BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
KX.02/06-10
“QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG 8211 Hà Nội 2010
2
CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
KX.02/06-10
“QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG TIẾN TRÌNH
ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM” ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC
“QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG CHIẾN
LƯỢC KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2011 - 2020.
Mã số: KX.02.15/06-10 (15)
Thành viên tham gia đề tài: KX.02.15/06-10 (15)
1 TS. Lê Duy Đồng Nguyên Thứ trưởng- UV
HĐLLTW
Chủ nhiệm ĐT
2 ThS. Nguyễn Thị Thu
4
Danh mục các từ viết tắt
Kí hiệu
ASXH An sinh xã hội
BH Bảo hiểm
BHHT Bảo hiểm hưu trí
BHTNg Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH Bảo hiểm xã hội
BTXH Bảo trợ xã hội
BHXHBB Bảo hiểm xã hội bắt buộc
BHXHTN Bảo hiểm xã hội tự nguyện
BHYT Bảo hiểm y tế
BHYTTN Bảo hiểm y tế tự nguyện
CHLB Cộng hoà liên Bang
CPF Quỹ dự phòng
CSSK Chăm sóc sức khoẻ
6
TGXH Trợ giúp xã hội
TGXHTX Trợ giúp xã hội thường xuyên
TTLĐ Thị trường lao động
UBTVQH Uỷ ban thường vụ quốc hội
UNICEF Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên hợp quốc
UNFPA Quỹ dân số Liên hợp quốc
ƯĐXH Ưu đãi xã hội
WHO Tổ chức y tế thế giới
WB Ngân hàng thế giới
XHCN Xã hội chủ nghĩa
PLXH Phúc lợi xã hội
XKLĐ Xuất khẩu lao động
XHH Xã hộ
i hoá
TNXH Tệ nạn xã hội 7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn thành công của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta lãnh
đạo khẳng định chỉ có kiên định đường lối đổi mới, chủ động tích cực đổi
mới các chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội có nguyên
tắc, có lộ trình, và có bước đi thích hợp, phù hợp với các chính sách phát
triển kinh tế, tạo điều kiện cho tă
ng trưởng cao, bền vững mới, ổn định và
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, giải quyết tốt các vấn
đề An sinh xã hội, phúc lợi xã hội, góp phần giữ vững, ổn định chính trị xã
Thứ nhất, có nhiều nghiên cứu về các lĩnh vực phát triển xã hội trong
quan hệ với phát triển nói chung và sự tác động của kinh tế thị trường toàn
cầu hoá và hội nhập, như các công trình nghiên cứu của giới khoa học Nga
về tình trạng tách biệt xã hội và bần cùng hoá đối với một bộ phận của dân
cư trước “ liệu pháp sốc” chuyển sang kinh tế thị trường; các giới khoa học
Trung Quốc về các vấn đề xã hội ở nông thôn, vấn đề an sinh xã hội, vấn đề
phòng chống các rủi ro vv
Thứ hai, nghiên cứu về hỗ trợ phát triển và cứu trợ xã hội đối với các
đối tượng yếu thế, thua thiệt trong xã hội, như các công trình nghiên cứu về
người về hưu, về cựu chiến binh, phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số,
vv
Th
ứ ba, nghiên cứu chính sách tiền lương, chính sách giáo dục, y tế,
phát triển cộng đồng, dân số, tuổi thọ, gia đình và thế hệ như: các chính sách
tạo động lực phát triển qua bài học kinh nghiệm của Singapore dưới thời Lý
Quang Diệu làm Thủ tướng; khuynh hướng dân chủ và nhân đạo trong chính
sách xã hội những thập kỉ 70, 80 thế kỉ 20 của Thuỵ Điển; của Tô Mát May
E ở Liên Bang Đức.
Thứ tư, các nghiên cứ
u của nhiều nước còn chú ý tới các vấn đề con
người với môi sinh và môi trường, mở rộng sự quan tâm thực hiện chức
năng xã hội của Nhà nước( dịch vụ công) để phục vụ công dân.
Thứ năm, nghiên cứu dự báo và chủ động đề ra các giải pháp xử lý
các tình huống phức tạp trong phát triển xã hội, như: tệ nạn xã hội, đói
nghèo, bệnh tật, thiên tai, mất cân bằ
ng giới tính, như hội thảo về phát triển
khoa học hài hoà trong xây dựng chủ nghĩa xã hội của hai Đảng Cộng Sản
Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Việt Nam; của các nước trong khối ASEAN,
EU và nhiều nước khác.
b) Trong nước
KX.04 về Nhà nước pháp quyền do GS. Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm.
