hơn nữa, quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp
Nhà nước diễn ra quá chậm, không thể tạo thêm hàng hóa cho thị trường. Do đó,
VN-index tăng liên tục từ 100 lên 571,04 điểm ở phiên giao dịch thứ 137 ngày
25/6/2001 với tổng khối lượng khớp lệnh là 2,681 triệu cổ phiếu, đạt giá trị 23,571
tỷ đồng, đánh dấu đỉnh điểm đợt sốt nóng lần thứ nhất trên thị trường chứng
khoán. Giai đoạn này, nhà đầu tư nước ngoài vẫn chưa được tham gia thị trường.
2.2. Từ tháng 6/2001 đến tháng 12/2005:
Tuy nhiên, ngay sau đó, sự phấn khích của nhà đầu tư nhanh chóng biến
thành nỗi ám ảnh khi VN-Index bắt đầu tuột dốc không phanh (giai đoạn tháng
7/2001 đến tháng 10/2001), khởi đầu một giai đoạn trầm lắng dài của thị trường
chứng khoán với mốc đánh dấu sự khủng hoảng là phiên giao dịch thứ 652 ngày
24/10/2003, tổng giá trị giao dịch trên thị trường chỉ còn 1,782 tỷ đồng. Nguyên
nhân là một số ý kiến cho rằng giá cổ phiếu đã vượt qua giá trị thực của nó. Để
bảo vệ nhà đầu tư, Ủy ban chứng khoán đã đưa ra một số biện pháp như tăng cung
chứng khoán, giảm biên độ giao dịch, quy định khối lượng giao dịch tối đa cho
một loại chứng khoán…Và chúng đã thực sự có hiệu quả.
Sau đó, thị trường chứng khoán có chút khởi sắc nhưng tốc độ tăng trưởng
vẫn rất chậm.
Năm 2004, Quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên VF1 được thành lập và niêm
yết trên thị trường. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán hiện vẫn còn quá nhỏ, giá
và chỉ số luôn biến động, các công ty cổ phần niêm yết đa số là doanh nghiệp vừa
và nhỏ nên vẫn chưa có sức hút mạnh nhà đầu tư.
2.3. Năm 2006:
Thị trường chứng khoán quả thật là một thị trường đầy biến động và thay
đổi không ngừng. Những tháng đầu năm 2006, thị trường đã tăng trưởng trở lại. Ở
phiên giao dịch đầu năm, ngày 3/1/2006, VN-Index đạt 305,28 điểm và đã liên tục
tăng đến 623,69 điểm ở phiên giao dịch thứ 1276. Đỉnh điểm đợt sốt thứ hai còn
cao hơn đợt một với nhiều chuyển biến tích cực của thị trường. Tổng số chứng
News Network đánh giá “thị trường chứng khoán Việt Nam đã có màn trình diễn
tuyệt vời và Việt Nam là ngôi sao mới nổi trên thị trường chứng khoán thế giới”.
VN-Index năm 2006 tăng 145% và chưa đầy 2 tháng của năm 2007, chỉ số này
tăng thêm 44%. Làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành thỏi nam
châm thu hút mạnh nhiều đối tượng đầu tư, chuyên nghiệp và cả nghiệp dư. Theo
tạp chí Financial Times, đây thực sự là 1 cơn sốt chứng khoán, đã có 1 tầng lớp
trung lưu mới nổi của Việt Nam lao vào cơn say chứng khoán, từ các doanh nhân
có kinh nghiệm thương trường đến các công chức nhà nước, sinh viên, các bà nội
trợ cũng rủ nhau chơi chứng khoán với “giấc mơ thu được lợi nhuận trời cho”.
