Cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến của nhân dân về những hoạt động trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp mà ngành tư pháp chịu trách nhiệm hoạt động hoặc quản lý - Pdf 13


BỘ TƯ PHÁP
VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ CƠ CHẾ TIẾP NHẬN, XỬ LÝ VÀ PHẢN HỒI Ý KIẾN CỦA
NHÂN DÂN VỀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC
PHÁP LUẬT VÀ TƯ PHÁP MÀ NGÀNH TƯ PHÁP CHỊU
TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN HOẶC QUẢN LÝ

CHỦ NHIỆM: ThS. NGUYỄN QUANG HƯNG
THƯ KÝ: Ths. ĐINH CÔNG TUẤN

ThS. Dương Bạch Long Viện Khoa học Pháp lý CTV
4.
ThS. Lê Anh Tuấn Tổng cục Thi hành án dân sự CTV
5.
ThS. Lê Thiều Hoa Viện Khoa học Pháp lý CTV
6.
CN. Trần Văn Lợi Vụ Các vấn đề chung về xây
dựng pháp luật
CTV
7.
CN. Vũ Hồng Dương Ban Thư ký Lãnh đạo Bộ CTV
8.
CN. Hòa Thị Thủy

BẢNG TỪ VIẾT TẮT

STT TỪ VIẾT TẮT GIẢI THÍCH
1
TTHC
Thủ tục hành chính
2
CCTP
Cải cách tư pháp
3
NQ
Nghị quyết
4
TP
Tư pháp
5
VB QPPL
Văn bản Quy phạm pháp
luật
6
XHCN
Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC

Mục Trang

Phần 1. BÁO CÁO PHÚC TRÌNH PHẦN MỞ ĐẦU
7

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
11
I. CƠ CHẾ TIẾP NHẬN, XỬ LÝ VÀ PHẢN HỒI Ý KIẾN NHÂN DÂN
TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
11
1 Nhân dân và quyền giám sát, quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý
xã hội
11
2 Cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến nhân dân trong quản lý nhà
nước
17
3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc thu hút ý ki
ến nhân dân trong
hoạt động quản lý nhà nước
20
II. CHỨC NĂNG CỦA NGÀNH TƯ PHÁP VÀ ĐẶC THÙ CỦA CƠ CHẾ
TIẾP NHẬN, XỬ LÝ VÀ PHẢN HỒI Ý KIẾN CỦA NHÂN DÂN
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CỦA NGÀNH
24

Công cụ và phương tiện chính thức để công khai dự thảo và
quá trình tham gia ý kiến của nhân dân
40
5
Tạo điều kiện cho các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của
dự thảo văn bản được thông tin và phát biểu ý kiến
43
6
Kinh nghiệm thu hút sự tham gia của chuyên gia, các nhà khoa
học vào quá trình xây dựng pháp luật
44
7
Một số đánh giá nhận xét
47

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TIẾP NHẬN, XỬ LÝ VÀ PHẢN HỒI Ý
KIẾN CỦA NHÂN DÂN TRONG LĨNH VỰC PHÁP LUẬT VÀ TƯ
PHÁP CỦA NGÀNH TƯ PHÁP
50
I. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TIẾP NHẬN, XỬ LÝ VÀ PHẢN HỒI Ý KIẾN
NHÂN DÂN TRONG LĨNH VỰC PHÁP LUẬT
50
1 Thực trạng các quy định của pháp luật về sự tham gia của nhân dân vào
quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam
50
2 Th
ực trạng cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến nhân dân trong lĩnh
vực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Bộ Tư pháp
55

VÀ PHẢN HỒI Ý KIẾN NHÂN DÂN TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP
120
III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ KHÁC 121
KẾT LUẬN
124
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
126
PHỤ LỤC
130