Thứ sáu, nghiên cứu về văn hoá, văn hoá
Đảng, văn hoá chính trị, văn
hoá xã hội, vai trò của văn hoá trong phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá Hồ
Chí Minh, về đạo đức xã hội, một bộ phận cốt lõi của văn hoá, như: Công
trình nghiên cứu của Hoàng Trinh, Phạm Xuân Nam, Hoàng Chí Bảo, Vũ
Khiêu, Đặng Xuân Kỳ, vv
Tuy nhiên, vẫn còn không ít vấn đề đòi hỏi phải tiếp tục được nghiên
cứu và xử lý trong thực tiễn cuộc sống, như các vấn đề
sau đây:
+ Quan niệm và nhận thức về phạm trù xã hội cần được làm sáng tỏ
theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp; bản chất xã hội trong mối quan hệ tự nhiên
- xã hội - con người trong phát triển xã hội và quản lí phát triển xã hội.
+ Cần xây dựng quan điểm và định hướng về phát triển xã hội: Nội
dung của sự phát triển này và sự liên kết kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội;
quan h
ệ giữa quốc gia và dân tộc với các nước trong khu vực và thế giới;
giữa truyền thống và hiện đại; giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và
công bằng xã hội.
10
+ Cần làm rõ phát triển bền vững đối với xã hội không những là chỉ
báo về hiệu quả và triển vọng mà còn đòi hỏi phải gia tăng tính chất và trình
độ nhân văn trong sự phát triển, hướng vào mục tiêu phát triển con người.
Quản lý phát triển xã hội hiện đại đòi hỏi và khẳng định vai trò, tầm quan
trọng của văn hoá quản lý, coi tư duy chiến lược trong năng lực của nhà lãnh
đạo quả
n lý hiện đại như một yếu tố khách quan.
+ Xác định rõ vai trò lãnh đạo và quản lý phát triển xã hội, Nhà nước
phải đề ra hệ thống quan điểm, định hướng về các chính sách phát triển xã
n dụng trong quan điểm, nhận thức, chủ trương, đường lối chính
11
sách về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta qua các thời
kỳ.
- Phân tích thực trạng phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
trong quá trình đổi mới, đánh giá tình hình, khái quát những vấn đề lý luận
và thực tiễn, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về phát triển xã hội và
quản lý phát triển xã hội.
- Dự báo xu hướng phát triển xã hội ở nước ta trong giai đoạn 2011-
2020; Và đưa ra nhữ
ng đề xuất về các quan điểm, định hướng, về các chính
sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong chiến lược kinh tế -
xã hội giai đoạn 2011-2020; những đóng góp vào việc bổ sung hoàn thiện
cương lĩnh 1991.
4. Phương pháp tiếp cận và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Việc nghiên cứu các chính sách phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội được thực hiện bằng phương pháp tiếp cận hệ th
ống đa ngành và
liên ngành, tiếp cận vĩ mô (quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước), tiếp cận vi mô (từ nhu cầu của cộng đồng, các giai tầng xã hội,
các nhóm xã hội, các hoạt động thực tiễn của cộng đồng và công dân)
- Đề tài tập trung vào những chính sách xã hội liên quan đến lợi ích,
quyền, nghĩa vụ
, trách nhiệm của nhiều đối tượng nhất, cũng như những đối
tượng yếu thế cần được bảo trợ và giúp đỡ của Nhà nước và nhân dân. Đây
là những chính sách tác động trực tiếp đến kinh tế-chính trị-xã hội, đến sự
phát triển của đất nước.
- Thông qua khảo sát và tham vấn của các chuyên gia, các nhà khoa
13
PHẦN I
PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ XÂY DỰNG QUAN ĐIỂM VÀ
ĐỊNH HƯỚNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN
LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
CHƯƠNG I
PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
I. Quan niệm chung về phát triển xã hội
Xã hội theo nghĩa rộng là một cộng đồng người chung sống trên một
lãnh thổ có chủ quyền đã hình thành trong lịch sử bao gồm toàn bộ các lực
lượng được tổ chức lại theo hệ thống nhất định mà Mác gọi là “tự nhiên thứ
hai “ được con người tạo ra. Xã hội theo “nghĩa hẹp” là những phương diện
- Bình đẳng xã hội, bảo đảm cho sự hài hòa trong đời sống trên các
mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội không phân biệt thành phần và địa vị
xã hội. Khi trong xã hội còn sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo,
còn đặc quyền đặc lợi thì sự bình đẳng trước pháp luật về quyền lợi và
nghĩa vụ là sự bảo đảm cần thiết cho bình đẳng xã hội.