Trước tình hình này, đã có 1 số cảnh báo về việc các quỹ đầu cơ nước ngoài đang
đổ tiền vào Việt Nam, làm thị trường nóng lên bất thường và có dấu hiệu bong
bóng, nguy hiểm hơn, quả bóng này có thể xì hơi - ảnh hưởng rất xấu đến thị
trường chứng khoán Việt Nam non trẻ và cả nền kinh tế-xã hội Việt Nam.Chính
điều đó đã dẫn đến việc bán tháo cổ phiếu của các nhà đầu tư nhỏ, làm VN-Index
rơi vào giai đọan suy giảm lần 1 của năm kéo dài trong tháng 3 và 4/2007.
Không lâu sau, khoảng cuối tháng 4 đầu tháng 5, thị trường phục hồi trở lại
với sự tăng giá mạnh của các cổ phiếu Blue-chips do các nhà đầu tư nước ngoài
tích cực mua vào và sự kiện IPO của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam-Bảo Việt.
Tuy nhiên từ tháng 5, thị trường chứng khoán lại bước vào đợt suy thoái dài
hạn, VN-Index sụt giảm mạnh xuống 884 điểm vào ngày 23/8. Nguyên nhân trước
nhất là do Ngân hàng Nhà nước ra chỉ thị 03/2007/CT-NHNN, giới hạn tỷ lệ cho
vay đầu tư chứng khoán của các tổ chức tín dụng, các báo cáo không khả quan, dự
đoán thị trường sẽ giảm xuống mức 900 điểm của các định chế tài chính lớn
(HSBC, Merrill Lynch). Làm cho nhà đầu tư trong nước hoang mang và đẩy mạnh
bán cổ phiếu. Thời điểm này, giá trị giao dịch cũng giảm mạnh, bình quân khoảng
450-500tỷ đồng/phiên, chỉ bằng 1/3 giá trị giao dịch bình quân thời điểm thị
trường tăng nóng.
Thị trường chứng khoán phục hồi trở lại giai đoạn cuối tháng 9 và 10, giá
trị giao dịch bình quân hai sàn tăng mạnh, đạt 1600 tỷ đồng/phiên. Nguyên nhân
có thể thấy là do sự phục hồi thị trường chứng khoán toàn cầu và sự kỳ vọng của
thua lỗ, Ủy ban chứng khoán đã thu hẹp biên độ giao dịch chỉ còn 1% trên sàn
HOSE và 2% trên sàn HASTC (trước đó là 5% và 10%), sau 1 thời gian, biên độ
lại được tăng lên 2% và 3%
Tuy Chính phủ và các ban ngành liên quan đã cố gắng sử dụng các biện
pháp hành chính lẫn thị trường để thay đổi tình hình nhưng chỉ số thị trường vẫn
giảm sâu, các đáy 600, 500 và thậm chí 400 cũng nhanh chóng bị phá. Ngày 25/3,
khi các mã chứng khoán đồng loạt giảm xuống mức sàn làm VN-Index giảm 24,43
điểm, còn 496,64 điểm đáy 500 chính thức bị phá. Cho đến 16/5/2008, VN-Index
còn 460 điểm, như vậy, chỉ số này đã giảm 50,4% so với cuối 2007 và giảm 60,7%
so với đỉnh cao 3/2007, nhiều mã chứng khoán đã xuống dưới giá trị thực. Kết
thúc phiên giao dịch ngày 4/6, Việt Nam-Index chính thức phá ngưỡng 400, đóng
cửa ở mức 395,66 điểm, số mã chứng khoán giảm dưới mệnh giá tiếp tục tăng
thêm). Ngay cả những nhóm cổ phiếu chủ chốt trên sàn như STB, SSI, FPT vẫn