PHẦN 2. HỆ CÁC CHUYÊN ĐỀ CỦA ĐỀ TÀI
142 -250

n đề quan trọng. Khắc phục
mọi biểu hiện dân chủ hình thức. Xây dựng Luật trưng cầu ý dân.
Nghị quyết sô 17-NQ/TW ngày 1/8/2007 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp
hành Trung ương khoá X: Về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước tiếp tục khẳng định: Giải quyết tốt mối
quan hệ giữa cơ quan hành chính với nhân dân, huy động s
ự tham gia có hiệu
quả của nhân dân và xã hội vào hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính
nhà nước.
Các quan điểm chỉ đạo của Đảng về tăng cường mối quan hệ giữa chính
quyền và nhân dân được thể chế hoá thành các văn bản pháp luật và đã được tổ
chức thực thi trong đời sống xã hội. Các văn bản chủ yếu đề cập đến những nội
dung này bao gồ
m: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Luật khiếu nại
tố cáo, Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí;
Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2008 về việc tiếp nhận xử
lý phản ánh kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính; Quyết định
số 22/2006/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2006 (hết hiệu lực) của Thủ tướng
Chính phủ về
việc tiếp nhận ý kiến của nhân dân và doanh nghiệp đối với các
thủ tục hành chính.
Các văn bản nói trên đã có đề cập đến sự cần thiết, nguyên tắc, nội dung,
hình thức và yêu cầu về phản ánh và kiến nghị, trách nhiệm của các cơ quan
nhà nước trong việc tiếp nhận xử lý ý kiến, phản ánh , kiến nghị của nhân dân
đối với hoạt động của Nhà nước.
Tuy nhiên, trong thực tế
, việc triển khai thực hiện các quy định này còn
nhiều điểm không thống nhất và lúng túng. Thực trạng này dẫn đến việc tiếp
nhận, xử lý và phản hồi ý kiến nhân dân trong hoạt động quản lý nhà nước còn
chưa đạt hiệu quả cao, sự phối hợp giữa các cơ quan tổ chức chưa có những

ự còn nhiều
tồn đọng Tất cả các vấn đề trên đây ảnh hưởng rất lớn đối với ổn định xã hội
và sự tôn nghiêm của pháp luật. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên,
trong đó có việc chúng ta thiếu một cơ chế thống nhất và hữu hiệu trong việc
tiếp nhận ý kiến nhân dân, chưa nắm bắt được đầy đủ tâm tư nguyện vọng nhân
dân trong quá trình xây d
ựng và thực thi pháp luật và giải quyết các vấn đề liên
quan đến thủ tục pháp lý cho công dân, tổ chức, doanh nghiệp.
Việc thực hiện đề tài nghiên cứu: Cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý
kiến của nhân dân trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp mà ngành Tư pháp
thực hiện quản lý trong điều kiện hiện nay là cấp thiết vì nó trực tiếp phục vụ
cho yêu cầu quản lý nhà n
ước trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp, góp phần tạo
môi trường xã hội, môi trường đầu tư thông thoáng, an toàn, công khai, minh
bạch.
2.Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu những vấn đề về cơ chế tiếp nhận, xử lý và
phản hồi ý kiến nhân dân, đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện
cơ chế , nâng cao hiệu quả việc thu hút ý kiến của nhân dân đối với các v
ấn đề
pháp luật và tư pháp thuộc phạm vi quản lý của Ngành Tư pháp; góp phần nâng
cao hiệu lực và hiệu quả, phát huy dân chủ, công khai minh bạch trong quản lý
của Nhà nước đối với lĩnh vực pháp luật và tư pháp.
Các mục tiêu cụ thể của đề tài:
- Làm sáng rõ những vấn đề lý luận về cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý
kiến của nhân dân đối với những hoạ
t động trong lĩnh vực pháp luật và tư
pháp.
- Đánh giá thực trạng việc tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến nhân dân trong
các hoạt động thuộc lĩnh vực pháp luật và tư pháp.

