Nghiên cứu cơ chế hỗ trợ pháp lý đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và việc mở rộng thị trường dịch vụ pháp lý trong điều kiện hội nhập quốc tế - Pdf 13


BỘ TƯ PHÁP
VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
*****
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ

NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ HỖ TRỢ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ
VIỆC MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG
ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
7535
22/10/2009 Hà Nội - 2008

BỘ TƯ PHÁP
VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
*****
BÁO CÁO PHÚC TRÌNH

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ

NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ HỖ TRỢ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ
VIỆC MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG
ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ Hà Nội - 2008
BỘ TƯ PHÁP
VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
*****
BÁO CÁO PHÚC TRÌNH


nhiệm Đề tài
Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật Dân sự
- Kinh tế, Bộ Tư pháp
2.
Th.s Nguyễn Thanh Tịnh - Phó
chủ nhiệm Đề tài
Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật Dân sự
- Kinh tế, Bộ Tư pháp
3.
CN. Cao Đăng Vinh - Thư ký
Đề tài
Chuyên viên Vụ Pháp luật Dân sự -
Kinh tế, Bộ Tư pháp
Cộng tác viên
4.
PGS.TS. Dương Đăng Huệ Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế, Bộ
Tư pháp
5.
TS. Dương Thanh Mai Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
6.
TS. Phạm Văn Lợi Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
7.
TS. Nguyễn Thị Thu Vân Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế, Bộ
Tư pháp
8.
TS. Trần Thị Thơ Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế, Bộ
Tư pháp
9.
Th.s Nguyễn Khánh Ngọc Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp
10.

1.2. Thực trạng thực hiện pháp luật của doanh nghiệp
13
Chương 2: Thực trạng hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh
nghiệp và thực trạng thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam
hiện nay
23
2.1. Thực trạng hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
23
2.2. Thực trạng thị trường dịch vụ pháp lý tại Việt Nam
45
Chương 3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế hỗ trợ
pháp lý cho doanh nghiệp và mở rộng thị trường dịch vụ pháp
lý trong hội nhập kinh tế quốc tế
57
3.1. Cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
57
3.2. Mở rộng thị trường dịch vụ pháp lý trong hội nhập kinh tế
quốc tế
70
Kết luận 86
PHẦN THỨ HAI: CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ
TÀIChuyên đề số 1: Bàn về việc xây dựng cơ chế hỗ trợ doanh
nghiệp thực hiện pháp luật
87
Chuyên đề số 2: Thực trạng thực hiện thi hành pháp luật của
doanh nghiệp - Đề xuất tăng cường công tác hỗ trợ việc thực hiện
pháp luật cho doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

NỘI DUNG ĐỀ TÀI TRANG
PHẦN THỨ NHẤT: BÁO CÁO PHÚC TRÌNH ĐỀ TÀI

Lời mở đầu 01
Chương 1: Tình hình phát triển doanh nghiệp và thực trạng
thực hiện pháp luật của doanh nghiệp
09
1.1. Tình hình phát triển doanh nghiệp
09
1.2. Thực trạng thực hiện pháp luật của doanh nghiệp
13
Chương 2: Thực trạng hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh
nghiệp và thực trạng thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam
hiện nay
23
2.1. Thực trạng hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
23
2.2. Thực trạng thị trường dịch vụ pháp lý tại Việt Nam
45
Chương 3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế hỗ trợ
pháp lý cho doanh nghiệp và mở rộng thị trường dịch vụ pháp
lý trong hội nhập kinh tế quốc tế
57
3.1. Cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
57
3.2. Mở rộng thị trường dịch vụ pháp lý trong hội nhập kinh tế
quốc tế
70
Kết luận 86


kinh tế.
1

Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi để các
doanh nghiệp phát triển và lớn mạnh. Điều này đã được ghi nhận trong các văn
kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Quan tâm và chăm lo cho sự phát
triển của doanh nghiệp Việt Nam luôn là ưu tiên của các cấp, các ngành. Định
hướng về việc hình thành và phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam lớn
mạnh, có s
ức cạnh tranh cao không chỉ là một nhiệm vụ trước mắt, mà còn được
xác định là một mục tiêu chiến lược lâu dài của Đảng và Nhà nước.
Từ năm 1986, khi bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa, hàng loạt văn bản
quy phạm pháp luật đã được ban hành, như Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật
công ty, Luật Hợp tác xã góp phần quan trọng khẳng định địa vị pháp lý cho 1
Nguồn: Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 2
doanh nghiệp Việt Nam. Hàng loạt văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động
kinh doanh cũng được ban hành để ngày càng hoàn thiện hơn môi trường pháp
lý cho hoạt động của các doanh nghiệp. Đặc biệt, kể từ năm 1999, khi Luật
Doanh nghiệp được ban hành, hàng chục nghìn doanh nghiệp đã được thành lập
mới và đi vào hoạt động để từ đó hình thành nên một cộng đồng các doanh
nghiệp Việt Nam như hiện nay.
Vi
ệc Nhà nước phong tặng các danh hiệu "Sao Đỏ", "Sao Vàng", "Doanh
nhân đất Việt" và đặc biệt là việc từ năm 2004 Chính phủ quyết định lấy ngày
13 tháng 10 hàng năm làm "Ngày Doanh nhân Việt Nam" cũng là những biểu