chưa thoát ra khỏi chuỗi ngày giảm giá. Đến nay, hầu hết các cổ phiếu Blue-chips
đã giảm khoảng 50-75% so với hồi tháng 3/2007. Giải thích cho sự đi xuống trước
cơn lốc bán tháo cổ phiếu dường như không có điểm dừng này, có thể thấy các
nguyên nhân :
Trước tiên là sự tụt dốc chung của thị trường chứng khoán các nước. Rồi
tình hình lạm phát tăng cao, cuộc chạy đua lãi suất của các ngân hàng thương mại
và giá vàng tăng nóng đã thu hút vào các kênh đầu tư này một lượng tiền không
nhỏ. Cùng với các biện pháp ưu tiên kiềm chế lạm phát là chính sách tiền tệ thắt
chặt của Ngân hàng Nhà nước đã gây khó khăn rất nhiều cho nhà đầu tư. Chỉ thị
03 rồi quyết định 03 liên tiếp ra đời, hạn chế nguồn vốn đổ vào thị trường, vì đa số
các nhà đầu tư sử dụng tiền vay ngân hàng để đầu tư chứng khoán, hơn nữa các
khoản vay đó nay đã đến thời điểm đáo hạn, nhà đầu tư buộc phải bán chứng
khoán với bất kì giá nào để có tiền trả nợ, nếu không trả được, các ngân hàng sẽ
giải chấp lượng cổ phiếu đó. Các yếu tố có tác động dây chuyền này càng làm mất
cân đối cung cầu càng nghiêm trọng hơn. Riêng với các nhà đầu tư trong nước vẫn
còn tiền, dù biết đây là thời điểm rất tốt để đầu tư nhưng vẫn không dám mạnh dạn
mua vào vì sợ thị trường sẽ vẫn tiếp tục xuống và cũng mong chờ thị trường tiếp
Việt Nam sau 8 năm hoạt động:
3.1.Rủi ro hệ thống:
Là những rủi ro có liên quan đến tòan bộ sự vận động của thị trường. Nó
biểu hiện thành những thay đổi chỉnh thể của một lĩnh vực, một thị trường tài
chính hay một ngành do có sự thay đổi các nhân tố vĩ mô. Đây là lọai rủi ro có ý
nghĩa quan trọng vì nhà đầu tư không thể tránh được dù đã nắm giữ 1 danh mục
đầu tư tối ưu. Bao gồm:
3.1.1. Rủi ro thị trường: (loại rủi ro phổ biến và thường thấy nhất)
Là những biến động giá cả do mất cân bằng cung-cầu, làm nhà đầu tư có
thể không thu được lợi nhuận như dự tính. Điều này đã xảy ra trên thị trường
chứng khoán Việt Nam, không chỉ trong giai đọan đầu.
Cụ thể: khi mới thành lập, hàng hóa trên thị trường khan hiếm, cung không
đáp ứng đủ cầu, giá chứng khóan tăng mạnh, gây nên đợt sốt giá đầu tiên năm
2001 và lần 2 năm 2006. Tuy nhiên, sau đó, cầu lại liên tục giảm, giá chứng khoán
rớt, nhà đầu tư vội vàng bán tháo, càng làm giá rớt nhiều hơn. Việc cung – cầu
luôn trong tình trạng mất cân đối làm nhà đầu tư thua lỗ nặng và dần mất niềm tin
vào thị trường chứng khoán Việt Nam.
3.1.2. Rủi ro lãi suất:
Lãi suất thị trường càng cao thì chi phí cơ hội cho việc đầu tư chứng khoán
càng tăng và ngược lại. Tức là, giá chứng khoán và lãi suất vận động ngược chiều
nhau. Kì hạn chứng khoán càng lâu, rủi ro càng lớn.