cứu của các cá nhân và tập thể khoa học thông qua việc thực hiện đề tài)
Việc triển khai nghiên cứu đề tài là cơ hội thuận lợi để phát triển khoa
h
ọc xã hội và nhân văn, phát triển các kiến thức kinh tế- xã hội, nâng cao kỹ
năng nghiên cứu của các luật gia
4.Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với đề tài này, những vấn đề mới cần đặt ra nghiên cứu, giải quyết gồm:
- Những vấn đề lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu cơ chế tiếp nhận, xử lý và
phản hồi thông tin trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp,
Đề tài sẽ đưa ra hệ tiêu
chí cơ bản, để đánh giá mức độ phù hợp của cơ chế tiếp nhận và xử lý, phản hồi
thông tin của ngành Tư pháp;
- Những vấn đề về thực tiễn: Đề tài làm rõ thực trạng cơ chế thực hiện
việc tiếp nhận, xử lý, phản hồi ý kiến nhân dân trong lĩnh vực pháp luật và tư
pháp (Với phạm vi là hành chính – tư pháp). T
ừ đó chỉ ra những yếu tố tích cực
cần tiếp tục củng cố hoàn thiện cũng như nhận dạng những bất cập nguyên
nhân của cơ chế tiếp nhận, xử lý, phản hồi ý kiến nhân dân trong lĩnh vực pháp
luật và tư pháp.
- Bên cạnh đó, đề tài cũng thực hiện việc nghiên cứu các kinh nghiệm
của một số các quốc gia trong việc tiếp nh
ận ý kiến, xử lý và phản hồi ý kiến
nhân dân trong hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật, hành chính tư pháp;
nghiên cứu kinh nghiệm lấy ý kiến nhân dân và doanh nghiệp trong một số lĩnh
vực khác tại Việt Nam.
- Hệ thống giải pháp về thể chế và thiết chế, nhân sự, điều kiện đảm bảo
nhằm tăng cường khả năng tiếp nhận, xử lý và phản hồ
i ý kiến nhân dân trong
lĩnh vực pháp luật và tư pháp.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài


Chương 3. Một số đề xuất, kiến nghị của đề tài

Kết luậ
n của Đề tài: 11
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

I. CƠ CHẾ TIẾP NHẬN, XỬ LÝ VÀ PHẢN HỒI Ý KIẾN NHÂN DÂN
TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC.
1. Nhân dân và quyền giám sát, quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý
xã hội

số, các hiệp hội bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, khoa học, giáo dục, chuyên ngành,
các tổ chức thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, lao động. Nhân dân là bất
kỳ bên nào liên quan đến quyết định nhưng không phải là bên có quyền ra
quyết định.
Trong các xã hội hiện đại, thì tư tưởng xây dựng nhà nướ
c pháp quyền
được coi là cách thức/phương thức tổ chức nhà nước phổ biến nhất dựa trên

1
Từ điển triết học. NXB. Tiến bộ, Matxcova, 1975, Tr.401.

12
nền tảng dân chủ Trong đó tiêu chí đầu tiên quan trọng nhất của nhà nước
pháp quyền là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể tối cao
và duy nhất của quyền lực nhà nước, có quyền kiểm tra và giám sát việc thực
hiện quyền lực nhà nước. Hạt nhân của lý luận nhà nước pháp quyền là vấn đề
dân chủ. Dân chủ vừa là bản chất vừa là điều kiện là tiề
n đề để xây dựng nhà
nước pháp quyền. Dân chủ luôn gắn liền với pháp luật và được bảo đảm bằng
pháp luật. Dân chủ và phát huy dân chủ là nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước
pháp quyền. Quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội chính là quá trình xây dựng
và hoàn thiện không ngừng của nhà nước pháp quyền.
Đối với Việt Nam, xuất phát từ bản chất dân chủ của chế độ và chủ trương
xây dựng Nhà nướ
c pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì Nhà nước ta là Nhà nước
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân (Điều 2 Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001). Theo đó “Các
cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy
phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân
dân” (Điều 8). Nhân dân cũng có thể giám sát nhà nước, xã hội thông qua Mặt

