1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong tất cả các loại hình DN thuộc mọi thành phần kinh tế thì thông tin về
doanh thu, chi phí của DN trong kỳ hoạt động luôn được mọi đối tượng sử dụng
thông tin quan tâm đặc biệt là đối với các nhà quản trị DN. Đây là những thông tin
then chốt, quan trọng để giữ vững, điều chỉnh hoạt động kinh doanh đi đúng hướng,
đúng với kế hoạch DN đã đề ra.
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây môi trường vận tải nói chung, vận tải
hành khách bằng đường bộ nói riêng đã có sự thay đổi rất lớn. Cơ cấu các thành
phần kinh tế tham gia vào hoạt động vận tải đã thay đổi rất nhiều, đặc biệt có sự
phát triển và đi lên nhanh chóng của thành phần kinh tế vận tải tư nhân, điều này đã
tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các DN, phấn đấu vì một chất
lượng dịch vụ vận chuyển hành khách ngày một tốt hơn.
Mặc dù nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua tiếp tục chịu ảnh hưởng, tác
động bởi những biến động và sự bất ổn của kinh tế thế giới, tuy nhiên, hoạt động
kinh doanh của các DN vận tải hành khách đường bộ vẫn tiếp tục phát triển, lượng
hành khách vận chuyển và luân chuyển trong năm vẫn gia tăng và gia tăng cao nhất
trong các loại hình vận tải hành khách. Sở dĩ như vậy là do tính ưu việt của vận tải
hành khách bằng đường bộ so với các phương thức vận tải hành khách khác qua
một số các tiêu chí như tốc độ; tính tiện nghi; tính đều đặn; độ an toàn, tin cậy; tính
linh hoạt và giá cước niêm yết.
Tuy nhiên để hoạt động kinh doanh dịch vụ vận chuyển có hiệu quả hơn nữa,
đòi hỏi các DN vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định phải sử dụng đồng
bộ các công cụ quản lý kinh tế, tài chính , trong đó kế toán được xem là công cụ
quản lý quan trọng nhất.
Hiện nay, tại các DN vận tải hành khách theo tuyến cố định liên tỉnh bằng ô tô,
công tác kế toán nói chung mới chỉ tập trung vào thực hiện những công việc theo
yêu cầu của KTTC, phần nhiều mang tính chất đối phó với các cơ quan quản lý Nhà
nước. Kế toán tại các DN vận tải hành khách này chưa thực sự là công cụ cho các
2
thuyết và thực tiễn) đã được công bố mang tính điển hình cao – thể hiện phạm vi
ảnh hưởng của các nghiên cứu trong các diễn đàn hoặc khi nhắc đến vấn đề kế toán
doanh thu, chi phí, các học giả, các nhà nghiên cứu khoa học sẽ nhắc đến, đối với
các nghiên cứu nhỏ, lẻ khác tác giả không đề cập tới ở đây.
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đề cập tới các khía cạnh về doanh thu,
chi phí, kế toán doanh thu, chi phí
Các công trình nghiên cứu thành công trước đây mà tác giả biết tới có nghiên
cứu về các khía cạnh của nội dung doanh thu, chi phí, về kế toán doanh thu, chi phí
trong các DN có thể kể đến là:
- Nghiên cứu “Hoàn thiện kế toán doanh thu bán hàng tại các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả
Đoàn Vân Anh (2005). Nghiên cứu của tác giả Đoàn Vân Anh đã phân tích, hệ
thống hóa và đưa ra những nhận thức mới, những vấn đề lý luận cơ bản về doanh
thu, thời điểm ghi nhận doanh thu và kế toán doanh thu theo chuẩn mực kế toán
quốc tế. Nghiên cứu đã khái quát hóa mô hình kế toán doanh thu bán hàng của một
số quốc gia phát triển trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Nghiên cứu đã khảo sát thực tế về kế toán doanh thu bán hàng ở một số DN xuất
nhập khẩu và DN thương mại, đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu
bán hàng trên cả 2 góc độ lý luận và thực tiễn.
- Nghiên cứu“Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí, doanh thu, kết quả kinh
doanh trong các doanh nghiệp sản xuất gốm sứ xây dựng” của tác giả Nghiêm Thị
Thà (2007), với nghiên cứu này, luận án của tác giả đã trình bày rõ lý luận về tổ
chức kế toán chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh của các DN sản xuất. Nghiên
cứu đã trình bày rõ các nguyên tắc, cơ sở, phương pháp ghi nhận và trình bày các
thông tin về chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh của các DN trên báo cáo tài
chính. Luận án đã đề xuất các giải pháp về hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí,
doanh thu, kết quả kinh doanh khá toàn diện theo 2 phương diện kế toán tài chính
và kế toán quản trị như: hoàn thiện về môi trường pháp lý liên quan đến tổ chức kế
4
“Tổ chức công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả hoạt động kinh doanh dịch
vụ vận tải đường biển”, với công trình nghiên cứu này, tác giả làm rõ đặc thù hoạt
động kinh doanh vận tải biển và những ảnh hưởng đến cơ chế quản lý kinh tế tài
chính và công tác kế toán của các doanh nghiệp trong ngành, làm sáng tỏ nội dung
tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí trên góc độ lý luận và thực tiễn cho các
DN vận tải hàng hóa bằng đường biển trên các mặt như: tổ chức vận dụng chứng từ,
tổ chức vận dụng tài khoản kế toán, tổ chức vận dụng hệ thống sổ sách kế toán để
ghi chép, tổ chức vận dụng các báo cáo kế toán trong việc cung cấp thông tin kế
toán trên cả hai góc độ lý luận và thực tiễn. Tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn
thiện tổ chức kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh dịch vụ vận tải biển,
đề xuất xây dựng mô hình KTQT chi phí, doanh thu cho các DN vận tải biển.
