03
ĐỀ TÀI:
“ Tìm hiểu và phân tích các nhân tố
ảnh hưởng đến tốc độ gia tăng sản
lượng của nền kinh tế Việt Nam giai
đoạn 1990-2010“
1
1
03
Đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ gia tăng sản lượng của nền kinh
tế việt nam trong 20 năm gần đây
Kết quả hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà
nước đã mang lại cho Việt Nam nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế,
giảm đói nghèo, nâng cao mức sống cho người dân. Chính sách đổi mới
cũng đã đưa nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế
thế giới và khu vực. Trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của khối
ASEAN, tham gia AFTA và APEC, thực hiện có hiệu quả Hiệp định thương
mại với Mỹ, trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, thị
trường xuất khẩu của Việt Nam ngày càng mở rộng, xu hướng các nguồn
vốn từ bên ngoài đổ vào Việt Nam ngày càng tăng qua các kênh đầu tư trực
tiếp và gián tiếp…
Tất cả những nhân tố trên đã tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam
phát triển. Hơn 20 năm phát triển (1990-2010), tốc độ tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam liên tục giữ ở mức cao. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao, trong khi tốc độ gia tăng dân số được kìm hãm, đã dẫn đến mức
thu nhập GDP bình quân trên đầu người mỗi năm một tăng.
Sau đây là các bảng số liệu của những năm gần đây:
Các chỉ số về GDP theo tỷ giá
Năm
GDP theo tỷ giá
(tỷ USD)
2010 (dự kiến) 22 - 25 11
Các chỉ số về xuất nhập khẩu
3
3
03
Năm
Xuất khẩu
(tỷ USD)
Nhập khẩu
(tỷ USD)
Thâm hụt
(tỷ USD)
2007 48,38 60,83 -12,45
2008 63,0 80,5 -17,5
2009 56,58 68,83 -12,25
2010
Tốc độ tăng trưởng GDP và GDP bình quân trên đầu người của Việt Nam
giai đoạn 1990 - 2008
4
4
03
Năm 2008 đánh dấu mốc phát triển của nền kinh tế Việt Nam chuyển
từ nhóm nước có thu nhập thấp nhất sang nhóm nước có thu nhập trung bình
dưới.
Theo cách phân loại của Ngân hàng Thế giới, phân nhóm các nước
theo mức thu nhập gồm:
Nhóm 1: Nhóm những nước có thu nhập thấp nhất, với thu nhập quốc nội
(GDP) bình quân đầu người dưới 935 USD.
Nhóm 2: Nhóm các nước có thu nhập trung bình dưới, với GDP bình quân
đầu người trong khoảng từ 936 đến 3.705 USD.
một khía cạnh của tăng trưởng kinh tế. Sản lượng của nền kinh tế tạo ra được
đo lường theo tổng cầu AD.
Nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế mở cho nên sản lượng của
nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng bởi 4 tác nhân chính, bao gồm: hộ gia đình,
doanh nghiệp, chính phủ, chính phủ và người nước ngoài. Vì vậy, tổng cầu
được xác định theo công thức :
AD = C + I + G + NX
Trong đó:
C : Tiêu dùng của hộ gia đình
I : Đầu tư của doanh nghiệp
G : Chi tiêu của chính phủ
NX : Xuất khẩu ròng (NX = X – IM)
Trong những năm gần đây, tốc độ gia tăng sản lượng của nền kinh tế
Việt Nam khá cao nhưng chủ yếu dựa vào phát triển theo chiều rộng chứ
không phải theo chiều sâu. Chủ yếu là chỉ tăng trên danh nghĩa vì lạm phát
còn ở mức quá cao và chi tiêu công chiếm tỷ trọng khá lớn.
Sau đây là tổng quan về nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần
đây:
Năm 2008, nền kinh tế gặp khó khăn với những diễn biến phức tạp
của chỉ số giá tiêu dùng. Tính đến cuối tháng 12 năm 2008, CPI đã tăng ở
mức 2 con số, trên 20% so với cùng kỳ năm trước. Khi lạm phát tạm thời
được kiểm soát nhưng nguy cơ bùng phát trở lại vẫn còn rình rập thì nền
kinh tế lại chịu tác động suy thoái của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới.