“quản lý nhà nước tốt” (good government).
“Quản lý nhà nước tốt” có nghĩa là một chính phủ hoạt động có hiệu quả
cùng với việc ban hành các quyết định của mình đúng trình tự, quy định: quản
lý nhà nước bằng pháp luật; trách nhiệm giải trình; minh bạch và sự tham gia
của nhân dân. Quản lý bằng pháp luật có nghĩa là người ra văn bả
n khi ra quyết
định không được căn cứ trên trực giác hoặc ý tưởng ngẫu nhiên của họ, mà phải
căn cứ trên các chuẩn mực được chấp nhận, có lý lẽ và cơ sở thực tiễn vững
chắc. Trách nhiệm giải trình: người ra quyết định phải giải trình các quyết định
của họ một cách công khai, chịu sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền cấp
trên và của cử tri.
Minh bạch: các công chức thi hành công việc nhà nước một
cách công khai để nhân dân và báo chí có thể biết và bàn bạc về công việc của
họ. Sự tham gia của nhân dân: những người chịu tác động của một quyết sách
sắp ban hành có cơ hội khả thi để đóng góp ý kiến hoặc tham gia vào quá trình
ra quyết định.
Sự tham gia của nhân dân cũng chứng tỏ quyền được nghe và yêu cầu
các cơ quan nhà nước công khai và có trách nhiệm. Nhân dân hiểu rõ họ cầ
n cái
gì, nên có thể mách bảo nhiều giải pháp tốt mà các chuyên gia cũng không ngờ
tới. Một lý do nữa để thu hút sự tham gia của nhân dân là khi được tham gia,
nhân dân thấy mình thực sự là một thành viên, có vai trò tích cực trong quá
trình làm ra văn bản, quyết định đó nên văn bản sẽ được tiếp nhận và ủng hộ
nhiều hơn sau khi ban hành, giúp cho việc thực hiện pháp luật thuận lợi hơn.
Trước khi tìm ra giải pháp, cần xác định đúng vấn
đề, sự tham gia của
nhân dân sẽ giúp làm được việc này; sự tham gia của nhân dân làm cho các
quyết định được tốt hơn, bao trùm được các quan điểm của những bên liên
quan; mang lại cách hiểu thông thường chung nhất về các vấn đề; đem lại sự
tôn trọng lẫn nhau giữa bên ra quyết định và bên chịu tác động của quyết định,

điều tra.
Cấp độ
cộng tác với nhân dân : Mục đích nhằm hợp tác với nhân dân
trên từng vấn đề nhỏ của quyết định, bao gồm cả việc phát triển các phương án
và tìm kiếm giải pháp tối ưu. Thông điệp gửi tới nhân dân ở cấp độ này là:
chúng tôi sẽ tìm đến nhân dân để nhận lời khuyên và tìm kiếm giải pháp, đưa
những lời góp ý và tư vấn của nhân dân vào quyết định càng nhiều càng tốt.
Những biện pháp thích hợp: chọn nhóm đại diện cho những người liên quan,
nhóm này thay mặt họ tham gia vào quá trình ra quyết định; kỹ thuật thương
thuyết để đạt sự nhất trí (consensus- building techniques).
Cấp độ trao quyền quyết định cho nhân dân: Mục đích nhằm trao quyền
quyết định cuối cùng vào tay nhân dân. Thông điệp gửi tới nhân dân ở cấp độ
này là: chúng tôi sẽ thực hiện những gì nhân dân quyết định. Những biệ
n pháp
thích hợp: chọn các nhóm nhỏ của những công dân trên một địa bàn để nghiên
cứu vấn đề, thẩm vấn những người liên quan, đề xuất kiến nghị với bên ra
quyết định; bỏ phiếu; uỷ quyền ra quyết định.
Để sự tham gia của nhân dân thành công, nên chú ý đến những điểm sau:
Thứ nhất. Thu hút ý kiến tham gia của nhân dân muốn thành công đòi
hỏi phải có sự đối thoại chứ không ph
ải độc thoại.
Nói cách khác, dòng thông tin phải chảy hai chiều giữa hai bên. Cơ quan
ra quyết định phải đưa thông tin đến từng người và đề nghị phản hồi. Nhân dân
phải có cơ hội tiếp cận ngược với cơ quan nhà nước thông qua một “điểm tiếp
xúc” (point of contact)- đó có thể là một người, một nhóm người, phòng ban.
Ví dụ, nếu cơ quan nhà nước thông báo đến người dân về một hành động nào
đó s
ắp thực hiện, thì việc thông báo đó chưa phải là sự tham gia của nhân dân.
Khâu bị bỏ qua ở đây là cái cách mà cơ quan nhà nước lắng nghe phản hồi của
những ai đã đọc thông báo. Để nhận được phản hồi, có thể cử người tiếp nhận