Đã hơn 1 lần, nhà đầu tư chứng khóan Việt Nam phải đối mặt với lọai rủi
ro này. Đầu năm 2003, khi thị trường chứng khoán vẫn đang ảm đạm thì một loạt
các ngân hàng thương mại tăng lãi suất huy động vốn làm cho họat động trên thị
trường chứng khoán càng khó khăn hơn. Quý II/2003, lãi suất huy động VNĐ của
các ngân hàng là 0,7-0,73%/tháng, đã đưa lãi suất huy động VNĐ lên rất cao so
với thị trường tài chính quốc tế. Điều này cũng lặp lại đầu 2008, khi thị trường
chứng khoán Việt Nam đang tuột dốc không phanh, dưới chính sách thắt chặt tín
dụng của Ngân hàng Nhà Nước, các ngân hàng thương mại lại bắt đầu một cuộc
chạy đua lãi suất vô cùng quyết liệt buộc Ngân hàng Nhà Nước phải ra tay, và đến
co một số ý kiến đề nghị tăng ROOM cho nhà đầu tư nước ngoài để cải thiện thị
trường nhưng tất cả vẫn chỉ là thông tin không chính thức. Năm 2007, Ngân hàng
Nhà nước ban hành chỉ thị 03, khống chế mức trần cho vay đầu tư chứng khoán
trên tổng dư cho vay của các ngân hàng thương mại là 3%, hạn chót thực hiện
hoàn thành mục tiêu này là 12/2007 trong bối cảnh thị trường chứng khoán đang
tăng nóng, hầu hết các ngân hàng đều vượt mức cho phép này. Chỉ thị này không
sai khi nhằm đảm bảo an toàn cho thị trường cũng như hoạt động của ngân hàng.
Tuy nhiên, việc đưa ra chỉ thị vào thời điểm không thích hợp đã ảnh hưởng rất
nhiều đến nguồn tiền của nhà đầu tư, hoạt động của các ngân hàng và công ty
chứng khoán, tạo nên sự suy giảm của thị trường giai đoạn 5-8/2007. Việc Ngân
hàng Nhà Nước ra chính sách một cách bất ngờ cho thấy tính khó dự báo của
chính sách và tác động mạnh mẽ của yếu tố chính sách đến hoạt động của thị
trường.
Bên cạnh đó, hệ thống giám sát, quản lý thị trường cũng họat động chưa
thật sự hiệu quả tuy đã có nhiều văn bản, thông tư hướng dẫn thi hành. Vì chứng
khoán là một lĩnh vực mới mẻ, đang nằm trong quá trình hoàn thiện, nên các quy
định hiện hành còn nhiều kẻ hở mà nhà đầu tư có thể tận dụng để lách “luật” một
cách dễ dàng: các nhà đầu tư có thể cùng lúc mở nhiều tài khoản giao dịch để thâu
tóm cổ phiếu, nhân viên các công ty chứng khoán sử dụng tài sản khách hàng để tự
doanh…Nhà nước hiện cũng không giám sát được hoạt động của thị trường tự do -
nơi mua bán đa số cổ phiếu không được kiểm định, nơi không có biên độ giá, nơi
mà đa số nhà môi giới chỉ là “cò” chứng khoán, họ hoạt động tự do, không bắt
buộc phải có chứng chỉ hành nghề cũng như không chịu trách nhiệm gì về hoạt
động của mình.
3.2.Rủi ro phi hệ thống:
Là rủi ro do sự phát sinh, xuất hiện một sự kiện đặc biệt nào đó, làm ảnh
hưởng tới một hạng mục đầu tư nào đó. Nó chỉ liên quan đên một lọai chứng
khoán xác định nào đó chứ không ảnh hưởng đến cả thị trường.
3.2.1. Rủi ro do tâm lý và trình độ nhà đầu tư :
Tâm lý là một yếu tố rất nhạy cảm. Việc nghiên cứu, đánh giá giá trị chứng
Tuy chưa có 1 cuộc khảo sát chính thức trên quy mô lớn nào về nhu cầu
của nhà đầu tư đối với loại chứng khoán phái sinh này, nhưng qua những cuộc tiếp
xúc, tham dò nhỏ lẻ của nhóm, đa số nhà đầu tư thị trường chứng khoán dù đã
từng biết đến công cụ này hay chưa đều khá hào hứng và cho rằng sẽ sẵn sàng sử
dụng công cụ này để phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau của mình. Nhất là trong
thời điểm thị trường chứng khoán giảm sâu như hiện nay.