- Công bằng xã hội là sự
tương xứng giữa người và người trong quyền
lợi và nghĩa vụ, bảo đảm vai trò của cá nhân, gắn với địa vị xã hội của họ,
Công bằng xã hội chỉ mang tính tương đối, nó phụ thuộc vào điều kiện chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Trong xã hội XHCN, công bằng xã
hội thể hiện ở nguyên tắc phân phối theo lao động, tiêu chuẩn chủ yếu quy
ết
định địa vị xã hội và quyền được hưởng thụ của con người.
Theo ý nghĩa phổ quát, sự phát triển xã hội là sự thay thế một trình độ
kinh tế xã hội này bằng một trình độ kinh tế xã hội khác và đấy là kết quả
của những thay đổi trong lĩnh vực kinh tế. Sự thay đổi đó cũng có thể là sự
thay đổi từ hình thái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác có
trình
độ phát triển cao hơn như chuyển tiếp từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang
chế độ phong kiến, tư bản chủ nghĩa, rồi xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, khi
xác định sự phát triển xã hội không chỉ dựa vào các chính sách phát triển
trong lĩnh vực kinh tế mà phải đặt trong mối liên hệ những lĩnh vực khác
của đời sống con người, đó là các các lĩnh vực chính trị, vă
n hoá, xã hội
Trong lĩnh vực xã hội, bằng việc thông qua các chính sách phát triển
xã hội, các quyền và lợi ích căn bản của con người, nhân phẩm và phẩm giá
của con người, quyền bình đẳng nam nữ được bảo đảm có ý nghĩa quyết
định thúc đẩy sự tiến bộ xã hội cũng như cải thiện điều kiện sống của con
người ngày tốt đẹp hơn.
Ở nước ta, quá trình hình thành và hoàn thiện các chính sách phát
những nền tảng của một mô hình xã hội hiện đại phù hợp với bản sắc Việt
Nam, tạo thành chỗ dựa vững chắc trong quá trình phát triển đất nước theo
định hướng XHCN; trong việc giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích cơ bản
xã hội, phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộ
c, tăng cường sức mạnh
liên kết giữa các giai tầng xã hội để tạo ra những động lực thúc đẩy sự phát
triển kinh tế – xã hội và chủ động hội nhập quốc tế.
4, Thông qua thực hiện các chính sách phát triển xã hội, giải quyết có
hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển thực hiện
tiến bộ xã hội, công bằ
ng xã hội, phát triển con người trong từng bước phát
triển. Các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi tầng lớp dân cư, mọi
thành phần kinh tế. Giải quyết những hậu quả do những tiêu cực của kinh tế
thị trường gây ra như nạn thất nghiệp ở thành thị, thiếu việc làm ở nông
thôn, các tệ nạn xã hội, tham nhũng, buôn lậu, phân hoá giàu nghèo vv…
16
5. Qua việc đề ra và thực hiện tốt các chính sách phát triển xã hội thể
hiện sự trưởng thành và hoàn thiện của hệ thống chính trị. Trước hết, đó là
nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước về
công tác tổ chức, quản lý bộ máy, về đội ngũ cán bộ, công chức để phát huy
chức năng của nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân trong quản lý các mặ
t của đời sống xã hội bằng pháp luật; phát huy vai
trò đại diện của Mặt Trận Tổ Quốc và các đoàn thể chính trị xã hội trên cơ
sở đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, làm cho dân chủ XHCN
ngày càng được mở rộng hơn, sự đồng thuận xã hội được tăng cường. Hai là
nâng cao tinh thần và ý thức trách nhiệm của người dân, coi mình là chủ thể
của xã hội, tự
giác và có nghĩa vụ đóng góp vào việc thực hiện các chính
sản của cá nhân và của giai cấp tư sản. Giai cấp tư sản hình thành và ngày
càng lớn mạnh phá vỡ quyền lực của giai cấp phong kiến và các giáo hội ở
châu Âu nhằm bảo vệ các quyền lợi c
ủa mình.