phụ trách việc thu hút sự tham gia của nhân dân, tốt nhất là nắm được họ tên cụ
thể; tìm hiểu những khía cạnh cơ
bản liên quan đến vấn đề muốn tham gia bằng
cách gặp gỡ với quan chức địa phương, tiếp xúc với các cơ sở nghiên cứu, đọc
tư liệu do cơ quan đầu mối cung cấp, liên hệ với các nhóm có liên quan khác;
mạnh dạn yêu cầu cơ quan đầu mối cung cấp các thông tin mình cần như: về
các hoạt động thường nhật, cấu trúc của quá trình ra quyết sách, các chính sách
và thủ tục hiện tại, dự
luật hoặc dự án tương lai có thích hợp với các vấn đề
chính sách lớn hơn hay không, về các phương án dự phòng; yêu cầu đưa tên
của bạn vào danh sách những người tham gia, các ý kiến của bạn được tiếp thu
thế nào; phản ánh với cơ quan đầu mối họat động nào thích hợp với bạn nhất,
cung cấp cho họ thông tin về sở thích thông tin của cộng đồng nơi bạn sống, địa
đi
ểm tốt nhất để tổ chức thu hút sự tham gia của nhân dân; gửi các ý kiến bằng
văn bản, theo luật ở các nước, các cơ quan đầu mối bắt buộc phải xem xét các ý
kiến gửi đến bằng văn bản; tham gia các buổi nghe ý kiến nhân dân và các buổi
gặp gỡ, nên nhớ rằng các buổi như vậy chỉ được tổ chức khi có yêu cầu của
công dân bằng văn bản, nếu công dân không rõ về
vấn đề nào đó, hoặc muốn
bày tỏ nỗi quan ngại nào đó, họ được khuyến khích gửi yêu cầu bằng văn bản
đến cơ quan hữu trách; theo dõi sát sao hoạt động của cơ quan đầu mối, các
quyết định cũng như phản ứng của họ trước những ý kiến của nhân dân, công

16
dân được nhắc nhở và khuyến khích rằng, họ có quyền đòi cân nhắc lại các
quyết định của cơ quan đầu mối.
Nói tóm lại, sự tham gia chủ động của từng cá nhân công dân có ý nghĩa
quan trọng đối với quá trình ra quyết sách. Tuy nhiên, tham gia như thế nào thì
tùy tong trường hợp cụ thể; và mỗi công dân nên liên hệ với những người,

đề cần tham gia để tăng năng lực tham gia. Vì vậy, khả năng tham gia của nhân
dân đối với hoạt động quản lý của nhà nước cũng phụ thuộc vào hiệu quả công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Ngoài ra, cũng cần chú ý đến việc lập kế ho
ạch tính đến những thay đổi
về quyền lợi trong nhân dân; Hiểu và tôn trọng các quan điểm của những bên
liên quan khác; Có những bước đi để đảm bảo cơ hội bình đẳng cho tất cả
những ai quan tâm có thể nhận thông tin và tham gia vào quá trình
Theo kinh nghiệm của các nước về hoạt động thu hút sự tham gia của
nhân dân vào quá trình ra quyết sách của các cơ quan chính phủ, một tổ chức

17
phi chính phủ chuyên về sự tham gia của nhân dân đã tổng kết những xu
hướng sau đây khiến cho sự tham gia của nhân dân không thành công
2
:
(1)- Quá coi trọng mặt kỹ thuật, để kỹ thuật dẫn đường mà không theo lợi
ích. Điều này khiến người ta thường hay bỏ qua các bước quan trọng như xác
định mục tiêu và chuyển thông điệp đến nhân dân;
(2)- Sự tham gia của nhân dân bắt đầu khi quyết định đã được hình
thành. Lúc đó còn rất ít cơ hội để tác động lên quyết định, sự tham gia của nhân
dân như thế chỉ gây tranh cãi nhiều hơ
n là tìm giải pháp khả thi.
(3)- Sự tham gia của nhân dân không hòa cùng với quá trình ra quyết
định, thường được tiến hành song song chứ không như là một phần của việc ra
quyết định. Kết quả là nhân dân không tiếp nhận được thông tin, còn bên ra
quyết định không nhận được sự đóng góp của nhân dân một cách kịp thời;
(4)- Nhân dân thiếu thông tin, bởi vậy không hiểu và không nắm được
vấn đề nên không đóng góp được hiệu quả;
(5)- Thiếu đồng b