5. Ý nghĩa của việc áp dụng quyền chọn cổ phiếu trong thời điểm sắp tới:
Quyền chọn cổ phiếu tuy hiện nay vẫn chưa được áp dụng và đang trong
giai đoạn nghiên cứu để áp dụng nhưng khi áp dụng thì với sự cần thiết của nó
việc áp dụng này sẽ có rất có ý nghĩa.
5.1. Tạo ra công cụ bảo vệ lợi nhuận và kiếm lời cho nhà đầu tư trên thị
trường.
Như chúng ta đã biết thì hiện nay trên thị trường chứng khoán hàng hóa
được giao dịch tương đối ít, người Việt Nam vốn có tính thận trọng và số người
sẵn sang bỏ ra số tiền lớn để đầu tư không nhiều vì trên thực tế thì thu nhập của
người Việt Nam còn thấp. Tuy nhiên quyền chọn với đặc tính của nó là nhà đầu tư
không phải bỏ ra một số tiền lớn mà vẫn có thể đầu tư. Như vậy việc ứng dụng
quyền chọn đem lại cho nhà đầu tư một cơ hội kinh doanh mới phù hợp với khả
năng nhu cầu của người đầu tư Việt Nam. Do đó, nếu quyền chọn cổ phiếu được
ứng dụng giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ thu hút thêm được
rất nhiều người đầu tư vào thị trường.
Còn đối với người đầu tư cổ phiếu thì đây quả thật là một công cụ phòng
ngừa rủi ro có hiệu quả nhất. Bằng việc sở hữu quyền chọn, nhà đầu tư có thể yên
tâm mua bán cổ phiếu trong thời gian quyền chọn có hiệu lực. Hơn nữa việc kết
hợp mua bán chứng khoán và các hợp đồng quyền chọn sẽ tạo ra những chiến lược
tự bảo hiểm đồng vốn cho các nhà đầu tư – đối với chứng khoán riêng lẻ hay cả
doanh mục đầu tư – chống lại xu hướng giá cả thay đổi theo chiều hướng bất lợi.
Đây là ưu điểm đặc trưng nổi trội của công cụ quyền chọn so với sản phẩm phái
sinh khác.
Đối với công ty chứng khoán thì đây là một phương thức hiệu quả cung cấp
hiệu suy giảm. Điều này giúp các công ty niêm yết có những biện pháp điều chỉnh
kịp thời trong chiến lược kinh doanh để giữ uy tín của công ty trên thị trường.
Như vậy, quyền chọn giúp người đầu tư giám sát gián tiếp hoạt động của
công ty niêm yết. Khi có sự giám sát chặt chẽ thì đòi hỏi công ty niêm yết phải nổ
lực hơn nữa trong hoạt động kinh doanh.
5.4.Thu hút được nhiều hơn nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài:
Vì như đã nói trên thì khi áp dụng quyền chọn chứng khoán sẽ đưa thị
trường chứng khóan Việt Nam lên một tầm cao mới. Và với công cụ nhiều ưu
điểm như quyền chọn thì nhà đầu tư nước ngoài chắc chắn sẽ quan tâm hơn và đổ
vốn đầu tư vào thị trường chứng khóan Việt Nam nhiều hơn.
CHƯƠNG III. ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.
