BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
*****************************
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN CHI NHÁNH QUẬN CẦU GIẤY
SINH VIÊN : NGUYỄN THỊ QUỲNH
MÃ SINH VIÊN : A09994
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG 1
HÀ NỘI - 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
ngân hàng thương mại 17
1.2.1. Khái niệm 17
1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng 19
1.2.3. Phân loại tín dụng ngân hàng 20
1.3. Chất lượng hoạt động tín dụng 22
1.3.1. Quan điểm chất lượng tín dụng 22
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng 23
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng 27
1.4.1. Các nhân tố khách quan (nhân tố bên ngoài quan hệ tín dụng) 27
1.4.2. Các nhân tố chủ quan (nhân tố bên trong quan hệ tín dụng) 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH
QUẬN CẦU GIẤY 34
2.1. Tổng quan về ngân hàng nông ngiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Cầu
Giấy 34
3
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 34
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh
Cầu Giấy 35
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn chi nhánh quận Cầu Giấy trong các năm qua 39
2.2.1. Công tác huy động vốn 39
2.2.2. Đối với hoạt động tín dụng 42
2.2.3. Đối với hoạt động dịch vụ 44
2.2.4. Các kết quả tài chính 45
2.3. Thực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Cầu Giấy
48
3.2.7. Sử dụng có hiệu quả công tác đòn bẩy kinh tế trong xã hội 72
3.2.8. Xây dựng và sử dụng hợp lý quỹ dự phòng tổn thất tín dụng 73
3.2.9. Tăng cường hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát 74
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
tại ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn chi nhánh quận Cầu Giấy 74
3.3.1. Đối với Chính phủ và ngân hàng Nhà nước Việt Nam 75
3.3.1.1. Hoàn thiện tạo lập môi trường pháp lý đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng
của ngân hàng 75
3.3.1.2. Từng bước hoàn thiện chính sách của Nhà nước cho phù hợp với yêu cầu trình
độ phát triển của nền kinh tế, để chỉ đạo hoạt động tín dụng của các ngân hàng………68
3.3.2. Đối với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 78
KẾT LUẬN 80 5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Hoạt động huy động vốn của NHN
o
& PTNT chi nhánh Cầu Giấy 40
Bảng 2: Hoạt động tín dụng của Chi nhánh NHN
o
& PTNT Cầu Giấy 43
Bảng 3: Kết quả tài chính của chi nhánh NHNo & PTNT Cầu Giấy 46
Bảng 4: Cơ cấu dư nợ theo thời gian 48
Bảng 5: Hiệu suất sử dụng vốn 50
Bảng 6 : Vòng quay vốn tín dụng 51
L/C Phương thức thư tín dụng
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHVN Ngân hàng Việt Nam
NHTW Ngân hàng Trung Ương
NHNo & PTNT Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn
KQKD Kết quả kinh doanh
SXKD Sản xuất kinh doanh
XLRR Xử lý rủi ro
SWIFT Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân
hàng
7
TCTD Tổ chức tín dụng
TCKT Tổ chức kinh tế
TCXH Tổ chức xã hội
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TTQT Thanh toán quốc tế
WTO Tổ chức thương mại thế giới
VNĐ Việt Nam đồng
động phức tạp, tiềm ẩn những rủi ro cho các Ngân hàng thương mại.
Chính vì nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, trong quá trình thực tập tại
Ngân hàng Nông nghiệp & phát
triển nông thôn Việt Nam chi nhánh quận Cầu Giấy – Hà
Nội, em đã lựa chọn đề tài: "Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại chi
nhánh NHNo & PTNT chi nhánh quận Cầu Giấy" làm đề tài luận văn.
2. Mục đích nghiên cứu
- Khái quát và hệ thống hoá các lý thuyết về chất lượng tín dụng tại ngân hàng
thương mại.
- Nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng chất lượng công tác tín dụng tại chi
nhánh NH
No & PTNT quận Cầu Giấy nhằm rút ra những ưu, nhược điểm của hoạt
động này, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế; từ đó đưa ra một số giải pháp và
kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của chi nhánh cũng như phát huy những
ưu điểm sẵn có
9
3. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh
quận Cầu Giấy trong giai đoạn 2006-2008.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lê Nin.
- Phương pháp điều tra, thống kê, so sánh, phân tích các số liệu thực tiễn nhằm
lượng hoá vấn đề.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của đề tài được chia thành 3 chương:
Chương
1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh NHNo & PTNT chi nhánh
quận Cầu Giấy
iện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Mọi người được tự do hóa kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền
sở hữu c
ó thể hỗn hợp, đan kết với nhau, hoàn thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các
doanh nghiệp, không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh
tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật.
Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hóa phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần
thiết và đòi hỏi sự ra đời của những l
oại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Để
11
tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng
khác, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế, đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của
các tổ chức và cá nhân thì việc đưa ra khái niệm ngân hàng là hết sức cần thiết.
Theo nghị định của Chính phủ số 49/2000 NĐ – CP ngày 12/09/2000 định nghĩa:
“Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hện toàn bộ hoạt động ngâ
n hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hện các
mục tiêu kinh tế Nhà nước”. Như vậy ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh
tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh
tế để cho vay đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác.
Ngày nay có rất nhiều định chế tài chính phi ngân hàng bao gồm các công ty kinh
doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ v
à công ty bảo hiểm
hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng
phải đối phó với các đối thủ cạnh tranh là các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với những
chính sách không ngừng thay đổi của họ bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ,
hướng về lĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm,
đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ khác. Từ đó, có thể xem ngân hàng là
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng qua
n trọng nhất của ngân
hàng thương mại. Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng
trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình
tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất.
1.1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân,
thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi
của họ để thanh toán tiền hà
ng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách
hàng, tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Với chức năng này, ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương
tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán,
thẻ tín dụng,…Tùy theo nhu cầu, khác
h hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh
toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền
để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một
phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết
kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo tha
nh toán an toàn. Chức năng này mô
hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu
chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Đồng thời việc thanh toán không dùng tiền
mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi
phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản,…
13
Ngân hàng thương mại thu phí thanh toán để làm tăng thu nhập cho ngân hàng.
Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong
tài khoản tiền gửi của khách hàng.
1.1.2.3. Chức năng tạo “bút tệ” hay tiền ghi sổ trong nền kinh tế
động huy động vốn đã cung cấp cho nền kinh tế những nguồn vốn cần thiết, góp phần
tăng GDP cho toàn nền kinh tế.
14
1.1.3.2. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường
Xu hướng toàn cầu hóa thương mại đang lan dần ra toàn bộ các nền kinh tế trên thế
giới. Thị trường ngày càng được mở rộng về quy mô, nâng cao về yêu cầu, chính vì vậy
những nhà cung cấp sản phẩm muốn tồn tại và phát triển không những thỏa mãn được yêu
cầu của thị trường mà còn phải đua nhau vượt lên những đối thủ cạnh tranh khác. Với yêu
cầu đó buộc doa
nh nghiệp phải đầu tư vào con người, vào công cụ lao động (máy móc
thiết bị), vào công nghệ và cả mạng lưới phân phối. Với mục tiêu nặng nề cần phải theo
đuổi như thế, ngân hàng đóng vai trò là một trợ thủ giúp đỡ cho doanh nghiệp về kế hoạch
kinh doanh hiệu quả và về nguồn vốn, giúp cho doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thị
trường.
1.1.
3.3. Ngân hàng thương mại là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân
hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước có 6 công cụ chính để tác động đến nền kinh tế thông qua các
ngân hàng thương mại đó là tái cấp vốn, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ
thị trường mở, lãi suất tín dụng, hạn mức tín dụng. Bằng 6 công cụ này Ngân hàng Nhà
nước điều chỉnh và kiểm soát các ngân hàng thương mại, tác động đến l
uồng tiền ra, vào
của các ngân hàng thương mại, tức là tác động đến cung tiền trong xã hội. Ảnh hưởng đến
hai vấn đề quan trọng của nền kinh tế đó là Tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát. Ngân
hàng thương mại góp phần đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng bước duy trì sự ổn định giá
trị đồng tiền và tỉ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ m
ô, môi trường đầu tư và sản xuất
kinh doanh. Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự
tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục.
Về cho vay: Ngân hàng cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:
+ Cho vay ngắn hạn: nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và đời sống.
+ Cho vay trung và dài hạn: để thực hiện các
dự án hoặc đầu tư phát triển sản xuất
kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
Về bảo lãnh: Ngân hàng bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện
hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và khả
năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh đối với một khách
hàng không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngâ
n hàng thương mại.
Về chiết khấu: Ngân hàng chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá của ngân
hàng khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu, các giấy tờ
có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức tín đụng khác.
Về cho thuê tài chính: Ngân hàng cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty
cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài
16
Tóm
lại, trong các hoạt động cấp tín dụng thì cho vay là hoạt động quan trọng và
chiếm tỷ trọng lớn nhất (theo Nghị định số 49/2000/NĐ – CP ngày 12/9/2000 của Chính
phủ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại).