2
Nguồn . 18
nước đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo quàn chúng nhân dân trong xã
hội.
Ý kiến nhân dân theo một nghĩa chung nhất là: Cách nhìn, cách nghĩ,
cách đánh giá riêng của mỗi người về sự vật, sự việc, về một vấn đề nào đó; Lời
phát biểu có tính chất nhận xét, phê bình
3
.
Ý kiến nhân dân trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung có thể hiểu
là cách nhìn nhận, cách đánh giá của nhân dân đối với những hoạt động của các
cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của
mình. Với các nhà nước dân chủ, việc tiếp thu ý kiến nhân dân là một việc làm
có vai trò hết sức quan trọng đảm bảo hoạt động quản lý nhà nước nhằm phục
vụ nhân dân, mang l
ại lợi ích cao nhất cho nhân dân.
Cơ chế: là toàn bộ các nội dung, gồm: thiết chế, phương tiện, nguyên tắc,
hình thức, phương pháp, biện pháp tổ chức và thực hiện một hoạt động nhất
định.
4

Khái niệm cơ chế cũng bao gồm là tổng thể các bảo đảm về vật chất,
chính trị, tư pháp, pháp lý, tổ chức, nghiệp vụ cho việc thực hiện một quyền nào
đó hoặc một việc nào đó.
Cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến nhân dân trong hoạt động
quản lý nhà nước có thể được hiểu với nghĩa chung nhất là toàn bộ các thiết
chế, nguyên tắc, hình thức, phương pháp và biện pháp tổ chức việc tiếp nhận,

Từ điển Tiếng Việt (tr. 464 Nxb. Văn hóa - Thông tin, năm 1998)

19
Trong những trường hợp nêu trên, luật pháp của các nước thường quy
định khá chặt chẽ về cơ chế tham vấn nhân dân, trách nhiệm xử lý và phản hồi
của cơ quan nhà nước. Trong thực tiễn Việt Nam, cơ chế tiếp nhận, xử lý và
phản hồi ý kiến của người dân trong quá trình xây dựng pháp luật được quy
định cụ thể trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật
ban hành văn bả
n quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004.
- Đối với hoạt động quả lý Nhà nước trên từng lĩnh vực chuyên môn cụ
thể thì cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến của nhân dân được thực hiện
khá linh hoạt. Tùy từng vấn đề cụ thể cơ quan quản lý nhà nước có thể chủ
động thăm dò ý kiến người dân (chẳng hạn như các giải pháp về giao thông
đườ
ng bộ, việc tham vấn ý kiến người dân về các dự án nhậy cảm ) hoặc
người dân cũng có thể chủ động đề xuất các giải pháp, biện pháp nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý nhà nước một cách trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức
đại diện (Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên, hội nghề nghiệp ). Cơ
chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiế
n nhân dân trong các trường hợp nên trên
rất linh hoạt, tùy từng trường hợp mà pháp luật có thể quy định những vấn đề
buộc phải tham vấn nhân dân và trách nhiệm giải trình cụ thể của cơ quan công
quyền (như việc xây dựng các dự án, công trình mang tính nhạy cảm ảnh hưởng
lớn đến đời sống của nhân dân hoặc có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử dân
tộc, đời sống văn hóa, tâm linh, tinh thầ
n của người dân ) hoặc không quy
định rõ cơ chế cứng, chặt chẽ cho việc tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến của
người dân (như các sáng kiến của người dân chủ động đề xuất một số giải pháp
cụ thể trong việc xử lý các công việc quản lý thường nhật của cơ quan, nhân

các ý kiến thăm dò dư luận, các ý kiến khiếu nại, tố cáo ;
- Xử lý ý kiến: trên cơ sở phân loại ý kiến thì mỗi loại ý kiến có một cơ
chế xử lý khác nhau theo quy trình khác nhau: ý kiến góp ý, tư vấn chính sách
có quy trình xử lý riêng; ý kiến khiếu nại có quy trình xử
lý riêng; ý kiến tố cáo
có quy trình xử lý riêng ;
- Phản hồi ý kiến: cũng căn cứ vào từng loại ý kiến nhân dân mà cơ chế
phản hồi khác nhau: với các ý kiến tư vấn, góp ý, phản biện thì cơ quan nhà
nước có cơ chế tổng hợp khái quát từng vấn đề và phải hồi theo các nhóm vấn
đề trên các diễn đàn, phương tiện thông tin đại chúng; đối với các khiếu nại, tố
cáo thì phải có cơ chế
phản hồi đối với từng ý kiến cụ thể trong thời hạn luật
định.
Như vậy, tùy theo tính chất của từng loại quan hệ, theo tính chất của từng
loại ý kiến nhân dân mà có những cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi khác
nhau (cả về thủ tục thực hiện, hình thức đưa tin và tiếp nhận tin, chủ thể có
trách nhiệm, quyền và trách nhiệm của các ch
ủ thể liên quan )