ước được thực hiện đúng đắn và triệt để, trong đó có trách nhiễm hỗ trợ
pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện của Việt Nam hiện nay.
Việt Nam là một nước có nền văn minh lúa nước. Đặc trưng của văn minh
lúa nước là rất linh hoạt, mềm dẻo và trọng tình. "Người nông nghiệp Việt Nam
có truyền thống sống thiên về tình cảm nên ý thức pháp luật rất kém. Luật chủ

yếu chỉ tác động trong phạm vi những vấn đề rộng lớn của quốc gia, còn dân
chúng trong các làng xã thì vẫn sống theo lệ Tính tự trị mạnh của làng xã đã
tạo nên tình trạng "đất lề, quê thói", khiến cho ngay đến phép vua cũng phải
thua lệ làng"
2
.
Với cơ cấu dân số có đến hơn 80% là nông dân hoặc có nguồn gốc xuất
thân từ nông dân thì ý thức pháp luật yếu kém không chỉ là vấn đề của riêng giới
doanh nhân – những chủ doanh nghiệp – mà còn là của phần lớn công chức Việt
Nam.
Hiện nay, Việt Nam có khoảng trên 260.000 doanh nghiệp, trong đó,
doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 96%. Hàng năm các doanh nghiệp nhỏ và
vừa đóng góp khoảng 30% GDP, 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệ
p và gần
80% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa và 100% giá trị sản
lượng hàng hóa một số ngành hàng thủ công mỹ nghệ
3
. Các doanh nghiệp nhỏ
và vừa có mặt ở khắp các địa phương và được coi là trụ cột của kinh tế địa
phương. Sứ mệnh của những doanh nghiệp loại này lớn như vậy, nhưng họ lại
thiếu vốn, thiếu nhân lực để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nên họ 2

ng được yêu cầu của doanh nghiệp và chưa
có hiệu quả thiết thực.
Khái niệm hỗ trợ được hiểu là "sự giúp đỡ nhau, giúp thêm vào"
5
. Sự hỗ
trợ thường được thực hiện khi đối tượng được hỗ trợ yếu hoặc chưa đủ mạnh ở
một góc độ nào đó. Việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là một nhiệm vụ của
Nhà nước trong kinh tế thị trường. Nhiệm vụ ấy càng quan trọng hơn khi hiện 4
Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 237 ngày 29/11/2005. Số liệu thống kê này là kết quả cuộc điều tra hơn
63 ngàn doanh nghiệp tại 30 tỉnh, thành phố phía Bắc do Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa - Bộ Kế hoạch
và Đầu tư tiến hành.
5
Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1998, trang 835.

Trang 5
nay các doanh nghiệp Việt Nam đang rất yếu và thiếu kiến thức pháp luật. Tuy
nhiên, Nhà nước không phải là chủ thể duy nhất có thể hỗ trợ cho doanh nghiệp,
mà còn có các thiết chế khác như các hiệp hội doanh nghiệp, luật sư cũng có
thể cùng với Nhà nước thực hiện hoạt động hỗ trợ cho doanh nghiệp.
Một thực tiễn khác hiện đang đặt ra đó là các doanh nghiệp Việt Nam
chư
a có thói quen sử dụng tư vấn pháp luật. Đây là một trong những lý do khiến
thị trường dịch vụ pháp lý của Việt Nam vẫn chưa phát triển mặc dù pháp luật
về hành nghề dịch vụ pháp lý đã hình thành từ khá lâu. Tuy nhiên, dù các văn
bản pháp luật về việc hành nghề dịch vụ pháp lý đã được ban hành từ năm 1987
và được bổ sung, sửa đổi nhiều lần nhưng quy định trong các văn bản
đó vẫn