1. Đánh gía thuận lợi và khó khăn khi áp dụng quyền chọn cổ phiếu:
1.1. Thuận lợi:
1.1.1. Thị trường chứng khoán Việt Nam có tiềm năng phát triển rất lớn:
Chúng ta có những thuận lợi về nhiều mặt chính trị như: chính trị ổn định,
tốc độ phát triển kinh tế trong thời gian quan rất cao và nhiều chính sách kinh tế
được cải cách. Hơn nữa thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường non
trẻ nhưng rất năng động. Dự kiến đến năm 2010 chúng ta sẽ hoàn thành cổ phần
hóa 5000 doanh nghiệp nhà nước. Tổng giá trị vốn các đơn vị cổ phần này sẽ ngày
càng gia tăng do luật doanh nghiệp đang phát huy tác dụng mạnh trong đời sống
kinh tế, hoạt động cổ phần hóa đang được chính phủ chú trọng đẩy mạnh. Đặc biệt
các tổng công ty lớn, các ngân hàng thương mại (như IPO của Vietcombank) thời
gian vừa qua. Khi những cổ phiếu này được niêm yết trên sàn sẽ là những hàng
hóa rất có chất lượng và sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thêm vào đó, trung giao dịch chứng khoán Hà Nội đi vào hoạt động ngày
ngoại tệ và vàng:
Ngân hàng đầu tiên được phép giao dịch quyền chọn là Eximbank và quyền
chọn ngoại tệ hiện nay được sử dụng như là một công cụ bảo vệ người mua bán
ngoại tệ trước sự biến động của tỷ giá. Sau bốn năm được áp dụng quyền chọn thì
các doanh nghiệp ở Việt Nam bắt đầu quen với việc sử dụng quyền chọn trong
giao dịch ngoại tệ.
Trên thị trường vàng, quyền chọn cũng được nhiều nhà đầu tư biết đến và
sử dụng để phòng ngừa rủi ro cũng như đầu cơ. Đặc biệt là sàn giao dịch vàng của
một số ngân hàng xuất hiện làm cho giao dịch mua bán vàng ngày càng trở nên sôi
động. Đây chính là tiền đề để nghiên cứu và sớm áp dụng quyền chọn cổ phiếu
trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
1.1.6. Thị trường chứng khoàn Việt Nam có nhiều biến động mạnh trong thời
gian qua:
Thị trường chứng khóan trong thời gian qua sụt giảm rất mạnh. Nhiều nhà
đầu tư rơi vào tâm lý hoang mang đổ xô bán tháo cổ phiếu vì sợ lỗ. Quả thật, đây
là lần biến động mạnh nhất trong lịch sử thị trường chứng khoán Việt Nam từ khi
thành lập. Chỉ số chứng khoán VN-index sụt giảm liên tục rớt mốc 400 điểm và
nhiều chuyên gia dự đoán chỉ số này sẽ còn sụt giảm hơn nữa. Và đúng như dự
đoán kết thúc phiên giao dịch ngày 4/6/2008 VN-Index đóng cửa ở mức 395,66
điểm. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của việc sụt giảm này vẫn là do tâm lý của
các nhà đầu tư quá lớn. Vì họ không có trong tay một công cụ nào để về rủi ro
giảm giá cổ phiếu nên khi nghe những thông tin từ nhiều nguồn thấy bất lợi thì họ
đồng loạt bán tháo vì sợ sẽ lỗ nhiều hơn và cũng chính điều này đã làm cho cổ
phiếu giảm giá càng giảm giá hơn dẫn đến thị trường suy giảm.
Như vậy, với sự biến động nói trên thì trong thời gian tới nhà đâu tư rất cần
một công cụ nào đó để phòng tránh rủi ro khi tham gia thị trường. Hơn nữa hàng
hóa cơ sở trên thị trường tương đối nhiều thì đây sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc
áp dụng quyền chọn cổ phiếu trong thời gian tới.
1.1.7. Những dự đoán triển vọng thị trường chứng khoán trong những năm
tới:
lý nào, điều này cũng làm ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển bền vững của thị
trường.
1.2.4. Hàng hóa trên thị trường chứng khoán thật sự chưa nhiều và kém chất
lượng:
Tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp diễn ra tương đối chậm. Một số
doanh nghiệp vừa cổ phần hóa đã đua nhau niêm yết ồ ạt trên sàn. Điều này làm