1.1.4.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp t
hông qua ngân hàng,
ngân hàng thương mại mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước. Để thực hiện
thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua ngân hàng Nhà nước, ngân hàng
thương mại phải mở tài khoản tại ngân hàng Nhà nước nơi ngân hàng Nhà nước đặt trụ sở
chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định. Ngoài ra, chi nhánh
của ngân hàng thương mại được mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng Nhà nước
(1) Cho vay vốn
(Borrower)
Chủ thể đi
vay
Chủ thể cho vay
(Lender)
Như vậy, quan hệ tín dụng là bao gồm h
ai mối quan hệ cơ bản cho vay và hoàn trả.
Mối quan hệ tín dụng chỉ được hoàn tất và kết thúc khi người vay đã hoàn trả cả gốc và
lãi cho người cho vay. Lượng giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng.
(2) Hoàn trả vốn và lãi
Trong quan hệ tín dụng với các Tổ chức kinh tế, các cá nhân, ngân hàng vừa đóng
vai trò là người cho vay vừa đóng vai trò là
người đi vay. Với tư cách là người đi vay,
ngân hàng nhận tiền gửi của các doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền
gửi, trái phiếu để hy động vốn trong xã hội. Với tư cách là người cho vay, ngân hàng cung
cấp tín dụng cho các tổ chức, các doanh nghiệp và các cá nhân trong nền kinh tế.
Cũng như các quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung:
Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử
dụng.
Sự chuyển nhượng nà
y mang tính chất tạm thời hay có thời hạn.
Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
tín dụng có thể tăng cường kiểm tra, giám sát với khách hàng vay vốn, từ đó góp phần
nâng cao hiệu quả kinh tế chung của nền ki
nh tế quốc dân. Hoạt động tín dụng là hoạt
động chính đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng, song nó cũng mang lại rủi ro cao
nhất. Song song với nỗ lực huy động vốn, các ngân hàng thương mại còn phải cố gắng tối
đa trong việc cấp tín dụng cho cá nhân và tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. Nó đòi hỏi
ngân hàng phải kiểm soát khả năng trả nợ của khách hà
ng. Phán đoán được khả năng này
19
nhằm bảo vệ tiền gửi của khách hàng và hiệu quả hoạt động cũng như lợi nhuận của ngân
hàng. Đối với hầu hết các ngân hàng khoản mục cho vay thường chiếm từ 1/2 đến 2/3
nguồn thu của ngân hàng. Mặc dù các ngân hàng phải đối mặt với nhiều rủi ro và chi phí
cao khi kinh doanh loại hình hoạt động này, song các ngân hàng đều tập trung khai thác,
mở rộng hoạt động này một mặt giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó
làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho ngâ
n hàng; mặt khác, tạo điều kiện đa
dạng hóa các hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho
ngân hàng.
1.2.2.3. Đối với khách hàng
Thông qua hoạt động tín dụng, tín dụng ngân hàng đã góp phần tiết kiệm chi phí
lưu thông, ổn định thị trường. Chi phí giao dịch là một trong những yếu tố quyết định sự
thành công hay không của khách hàng. Với mỗi khoản giao dịch, có các khoản chi phí cố
định (chiếm tỷ lệ chủ yếu) và các chi phí khác phụ thuộc từng loại giao dịch
, do vậy với
khối lượng giao dịch càng nhỏ thì chi phí giao dịch bình quân cho mỗi đồng vay, cho vay
càng lớn. Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng chuyên môn hóa trong lĩnh vực
này nên nó sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí giao dịch cho khách hàng (có thể giao dịch với
lượng tiền lớn).
Với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tín dụng dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, thời hạn tối đa có thể lên
tới 20 – 30 năm, cá biệt lên tới 40 năm. Đây là loại hình tín dụng được cung cấp để đáp
ứng nhu cầu dài hạn: cây nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô, xây dựng xí
nghiệp mới… Hình thức tín dụng này có thời gian dài nên có độ rủi ro cao nhất
.
1.2.3.2. Phân loại theo mục đích sử dụng vốn
Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng nhà
ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ.
Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải chi phí sản xuất như: phân bón,
thuốc trừ sâu, giống cây trồng…
Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cho vay các ngân hàng, các công ty tài
chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng…
Cho vay tiêu dùng: Là cho vay để đáp ứng các nhu cầu m
ua sắm, tiêu dùng, đầu tư
cơ sở hạ tầng như trạm xá, điện, nước sạch…phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt trong một
khu vực dân cư. Cho vay tiêu dùng là một loại hình cấp tín dụng khá mới mẻ ở Việt Nam,
tuy nhiên loại hình này đang được diễn ra khá phổ biến. Cho vay tiêu dùng đã góp phần
nâng cao và cải thiện đời sống của nhân dân.