Các biện pháp chính sách thắt chặt trước đây nhằm kiềm chế lạm phát được
thực hiện nới lỏng một cách thận trọng nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế
7
7
03
chống lại tác động của cuộc khủng hoảng nhưng vẫn đảm bảo lạm phát ở
mức một con số. Có thể nói với tăng trưởng GDP 5,32 % và chỉ số lạm phát
Tốc độ tăng tuy không lớn nhưng kết quả tăng trưởng cả năm ở mức 6.78%
vẫn vượt qua mục tiêu do Chính phủ đặt ra từ đầu năm. Nếu xét riêng cá thể
tăng trưởng GDP, đây có thể coi là kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên nếu đặt
tăng trưởng GDP trong bức tranh chung với các chỉ tiêu khác của nền kinh
tế, nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ này vẫn còn tồn tại nhiều điểm hạn
chế. Năm 2009, giai đoạn hậu khủng hoảng cùng với tác động của gói hỗ trợ
lãi suất đã đưa GDP tăng trưởng trước một bước so với đà tăng trở lại của
CPI. Trong năm 2010, trái ngược với kỳ vọng phục hồi tiếp nối cuối năm
2009, Việt Nam đã thể hiện chất lượng tăng trưởng thấp, tốc độ tăng trưởng
chậm và thiếu nền tảng vững chắc. Tốc độ CPI năm 2010 quay trở lại biến
động cùng chiều với tốc độ tăng GDP, tuy nhiên độ biến thiên về cuối năm
của CPI ngày càng gia tăng với kết quả vượt mục tiêu đề ra từ đầu năm của
Chính phủ.
Tính đến cuối năm 2010, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 1.160
USD, tăng so với năm 2009. Trong năm 2010, cơ cấu đóng góp vào sự tăng
9
9
03
trưởng GDP nói chung của cả nước có sự dịch chuyển so với năm 2009,
trong đó ngành công nghiệp vươn lên làm mũi nhọn với mức tăng trưởng
mạnh, tiếp đó là ngành dịch vụ và nông – lâm nghiệp. Giá trị sản xuất công
nghiệp năm 2010 tính theo giá so sánh năm 1994 ước tính đạt 794,2 nghìn tỷ
đồng, tăng 14% so với năm 2009, chủ yếu từ khối các doanh nghiệp nước
ngoài (17,2 %) và khối các doanh nghiệp ngoài nhà nước (14,7 %). Khu vực
kinh tế nhà nước vẫn là khối doanh nghiệp có sức tăng trưởng kém nhất với
tỷ lệ tăng 7,4 %, thấp hơn gần một nửa so với mặt bằng chung toàn cả nước.
Sự phục hồi của khu vực dịch vụ đứng thứ hai với mức tăng 7,52 % và cuối
cùng là khu vuwacj nông – lâm nghiệp, thủy sản với mức tăng 2,78 %. Khu
vực nông nghiệp trong năm vừa qua gặp rất nhiều khó khăn do thiên tai (hạn
hán và nắng nóng trong nửa đầu năm, lũ lụt kéo dài vào cuối năm ở các tỉnh
2009. Điều này cho thấy người tiêu dùng đã ít mua sắm hơn. Chỉ số lạm
phát của TNS Worldpanel cho thấy tần suất mua sắm đã giảm từng năm kể
từ năm 2006, trung bình 8,5 lượt/tháng. Đến năm 2010 đã giảm xuống dưới
8 lượt/tháng, bị ảnh hưởng với sự giảm mạnh tần suất mua sắm các sản phẩm
sữa và
các mặt hàng cá nhân, trong khi việc mua sắm hàng tạp hoá lại ổn định
từ năm 2007. Một số lớn, 63% người tiêu dùng, chống lại lạm phát bằng
cách mua ít hơn. Tiếp theo là hơn 1/3 người tiêu dùng trì hoãn
mua những vật dụng lớn hơn. 20% đề cập đến việc chuyển sang một nhãn
hiệu rẻ hơn. Trên 90% dân thành thị đã thắt lưng buộc bụng hoặc tiết kiệm
hơn trong vài tháng qua để chống lại lạm phát. Chi tiêu vào các mặt
hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) của các tầng lớp thu nhập thấp hơn đã giảm
16% năm 2007, chỉ tăng nhẹ 4% từ năm 2007 đến 2008. Với các hộ
gia đình sung túc hơn, tăng trưởng trong chi tiêu đã tiếp tục với tỷ lệ chưa
từng có là 50% trong cả hai năm 2007 và 2008. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
tháng 12 tăng 1,98% so với tháng trước, là mức cao nhất trong cả năm 2010.