Các học giả thời kỳ này (1767) đã cho rằng xã hội dân sự là định chế
“đối trọng” với bộ máy cầm quyền phong kiến, nó bao gồm mọi hoạt động
của mọi tổ chức vượt lên trên hoạt động của cá nhân hoặc gia đình và nằm
ngoài hệ thống chính quyền. Như vậy xã hội dân sự được xác định bởi “tính
tổ chức” của các hoạt động
đồng thời được tách ra khỏi ít nhất 3 thực thể xã
hội khác là chính quyền (Nhà nước), gia đình và cá nhân.
Gần đây, theo Liên minh thế giới vì sự tham gia của công dân thì xã
hội dân sự là diễn đàn giữa gia đình, Nhà nước và thị trường, nơi các lực
lượng xã hội dân sự phối hợp với nhau để thúc đẩy quyền lợi chung. Khái
niệm về xã hội dân sự đang dần dần hoàn chỉnh, khẳng định s
ự có mặt của
các nhóm xã hội không chính thống, hoạt động không chính thức bên cạnh
các tổ chức chính trị xã hội chính thống. Xã hội dân sự với tư cách là một
diễn đàn nghĩa là một môi trường xã hội phức hợp với những giá trị đa dạng
và các quyền lợi tương hỗ, bao gồm cả những lực lượng tích cực lẫn tiêu
cực. Vì vậy, có thể thấy Nhà nước, gia
đình, và thị trường còn tồn tại đan
xen và tương tác nhau giữa nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Cũng giống như Nhà nước và các định chế xã hội khác, xã hội dân sự
được biểu hiện với các hình thức tổ chức khác nhau và được gọi chung là
các tổ chức xã hội dân sự.
Các Tổ chức xã hội dân sự là các tập hợp tình nguyện của công dân có
cùng nghề nghiệp hoặc cùng s
ở thích hay giới tính… hoạt động vì mục đích
bảo vệ quyền lợi của mỗi người. Do tính chất phong phú và đa dạng, nên tôn
Vai trò của các tổ chức xã hội dân sự thể hiện trước hết là sự tham gia
vào việc hoạch định và thực thi các chính sách phát triển kinh tế xã hội, qua
đó, các tổ chức xã hội dân sự khẳng định được v
ị trí của nó.
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước được coi là chủ thể có vai trò
quan trọng, dẫn dắt và đảm bảo cho sự ổn định của phát triển kinh tế. Các
chức năng cơ bản của Nhà nước gồm:
- Xây dựng thể chế
- Cung cấp các hàng hoá công cộng, khắc phục thất bại của thị trường.
- Phối hợp các hoạt động tư nhân và thực hiện việ
c phân phối lại phúc
lợi xã hội…
Tuy nhiên Nhà nước có thể không làm tốt chức năng của mình trong
điều tiết kinh tế thị trường với những lý do sau đây:
- Trong các hoạt động “trợ cấp”, “điều tiết” hoặc cung ứng thường bị
lệ thuộc vào lợi ích cục bộ của Nhà nước hoặc của một công chức, một
19
nhóm công chức nhà nước. Do đó dẫn đến làm sai lệch khả năng phân bổ
nguồn lực xã hội, bóp méo thị trường và làm giảm hiệu quả kinh tế.
- Do xung đột lợi ích giữa mục tiêu phát triển chung với quyền lợi của
các nhóm xã hội, kể cả các nhà hoạch định chính sách, cho nên khi lựa chọn
các mục tiêu giữa ổn định kinh tế vĩ mô và hiệu quả kinh tế, cũng như các
mục tiêu xã hội, Nhà nướ
c cũng có thể phạm sai lầm.
Thị trường cũng là một chủ thể quan trọng của xã hội bao gồm nhiều
doanh nghiệp khác nhau Hoạt động của các doanh nghiệp tốt sẽ làm cho nền
kinh tế vận hành hiệu quả hơn. Tuy nhiên, thị trường cũng có những hạn chế
điểm yếu hay thất bại, nếu không hướng dẫn tốt, thị trường có thể dẫn tới
c
nhà sản xuất và người tiêu dùng dịch vụ xã hội, không chỉ giúp làm giảm chi
phí giao dịch mà còn cải thiện được khả năng phục vụ, nâng cao chất lượng
của một số dịch vụ xã hội khác.