i mẻ mà đã có một số công trình, bài viết
đề cập đến từng khía cạnh khác nhau của vấn đề này. Trong quá trình xây dựng
Luật về Luật sư năm 2006, vấn đề hoàn thiện pháp luật luật sư nhằm đáp ứng
yêu cầu hội nhập quốc tế cũng đã được đặt ra. Tuy nhiên, chưa có công trình
nghiên cứu mang tính hệ thống để rút ra các luận cứ khoa học, giúp các nhà
hoạch định chính sách có thể tham kh
ảo để hoạch định chính sách hiệu quả hơn.
Chỉ thị số 13/2005/CT-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng
Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp điều tra, nghiên cứu Đề án xây dựng cơ chế
hỗ trợ thực hiện pháp luật cho doanh nghiệp. Đề án này không nghiên cứu cơ sở
khoa học và cơ sở lý luận của vấn đề hỗ trợ thực hiện pháp luật cho doanh
nghiệ
p mà chỉ tập trung chủ yếu vào việc điều tra thực tiễn với mục đích phát
hiện nhu cầu của doanh nghiệp và nhận dạng những hạn chế, tồn tại của cơ chế
hiện hành.
3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Trong đề tài này, hỗ trợ pháp lý được phân tích dưới góc độ Nhà nước
không phải là chủ thể duy nhất mà còn các thiết chế khác như các hiệp hộ
i
doanh nghiệp, ngành nghề, luật sư, các tổ chức luật sư Hỗ trợ pháp lý là một
lĩnh vực có nội hàm rộng và khá ước lệ vì phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ
quan. Vì vậy, đề tài này không đi sâu và tìm hiểu khái niệm mang tính lý thuyết
mà tập trung nhận diện các hoạt động hỗ trợ pháp lý đang được thực hiện để
phân tích, đánh giá trên cơ sở đó rút ra các luận cứ
khoa học phục vụ cho việc
hoạch định chính sách.

Trang 7
Dịch vụ pháp lý là loại hình dịch vụ do những tổ chức, cá nhân có hiểu
biết, có kiến thức và chuyên môn pháp luật được Nhà nước tổ chức hoặc cho

phát triển thị trường dịch vụ pháp lý. 6
Bộ Tư pháp -Viên Khoa học Pháp lý, Từ điển luật học, trang 218.

Trang 8
Để thực hiện mục tiêu đó, đề tài xác định các mục tiêu cụ thể sau đây:
Thứ nhất, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật của doanh nghiệp, và
thực trạng cơ chế hỗ trợ pháp lý hiện hành đối với doanh nghiệp, xác định các
tồn tại, hạn chế và xác định những nguyên nhân hạn chế khả năng thực hiện
pháp luật của doanh nghiệp.
Thứ hai,
đánh giá nhu cầu hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp trong mối liên
hệ với việc phát triển thị trường dịch vụ pháp lý.
Thứ ba, đề xuất các giải pháp về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, xây
dựng cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, làm rõ vai trò, trách nhiệm của
các cơ quan nhà nước và các các chủ thể khác trong việc hỗ trợ doanh nghiệp
thực hiện pháp luật.
Thứ tư, đánh giá thực trạ
ng thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện
nay, tìm ra các hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường dịch vụ pháp
lý, vai trò của luật sư, nhất là luật sư tư vấn trong hoạt động của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, đề xuất các yêu cầu đối với việc mở rộng thị trường dịch vụ pháp
lý.
Để thực hi
ện được các mục tiêu nói trên, Đề tài này được xây dựng theo
bố cục sau đây:
Chương 1. Tình hình phát triển doanh nghiệp và thực trạng thực hiện
pháp luật tại doanh nghiệp.

trong giai đoạn 1991 – 1999. Số vốn đăng ký mới đạt khoảng 321,2 tỷ đồng
(khoảng 20 tỷ USD), chưa kể
số vốn doanh nghiệp đăng ký bổ sung trong quá
trình hoạt động (do mở rộng kinh doanh) ước tính khoảng 103,4 nghìn tỷ (tương
đương 6,3 tỷ USD).
Ngoài ra còn phải kể đến hàng chục nghìn chi nhánh, văn phòng đại diện
và khoảng hơn hai triệu hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động trên toàn lãnh thổ
Việt Nam. Tỷ trọng đầu tư của dân cư và doanh nghiệp trong tổng đầu tư phát

Trang 10
triển toàn xã hội tăng từ 22,6% năm 2000 lên 26,2% năm 2002. Năm 2003, tỷ
trọng này đạt 29,7%. Năm 2004 là 30,9% và năm 2005 đạt 32,2%.
Số doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể mới thành lập kết hợp với số
doanh nghiệp mở rộng quy mô và địa bàn kinh doanh trong gần sáu năm qua đã
tạo thêm gần hai triệu chỗ làm việc mới, đưa tổng số lao động làm việc ở khu
vực kinh tế tư nhân và hộ kinh doanh cá thể
lên đến khoảng 6 triệu người, chiếm
khoảng 17% lực lượng lao động.
7