3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc thu hút ý kiến nhân dân trong
hoạt động quản lý nhà nước.
Trong thời gian vừa qua, với chủ trương cải cách nền hành chính theo
hướng đơn giản hoá các thủ tục hành chính và xây dựng nền hành chính gần
dân, phục vụ nhân dân nên Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ chương, chính
sách, liên quan đến việc thúc đẩy sự tích cực của các cơ quan công quyền trong
việc tiế
p thu các phản ánh, kiến nghị của nhân dân trong hoạt động quản lý nhà
nước và thực thi pháp luật.
Nghị quyết lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII chỉ
khẳng định: “Cần phát huy vai trò của nhân dân tham gia quản lý nhà nước

hiệu quả qu
ản lý của bộ máy nhà nước tiếp tục khẳng định: Giải quyết tốt mối
quan hệ giữa cơ quan hành chính với nhân dân, huy động sự tham gia có hiệu
quả của nhân dân và xã hội vào hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính
nhà nước.
Việc trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý
hành chính nhà nước là một hình thức có ý nghĩa quan trọng để nhân dân lao
động phát huy vai trò làm chủ của mình.
Ðây là nguyên t
ắc được nhà nước ta thừa nhận và bảo đảm thực hiện.
Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân chủ sâu sắc giữ vai trò quan trọng thiết
yếu trong quản lý hành chính nhà nước. Nhân dân không chỉ có quyền giám sát
đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện khiếu nại tố cáo
nếu cho rắng cán bộ hành chính nhà nước vi phạm quyền lợi của họ hoặc thực
hiện không đ
úng đắn, mà còn có quyền tự mình tham gia vào hoạt động quản lý
nhà nước, trực tiếp thể hiện quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động. Ðiều này
này khẳng định vai trò hết sức đặc biệt của nhân dân lao động trong quản lý
hành chính nhà nước, đồng thời xác định những nhiệm vụ mà nhà nước phải
thực hiện trong việc đảm bảo những điều kiện cơ bản để nhân dân lao động
được tham gia vào quản lý hành chính nhà nước. Ðiểm thú vị về mặt lý luận
của nguyên tắc vì vậy chỉ có ý nghĩa khi được bảo đảm thực hiện trên thực tế.
Có thể mở rộng, tăng cường quyền của công dân trong hoạt động quản lý,
nhưng không được phép hạn chế, thu hẹp những gì mà Hiến pháp đã định.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Giữ chặt mối liên hệ vớ
i dân chúng
và lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và
nhờ đó mà Đảng thắng lợi”. Việc tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến nhân dân
là một hình thức biểu hiện trực tiếp của mối quan hệ giữa nhân dân với Nhà
nước. Cơ quan nhà nước phải thực hiện việc tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến

Thực hiện đường lối, chính sách của Đảng về tăng cường sự tham gia của
nhân dân trog hoạt động quản lý nhà n
ước. Trong thời gian qua, đã có nhiều
văn bản được ban hành nhằm thể chế hóa chủ chương này. Các văn bản chủ yếu
đề cập đến những nội dung này bao gồm: Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001); Luật
Tổ chức Quốc hội 2002; Luật tổ chức Chính phủ 2002;Luật Tổ chức HĐND và
UBND 2003;Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008; Luật khiếu nại
tố cáo; Luật phòng chố
ng tham nhũng; Luật thực hành tiết kiệm chống lãng
phí;Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2008 về việc tiếp nhận
xử lý phản ánh kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính;

Theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành: Nhà nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai c
ấp công nhân,
giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Việc tham gia đông đảo của nhân dân
vào quản lý hành chính nhà nước thông qua các hình thức như sau:
* Tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước
Các cơ quan trong bộ máy nhà nước là công cụ để thực hiện quyền lực
nhà nước, việc nhân dân tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước là
hình thức tham gia tích cực, trực tiếp và có hiệu quả nhất trong quản lý hành
chính nhà nước. Nhân dân nếu đáp ứng các yêu cầu c
ủa pháp luật đều có thể
tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp vào công việc quản lý hành chính nhà
nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Nhân dân có thể tham gia trực tiếp vào cơ quan quyền lực nhà nước với
tư cách là thành viên của cơ quan này - họ là những đại biểu được lựa chọn
thông qua bầu cử hoặc với tư cách là các viên chức nhà nước trong các cơ quan
nhà nước. Khi ở cươ

cư trú, làm việc, sinh hoạt nên mang tính chất tự quản của nhân dân.
- Thông qua những hoạt động mang tính chất tự quản này nhân dân là
những chủ thể tham gia tích cực nhất, quyền tham gia quản lý nhà nước, quản
lý xã hội của họ được tôn trọng và bảo đảm thực hiện.
* Trực tiếp thực hiện các quyền và ngh
ĩa vụ của công dân trong quản lý
hành chính nhà nước
- Ðiều 53-Hiến pháp 1992 quy định công dân có quyền tham gia quản lý
nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận những vấn đề chung của cả nước và địa
phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội hay chính người
dân trực tiếp thực hiện.
- Kiểm tra các cơ quan quản lý nhà nước.
- Tham gia trực tiếp với tư cách là thanh viên không chuyên trách trong
hoạt động cơ quan qu
ản lý, các cơ quan xã hội.
- Tham gia với tư cách là thành viên của tập thể lao động trong việc giải
quyết những vấn đề quan trọng của cơ quan
Như vậy, với đường lối chính sách của Đảng và sự đảm bảo của pháp
luật hiện hành, nhân dân có thể tham gia quản lý nhà nước với nhiều cách thức
khác nhau. Một trong các cách thức đó chính là việc nhân dân có ý kiến, phát
biểu quan điểm, suy nghĩ của mình mộ
t cách trực tiếp hoặc thông qua các thiết
chế đại diện đối với hoạt động của nhà nước.
Việc tiếp nhận, xử lý và phản hồi các ý kiến của nhân dân có ý nghĩa rất
quan trong nhằm làm cho hoạt động của nhà nước đáp ứng được mong muốn
nguyện vọng của nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân. Đó cũng chính là thể
hiện bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. 24

Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước
hết là quy trình xây dựng luật, pháp lệnh; luật, pháp lệnh cần quy định cụ thể,
tăng tính khả thi để đưa nhanh vào cuộc sống. Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ
quy
ết định và giám sát các vấn đề quan trọng của đất nước, nhất là các công
trình trọng điểm của quốc gia, việc phân bổ và thực hiện ngân sách; giám sát
hoạt động của các cơ quan tư pháp, công tác phòng, chống quan liêu, tham
nhũng, lãng phí.
Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây
dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo
v
ệ quyền con người. Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hình sự, dân sự, thủ
tục tố tụng tư pháp và về tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp, bảo đảm tính
khoa học, đồng bộ, đề cao tính độc lập, khách quan, tuân thủ pháp luật của từng
cơ quan và chức danh tư pháp. Đổi mới hệ thống tổ chức toà án theo thẩm
quyền xét xử, bảo đảm cải cách hoạt động xét x
ử là trọng tâm của cải cách hoạt
động tư pháp; mở rộng thẩm quyền xét xử của toà án đối với các khiếu kiện

5
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX

25
hành chính. Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức toà án,
bảo đảm tốt hơn các điều kiện để viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả
chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng
cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động
điề
u tra. Sắp xếp, kiện toàn tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra theo
hướng thu gọn đầu mối; xác định rõ hoạt động điều tra theo tố tụng và hoạt

Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Mục tiêu phát tri
ển của ngành tư pháp trong giai đoạn tới là là làm cho hệ
thống tư pháp của ngành thích nghi và hoạt động hiệu quả trong điều kiện kinh
tế thị trường thòi kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đáp ứng được tốt hơn chức
năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực xây dựng pháp luật, bổ
trợ tư pháp và
hành chính tư pháp và các lĩnh vực quản lý khác. Cụ thể:
Thứ nhất, đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành tư pháp phải xuất phát
từ nhu cầu và điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể trong từng giai đoạn phát triển

6
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status