1.2.3.3. Phân loại theo xuất xứ tín dụng
Cho v
ay trực tiếp: Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp. Ngân hàng
trực tiếp cung cấp vốn cho khách hàng và khách hàng trực tiếp trả nợ cho ngân hàng.
21
Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay thông qua tổ chức trung gian. Ngân
hàng cho vay thông qua các tổ đội, hội, nhóm sản xuất, hội Nông dân, hội Cựu chiến
binh, hội Phụ nữ… Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm
đầu vào của quá trình sản xuất. Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường
có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán cách xa ngân hàng. Phương thức cho vay này
22
dụng càng cao và ngược lại”. Bởi vậy, chất lượng hoạt động của ngân hàng không những
phụ thuộc vào bản thân của ngân hàng mà còn phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của
doanh nghiệp.
Ta có thể xem xét chất lượng tín dụng dưới nhiều giác độ:
Đối với khách hàng: Tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử dụng của
khách hàng với lãi suất kỳ hạn nợ hợp lý, thủ tục đơn giản, thu hút được nhiều khác
h hàng
nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng
hoá, góp phần giải quyết việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc
đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt các quan hệ giữa tăng trưởng tín
dụng với tăng trưởng kinh tế.
Đối với Ngân hàng thương mại: Phạm v
i, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp
với thực lực của bản thân Ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với
nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp
cho vay của một tổ chức tín dụng. Để phản á
nh về chất lượng tín dụng thì có rất nhiều chỉ
tiêu đánh giá, nhưng nói chung người ta thường quan tâm tới tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ,
tỷ lệ và cơ cấu tài sản đảm bảo. Ngoài ra, để đánh giá định tính về chất lượng tín dụng,
người ta còn quan tâm đến cơ cấu dư nợ các khoản vay ngắn – dài hạn trong tương quan
cơ cấu nguồn vốn của tổ chức tín dụng, dư nợ cho vay các lĩnh vực rủi ro cao tại thời
điểm đó như bất động sản, cổ phiếu
Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa chất lượng tín dụng và
o làm một
chỉ tiêu trong nhóm chỉ tiêu về chất lượng hoạt động khi xếp hạng các tổ chức tín dụng
tốt nhờ vậy ngân hàng có điều kiện cung cấp vốn tín dụng đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh
doanh của khách hàng. Các doanh nghiệp đều cố gắng rút ngắn thời gian thực hiện một
chu kì sản xuất nhằm nhanh chóng thu hồi lại vốn nhờ vậy vòng quay vốn sẽ tăng. Thực
tế đã chứng minh rằng những doanh nghiệp có quy m
ô lớn thường có ưu thế trong cạnh
tranh vì vậy các doanh nghiệp phải vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô sản xuất và
đổi mới công nghệ, có như vậy mới đứng vững và chiến thắng trong cạnh tranh.
Thứ ba, chất lượng tín dụng đi đến cùng phải góp phần làm tăng trưởng và phát
triển nền kinh tế xã hội. Chất lượng tí
n dụng góp phần kìm chế lạm phát, ổn định tiền tệ.
Khi mà số lượng hàng hóa và tiền tệ trong lưu thông mất cân bằng (tiền > hàng) sẽ gây ra
lạm phát. Để chống đỡ với lạm phát, Chính phủ có thể áp dụng nhiều biện pháp nhưng
một trong những biện pháp có hiệu quả nhất là sử dụng công cụ tín dụng ngân hàng mà cụ
thể là lãi suất tín dụng. Để hạn chế việc chi tiền cho nền ki
nh tế và giảm lượng tiền mặt
trong lưu thông, ngân hàng có thể nâng lãi suất tiền gửi và từ đó tăng lãi suất cho vay để
thu hút tiền thừa trong nền kinh tế về. Vì lãi suất cao thì các doanh nghiệp hạn chế vay
tiền, ngân hàng có thể giảm chi cho nền kinh tế và như vậy sẽ hạn chế được lạm phát. Có
24
thể nói tín dụng là công cụ rất hiệu quả trong việc bơm tiền vào lưu thông cũng như hút
tiền từ lưu thông về. Nó là công cụ điều hòa lưu thông tiền tệ. Bên cạnh đó, nếu như tăng
trưởng và phát triển kinh tế không đồng đều, lợi ích chỉ đến với một bộ phận cục bộ mà
gây tổn thất cho đại bộ phận còn lại thì tổng lợi ích tạo ra là âm
, kìm hãm sự phát triển
của toàn xã hội, không thể tăng trưởng bền vững và lâu dài.
1.3.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
a. Hiệu suất sử dụng vốn.
"Đi vay để cho vay" là hoạt động chính của Ngân hàng. Trong hoạt động đi vay,
Ngân hàng là người phải trả các khoản lãi cho các nguồn vốn huy động được đồng thời