Qua một năm thực hiện Luật Doanh nghiệp 2005, số doanh nghiệp mới
đăng ký thành lập và số vốn đăng ký vẫn tiếp tục tăng mạnh. Năm 2006 có thêm
46.663 doanh nghiệp mới đăng ký thành lập, với số vốn đăng ký là 148.065 tỷ
đồng (9,2 tỷ USD) và 32.137 lượt doanh nghiệp đăng ký thay đổi vốn với tổng
số vốn đăng ký bổ sung thêm là 59.347 tỷ đồng (3,68 tỷ USD). Riêng 7 tháng
đầu năm 2007, tổng số
doanh nghiệp đăng ký thành lập mới ước khoảng 28.600
tỷ đồng với tổng số vốn đăng ký khoảng 222.035 tỷ đồng (13,76 tỷ USD);
khoảng 21.321 lượt doanh nghiệp đăng ký thay đổi vốn, với số đăng ký thêm là
128.292 tỷ đồng (7,95 tỷ USD); tổng số vốn đăng ký mới và bổ sung tăng 68,6%

Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giai đoạn 2001 – 2006 số
lượng doanh nghiệp đăng ký mới tăng trung bình hơn 22%/năm với số vốn tăng
trung bình gần 49,2%/năm. Trong khi đó, giai đoạn 1991 – 1999 chỉ có 41.716
doanh nghiệp dân doanh đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký kinh doanh
chỉ đạt gần 26 tỷ đồng. Như vậy, số lượng doanh nghiệp thành lập mới trong
giai
đoạn 2000 – 2006 gấp hơn 4,9 lần tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập
mới trong 10 năm của giai đoạn 1991 – 1999. Đến hết năm 2006, tình bình quân
nước ta đã đạt tỷ lệ một doanh nghiệp trên 300 người dân.
9

Cùng với việc tăng cả về số lượng doanh nghiệp được thành lập và số vốn
đăng ký, cơ cấu các loại hình doanh nghiệp cũng đã thay đổi thể hiện sự thành
công của việc xoá bỏ cơ chế tập trung - kế hoạch hoá. Trước năm 1986, ở Việt
Nam hầu như chỉ có hai hình thức doanh nghiệp là doanh nghiệp nhà nước và
hợp tác xã. Hiện nay, cơ cấu này đã hoàn toàn thay đổi. Khu v
ực doanh nghiệp
ngoài quốc doanh của người Việt Nam và người nước ngoài ngày càng tăng
trưởng mạnh. Khu vực hợp tác xã tuy giảm về số lượng nhưng đang từng bước
thể hiện đúng bản chất của nó và vì vậy, cũng bắt đầu hoạt động có hiệu quả. Sự
lớn mạnh vững chắc của một số doanh nghiệp trên thị trường trong nước và
quố
c tế cũng như đóng góp của khu vực dân doanh trong việc tạo ra công ăn
việc làm và thu nhập xã hội là minh chứng cho điều này. Bên cạnh doanh nghiệp 9
Nguồn: Báo cáo tình hình doanh nghiệp dân doanh và định hướng phát triển giai đoạn 2007 -2010 của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư.


Trung nguyên, áo sơ mi Việt tiến, An phước, Giầy Bitis, Honda Việt nam
Nhiều thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá đã hình thành và chắc chắn nếu tính toán
thành giá trị cũng có thể là tiền triệu USD, thậm chí có thể t
ới hàng chục triệu 10
Nguồn: Báo cáo tình hình doanh nghiệp dân doanh và định hướng phát triển giai đoạn 2007 -2006 của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư

Trang 13
USD. Trình độ quản lý doanh nghiệp của các doanh nhân cũng ngày càng được
nâng cao. Cơ chế quản lý nội bộ của các doanh nghiệp cũng dần thay đổi theo
hướng chuyên nghiệp hoá và chuyên môn hoá.
1.2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1. Nhận định về tình hình thực hiện pháp luật của doanh nghiệp
Nhu cầu tìm hiểu thông tin và mong muốn áp dụng đúng pháp luật đã bắt
đầu hình thành đối với doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có quy mô trung
bình và doanh nghiệp có quy mô lớn, hoặc các doanh nghiệp kinh doanh những
ngành nghề đặc biệt. Một số doanh nghiệp, ngay từ khi chuẩn bị thành lập đã coi
việc thi hành pháp luật là một tiêu chí quyết định cho sự thành công. Hầu hết các
doanh nghiệp có vố
n đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp lớn của Việt Nam
trước khi thành lập và hoạt động, thường bắt đầu bằng việc tìm hiểu pháp luật
Việt Nam. Mức độ tin tưởng vào sự an toàn pháp lý thường là yếu tố quan trọng
nhất đối với nhà đầu tư nước ngoài trong việc đi đến quyết định có đầu tư vào
thị trường Việt Nam hay không. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp nhỏ và
vừ
a, việc chủ động tìm hiểu thông tin pháp luật và ý thức thi hành đúng pháp
luật còn là một trong những điều bất cập.