Do tính chất độc lập, tự chủ cao trước pháp luật, xã hội dân sự có thể
đóng vai trò điều hoà mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường ngay chính
trong quá trình hoạch định và thực hiện các chính sách phát triển xã h
ội,
giúp thiết lập và điều hoà các mối quan hệ giữa các nhóm lợi ích.
Thông qua các tổ chức xã hội dân sự, có thể giảm bớt bệnh chủ quan,
duy ý chí trong quá trình hoạch định và thực thi các chính sách, bảo vệ được
lợi ích cộng đồng.
c) Cung cấp một số dịch vụ công
Khi nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng phong phú và đa dạng,
Nhà nước khó có khả năng đáp ứng tốt và đầy đủ mọi dịch v
ụ công. Bằng
việc đáp ứng nhu cầu của các nhóm dân cư nhỏ, nhất là nhóm người yếu thế,
các tổ chức xã hội dân sự có thể hỗ trợ khắc phục sự hạn chế này của Nhà
nước, nhiều loại hình dịch vụ công sẽ có thể được cung cấp tốt hơn thay vì
chỉ dựa vào các cơ quan cung ứng dịch vụ công của Nhà nước (như các lĩnh
vực giáo d
ục hoặc y tế).
Trong điều kiện hiện nay, khi Nhà nước không thể đủ sức để dảm
đương tất cả các dịch vụ công, việc tạo lập các mối quan hệ đối tác với các
tổ chức xã hội dân sự kể cả với khu vực tư nhân là điều cấp bách. Đã đến lúc
các tổ chức xã hội dân sự không chỉ có vai trò to lớn trong việc xây dựng và
thực hiệ
n các chính sách theo phương thức “xã hội hoá”… do Nhà nước
khởi xướng, mà còn có vai trò to lớn hơn trong việc tham gia cung cấp các
dịch vụ y tế, nhất là các dịch vụ thuộc lĩnh vực y tế cộng đồng, y tế dự
phòng và y tế phục vụ người nghèo.
Các tổ
chức xã hội dân sự đã có từ rất sớm ở Việt Nam. Hoạt động
của các làng xã với hương ước và các lệ tục nghiêm ngặt là một dạng khác
phổ biến của hình thức xã hội dân sự của Việt Nam từ cổ xưa. Cho đến nay,
cùng với quá trình đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của các tổ chức xã hội
dân sự đã có những thay đổi đáng k
ể theo hướng cởi mở và minh bạch hơn.
Nhờ đó, một xã hội dân sự rộng lớn hơn đã xuất hiện với sự nở rộ ngày càng
nhiều các tổ chức dưới các hình thức và nội dung hoạt động khác nhau.
Mặc dù vẫn chưa có luật riêng về các tổ chức xã hội dân sự, song trên
thực tế nhiều loại hình hoạt động của các tổ chức này đã đượ
c qui định tại
các luật và văn bản qui phạm pháp luật khác như Hiến pháp, Bộ Luật Dân
sự, Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn, Thanh niên, Bình đẳng giới…
Nghị định về dân chủ cơ sở được ban hành đảm bảo quyền cho người
dân tham gia vào các quyết định quan trọng liên quan đến đời sống của họ
tại các địa phương. Tương tự, một số qui chế về hoạ
t động của các tổ chức
nghề nghiệp đã được các cơ quan hữu quan của Nhà nước phê chuẩn như:
Nghị định 177/1999/CP của Chính phủ về qui chế cho các quĩ xã hội và từ
thiện, Luật khoa học và công nghệ năm 2000 đã cho phép các tổ chức phi
22
chính phủ (NGO) của Việt Nam được đăng ký là các tổ chức khoa học và
công nghệ trong khuôn khổ liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam
(VUSTA).
Theo hướng đó, tại Nghị định số 88/2003/NĐ-CP của Chính phủ về
việc qui định tổ chức, hoạt động và quản lý các Hội. Lần đầu tiên, các tổ
chức xã hội nghề nghiệp đã được công nhận về mặt pháp lý và theo đó Bộ
với các tổ chức xã hội nghề nghiệ
p ở Trung ương, các hội nghề nghiệp ở địa
phương thường được thành lập từ dưới lên với qui mô thường là nhỏ.
23
- Các tổ chức tự quản: là các tổ chức do dân thành lập.