Như vậy, mức độ lạm phát cả năm 2010 là 11,75%, vượt qua mức chỉ tiêu về
12
12
03
lạm phát đặt ra cho năm vừa qua. Đáng lưu ý là diễn biến chỉ số
giá tiêu dùng năm 2010 là mức độ vênh lớn, tức tháng cao nhất so với tháng
thấp nhất lệch nhau hơn 1,5%. Vì bị ảnh hưởng bởi mức lạm phát quá cao
nên trong một vài năm gần đây, số lượng hàng hóa, dịch vụ mà các hộ gia
đình chi tiêu đã giảm đi đáng kể.
2) Đầu tư của doanh nghiệp:
Đầu tư phát triển của nền kinh tế tăng mạnh, nhiều công trình hạ tầng
và cơ sở sản xuất được đưa vào sử dụng, tạo tiền đề quan trọng để phát triển
đất nước trong các năm tiếp theo. Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội năm 2007
đạt 464,5 nghìn tỷ đồng, bằng 40,6% GDP, tăng 16,4% so
45 tỷ USD. Trong những năm gần đây, số lượng dự án 100% vốn nước ngoài
cũng bắt đầu tăng lên. Những dự án này hiện nay chiếm 76% tổng số dự án
được cấp giấy phép và 55% vốn đăng ký, trong khi các doanh nghiệp liên
doanh chỉ chiếm phần còn lại. Đồng thời, có sáu dự án đầu tư nước ngoài
được cấp phép ở Việt Nam theo hình thức BOT (cung cấp nước và nhà máy
điện), với tổng vốn đăng ký là 1,37 tỉ USD. Khu vực đầu tư nước ngoài đã
có sự phát triển vượt bậc, dần dần khẳng định vị thế của mình là một bộ phận
năng động của nền kinh tế, đóng góp quan trọng vào việc tăng cường năng
lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong những năm gần đây, khu
vực đầu tư nước ngoài chiếm ¼ tổng vốn đầu tư của cả nước, 43,6% sản
lượng công nghiệp (2004), 57,2% tổng kim ngạch xuất khẩu (2005) và
15,9% GDP của Việt Nam.
Tuy vậy, tỉ lệ giải ngân vốn của các dự án đầu tư nước ngoài vẫn còn
chậm và chưa ổn định từ mức 7,1 tỉ USD trong giai đoạn 1991-1995 lên mức
13,5 tỉ USD giai đoạn 1996-2000 và 14,3 tỉ USD từ 2001 đến 2005 nhưng
trong năm 2006
và 2007, vốn được giải ngân giảm còn 8,7 tỉ USD. tổng vốn FDI
đăng năm 2008 đã đạt
hơn 64 tỷ USD, gấp gần ba lần năm 2007. Đây là mức thu hút vốn FDI kỷ
lục từ trước đến nay của Việt Nam. Điều này càng có ý nghĩa trong trong
bối cảnh kinh tế toàn cầu khủng hoảng. Cụ thể, trong tháng 12/2008, cả nước
đã cấp mới thêm 112 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký đạt 1,17 tỷ USD.
Tính chung từ đầu năm, đã có tổng số 1.171 dự án FDI được cấp phép
đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 60,2 tỷ USD, tăng
222% so với năm 2007. Bên cạnh đó, trong năm 2008, có 311 dự án đăng ký
15
15
03
tăng vốn, tổng số vốn tăng thêm đạt 3,74 tỷ USD. Trong các lĩnh
vực đầu tư, vốn FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây
so với giai đoạn trước trong khi hiệu quả sử dụng vốn vay không cao, ICOR
tăng gấp 3 lần so với mức hiệu quả của các nước đang phát triển.