được 572 doanh nghiệp “ma”. Tại Hà Nội, trong 6 tháng đầu năm 2007 cơ quan
ch
ức năng cũng phát hiện có đến 1.950 doanh nghiệp “ma” hoạt động, nhiều hơn
số doanh nghiệp “ma” phát hiện được trong năm 2005
12
.
Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp chưa chú trọng tới vai trò tư
vấn pháp luật, nhất là trong việc ký kết, thực hiện hợp đồng, dẫn tới phát sinh
các tranh chấp không đáng có, gây bất lợi cho doanh nghiệp. Nhìn chung, ý thức
chấp hành pháp luật trong kinh doanh của nhiều doanh nghiệp còn yếu, một số
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không đúng quy định của pháp luật. Vi
phạm pháp luật của doanh nghiệp diễn ra khá phổ biến trên hầu h
ết các lĩnh vực,
trong đó, nổi cộm trong các lĩnh vực chấp hành pháp luật về thuế, mua bán hóa
đơn, trốn thuế, gian lận thương mại, hoạt động kinh doanh khi chưa có đủ điều
kiện hoặc không bảo đảm các điều kiện kinh doanh theo quy định, gây ô nhiểm
môi trường, vi phạm pháp luật lao động v.v
Trên phạm vi cả nước, đã phát hiện 720 vụ mua bán và sử dụng trái phép
hóa đơn giá trị gia tăng, gây thi
ệt hại cho ngân sách 546,310 tỷ đồng, nhưng 11
Đề án xây dựng cơ chế hỗ trợ thực hiện pháp luật cho doanh nghiệp, Bộ Tư pháp điều tra, nghiên cứu theo Chỉ
thị số 13/2005/CT-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ.

Trang 15
hiện mới thu hồi được khoảng 200 tỷ đồng. Những con số này đã nói lên tình
trạng trốn thuế, gian lận thuế, thành lập doanh nghiệp để buôn bán hóa đơn, bỏ
trốn khỏi địa điểm kinh doanh, sử dụng hóa đơn giả ngày càng nghiêm trọng,

. 12
Mạnh Bôn, Vi phạm pháp luật về thuế vẫn diễn biến phức tạp, Báo Đầu tư.
13
Mạnh Bôn, Tài liệu đã dẫn.
14
Xem: "Cần xác định nhân thân của người đứng đầu doanh nghiệp thông qua Phiếu lý lịch tư pháp", Người
đại biểu nhân dân, số ra ngày 16/01/2007;
/>

Trang 16
Tình trạng các doanh nghiệp vi phạm pháp luật lao động cũng diễn ra phổ
biến. Nhiều doanh nghiệp chỉ ký hợp đồng lao động ngắn hạn chứ không ký hợp
đồng xác định thời hạn cho các công việc có tính chất thường xuyên, ổn định.
Rất ít doanh nghiệp đăng ký thỏa ước lao động tập thể với Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội. Việc cấp sổ lao động cho người lao động cũ
ng không
được thực hiện nghiêm túc. “Một số doanh nghiệp thực hiện pháp luật lao động
chưa triệt để; chưa quan tâm đúng mức đến việc giao kết hợp đồng lao động và
thoả ước lao động tập thể. Nội dung hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập
thể còn sơ sài, chưa thể hiện rõ quyền và nghĩa vụ của người lao động. An toàn,
vệ sinh lao động ch
ưa được người sử dụng lao động quan tâm đúng mức, đặc
biệt là đối với ngành xây dựng, giao thông là những ngành có nguy cơ gây tai
nạn lao động cao Tình trạng doanh nghiệp không nghiêm túc thực hiện kết
luận thanh tra còn khá phổ biến. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lao động còn vi
phạm pháp luật về lao động, gây khó khăn trong việc mở rộng và phát triển thị
trường lao động ngoài nước. Các chế độ chính sách cho lao động đặc thù như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status