Các tổ chức này hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản trong
khuôn khổ pháp luật, Nhà nước không trực tiếp quản lý. Đây là hình thức
được coi là thích hợp với người dân ở cộng đồng, nhất là trong việc giải
quyết những vi phạm pháp luật và những tranh chấp nhỏ trong dân (như là
các tổ tự quản, tổ hòa giải…). Các nhóm tín dụng nh
ỏ, phi chính thức cũng
được coi thuộc nhóm này.
- Các tổ chức phi chính phủ (NGO) :
Các tổ chức phi chính phủ là các tổ chức phát triển hoạt động theo
Nghị định số 35/HĐBT ngày 28-1-1992 của Hội đồng Bộ trưởng. Với tư
cách là Tổ chức phát triển, việc thành lập các tổ chức này không vì mục đích
lợi nhuận.
- Các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng:
Các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng phát triển ở cả
cấp Trung ương,
nhưng chủ yếu ở cấp địa phương (đạo Phật, Thiên chúa, Hòa Hảo, Cao Đài,
Tin Lành…)
Mặc dù đang còn trong giai đoạn phát triển, nhưng các tổ chức xã hội
dân sự ở nước ta đã từng bước khẳng định vai trò của mình trong quá trình
phát triển xã hội. Vai trò đó được thể hiện ngày càng rõ trong quá trình tham
gia của các tổ chức xã hội dân sự vào việc hoạch định và thực thi các chính
sách phát triể
n kinh tế xã hội, lập và thực hiện Luật ngân sách nhà nước
chức chính trị - xã hội được hưởng quyền tham gia đầy đủ nhất vào việc
hoạch định và thực thi chính sách. Các tổ chức khác k
ể cả các hội nghề
nghiệp ở cấp Trung ương có rất ít cơ hội để thực thi vai trò này. Thậm chí
chỉ cho phép các thành viên tổ chức xã hội dân sự tham gia vào việc thực thi
các chính sách đã được Nhà nước ban hành, mà không được quyền có tiếng
nói trong quá trình hoạch định các chính sách. Vì vậy đã tạo khe hở lớn cho
sự tùy tiện của các cấp chính quyền khi triển khai các chính sách.
Chính sự thiếu vắng một văn bản luật về
Hội đã gây khó khăn cho
công tác quản lý các tổ chức xã hội dân sự, một chức năng và cũng là một
điều kiện để các tổ chức xã hội dân sự phát huy vai trò của minh trong xã
hội, nhất là tham gia đánh giá, phản biện các chính sách. Tham gia đánh giá,
phản biện các chính sách của Nhà nước là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng,
thể hiện vai trò đích thực của các tổ chức xã hội dân sự trong phát triển xã
hội, như
ng hiện nay vai trò của các tổ chức xã hội dân sự còn rất hạn chế và
mờ nhạt. Điều này một phần do hạn chế về năng lực của các tổ chức xã hội
dân sự, nhưng quan trọng hơn là do thiếu vắng cơ sở pháp lý. Đó chính là
rào cản lớn nhất hạn chế sự tham gia trực tiếp của các tổ chức xã hội dân sự
trong việc giám sát và phản bi
ện chính sách, pháp luật.
- Khả năng độc lập của nhiều tổ chức xã hội dân sự chưa cao.
Mặc dù các tổ chức xã hội dân sự hoạt động theo nguyên tắc tự
nguyện, tự quản, nhưng trên thực tế do nhiều nguyên nhân cả chủ quan và
khách quan mà khả năng độc lập của nhiều tổ chức xã hội dân sự chưa cao,
25
còn phụ thuộc quá nhiều vào chính quyền, chỉ có một số tổ chức chính trị-
xã hội được thành lập sớm và nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ Nhà nước
còn coi đây là vấn đề nhạy cảm. Vì nhiều lý do khác nhau nên hiện vẫn đang
tồn tại các ý kiến rất khác nhau về xã hội dân sự.
Đã đến lúc phải khẳng định chắc chắn rằng cũng như kinh tế thị
trường, xã hội dân sự là thành tựu phát triển của văn minh nhân loại, mang
tính phổ biến. Sự phát triển của xã h
ội dân sự là một xu thế khách quan gắn
liền với việc xây dựng nhà nước pháp quyền, hoàn thiện hệ thống pháp luật
tạo điều kiện để người dân được làm những việc mà pháp luật không cấm