Chi tiêu hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ trong thời gian qua quá
lớn và vượt xa so với chỉ tiêu đề ra ban đầu. Trong năm 2010, sự sụp đổ của
tập đoàn Vinashin với con số nợ lên tới hơn 4 tỷ USD đã đóng góp tới gần
2% tổng nợ xấu của Chính phủ.
4) Cán cân thương mại:
Qua số liệu thống kê cho thấy từ năm 1999 đến năm 2002, cán cân
thương mại Việt Nam ở trạng thái cân bằng hoặc thặng dư, nhưng từ năm
2003 đến nay cán cân thương mại liên tục ở trạng thái thâm hụt và giá trị
thâm hụt ngày càng lớn. Nếu trong năm 2003, thâm hụt thương mại vào
khoảng 2,581 tỷ USD thì đến năm 2008 mức thâm hụt lên đến 12,782 tỷ
USD, gấp 5 lần so với năm 2003. Cán cân thương mại
quốc tế của Việt Nam tụt xuống mức khủng khoảng vào cuối năm 2007 vì
chính sách đạt tốc độ tăng GDP cao và sự yếu kém của doanh nghiệp nhà
nước. Thiếu hụt năm 2007 là 14 tỷ USD, bằng 19,8% GDP tăng gấp ba so
với ba năm trước đó. Số liệu 9 tháng đầu năm 2008 cho thấy nhập siêu đã
giảm từ 3 tỷ USD một tháng vào tháng đầu năm xuống dưới 1 tỷ USD. Điều
này là hệ quả của việc áp dụng các mệnh lệnh hành chính nhằm ngăn chặn
đầu tư và cắt tín dụng cho các tập đoàn quốc doanh, nhằm hãm phanh lạm
phát. Dù với chuyển đổi chính sách giữa dòng nhằm ngăn chặn nhập siêu
như vậy, nhập siêu cũng đã ở mức 15 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm, và cuối
cùng vẫn đạt mức 18 tỷ USD vào cuối năm 2008, bằng 20% GDP: một tỷ lệ
17
17
03
cực kỳ cao. Qua thống kê ta cũng thấy là nhập siêu có nguyên nhân chính từ
các nhà sản xuất Việt Nam chạy theo tốc độ tăng GDP, chứ không phải từ
các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vì các nhà đầu tư nước ngoài có
xuất siêu ngay cả trong 9 tháng đầu năm 2008. Năm 2009 mức thâm hụt là
song phương, đa phương như với các nước ASEAN, Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO),
19
19
03
Trong nhiều yếu tố thì nguyên nhân chính gây nên tình trạng thâm hụt
thương mại kéo dài là do mất cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Khả
năng sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu mà chủ yếu là các nguyên
nhiên vật liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu gần như không đáp ứng được
nhu cầu thị trường. Xuất khẩu phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu đã làm
hạn chế nhiều giải pháp thúc đẩy xuất khẩu, như chính sách tỷ giá, chính
sách tự do thương mại,…
Kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng cao trong những năm qua
nhưng có một số tồn tại trong nền kinh tế đã làm giảm tốc độ tăng trưởng
trong dài hạn. Trong giai đoạn hiện nay tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ
thuộc nhiều vào sự phục hồi của kinh tế thế giới và những giải pháp của
chính phủ.
Sau khi cải cách kinh tế, Việt Nam đã đạt được những bước tăng
trưởng vượt bậc, kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng lên một cách nhanh
chóng. Việt Nam cũng thu hút được nhiều quan tâm của các nhà đầu tư nước
ngoài, được thể hiện qua dòng vốn FDI và FPI chảy vào ngày càng lớn.
Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Sự kiện này
đánh dấu một bước ngoặt lớn trên con đường phát triển kinh tế của Việt
Nam. Gia nhập WTO không chỉ giúp kinh tế Việt Nam có điều kiện hội
nhập, được hưởng những chính sách thương mại có lợi mà đây còn là một
động lực để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy vậy, gia nhập
WTO cũng là một thách thức thực sự khi những yếu kém kém trong nền kinh
tế vẫn chưa được khắc phục. Chất lượng tăng trưởng thấp, cơ sở hạ tầng yếu
kém, thể chế pháp luật còn nhiều hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa
cao. Đây chính là những hạn chế mà Việt Nam phải vượt qua để duy trì được