- Tác giả Hồ Văn Nhàn (2010) với luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu về đề tài
“Tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành dịch vụ vận chuyển hành
khách trong các doanh nghiệp taxi”, tác giả đã hệ thống hóa trên góc độ lý luận và
thực tiễn tổ chức KTQT chi phí, giá thành dịch vụ vận chuyển, vận chuyển hành
khách bằng taxi. Qua việc phân tích những ưu, nhược điểm của công tác tổ chức
KTQT chi phi, giá thành vận tải khách tại các DN taxi tại Việt Nam, tác giả đã đưa
những đóng góp của mình để hoàn thiện tổ chức KTQT chi phí và giá thành dịch vụ
vận chuyển hành khách trong các DN taxi tại Việt Nam.
- Tác giả Vũ Thị Kim Anh (2012) với đề tài luận án tiến sỹ kinh tế “Hoàn thiện
kế toán quản trị chi phí vận tải tại các doanh nghiệp vận tải đường sắt Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”. Tác giả đã trình bày khái quát những vấn
đề lý luận cơ bản về KTQT chi phí vận tải trong điều kiện hội nhập, làm rõ đặc thù
về hoạt động kinh doanh, tổ chức quản lý kinh doanh vận tải đường sắt ảnh hưởng
tới cơ chế quản lý phân cấp tài chính và hạch toán nói chung, KTQT chi phí vận tải
nói riêng của các DN này. Tác giả cũng đã đề xuất các giải pháp để hoàn thiện
KTQT chi phí vận tải đường sắt trong điều kiện hội nhập phù hợp và mang tính
thực tế cao, gắn liền với đặc điểm hoạt động kinh doanh của các DN này.
6
- Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan (2012) với đề tài luận án tiến sỹ kinh doanh và
minh họa rất cụ thể. Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển
một khung khái niệm, tiêu chuẩn về kế toán doanh thu và các tác giả đã đề xuất năm
nguyên tắc cơ bản về lý luận kế toán doanh thu và sự vận dụng 5 nguyên tắc này
trong thực tế hoạt động kế toán doanh thu
- Nghiên cứu “Accounting for revenues: a framework for standard setting”
(2011) của nhóm tác giả Yuri Biondi, Robert J. Bloomfield, Jonathan C. Glover,
Karim Jamal, James A. Ohson, Stephen H.Penman and EikoTsujiyama đã đề xuất
một phương pháp hạch toán doanh thu như một sự thay thế cho các đề xuất bởi
FASB và IASB. Khuôn mẫu của các tác giả hướng tới mục đích cụ thể hóa, mang
lại các giải pháp kế toán thực tế. Có 3 vấn đề đã được xem xét và giải quyết trong
nghiên cứu này đó là:
- Doanh thu được ghi nhận khi khách hàng thanh toán hoặc cam kết sẽ thanh toán.
- Sự ghi nhận doanh thu và sự ghi nhận lợi nhuận được kết hợp với nhau, với sự
ghi nhận lợi nhuận được xác định trên cơ sở các tiêu chí khách quan về giải pháp
cho sự rủi ro theo hợp đồng và do đó phải thận trọng.
- Hai cách tiếp cận khác được nghiên cứu và đề nghị đó là: Phương pháp hoàn
thành hợp đồng (lợi nhuận chỉ được ghi nhận khi chấm dứt hợp đồng) và phương
pháp tỷ suất lợi nhuận (trong đó tỷ suất lợi nhuận được áp dụng cho doanh thu ghi
nhận xuyên suốt hợp đồng). Cách tiếp cận thứ hai yêu cầu giải pháp cho sự không
chắc chắn (bất trắc).
- Bài báo “Cost accounting Practices in the service industry” của tác giả Erika
Waters đăng trên báo điện tử The Houston Chronicle đã đề cập tới vấn đề về sự hữu
ích của kế toán chi phí trong ngành công nghiệp dịch vụ, tác giả đã đưa ra các
phương pháp khác nhau về kế toán chi phí trong ngành công nghiệp dịch vụ như: kế
toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC), kế toán chi phí theo công việc, kế toán chi
phí theo quá trình, đồng thời cũng phân tích, làm rõ những lợi ích cũng như bất lợi
của các DN dịch vụ trong việc sử dụng kế toán chi phí.
8
- Bài báo “Turnaround accomplished: Correcting cost accounting in service
organizations” của tác giả Stephan M Pinsly đăng trên báo điện tử Abfjournal cho
doanh thu, chi phí trong các DN kinh doanh dịch vụ vận tải hành khách theo tuyến
cố định liên tỉnh bằng ô tô tại Việt Nam với 2 phương diện KTTC và KTQT trên cơ
sở nghiên cứu các lý luận cơ bản về kế toán doanh thu, chi phí trong DN vận tải,
phân tích thực trạng kế toán doanh thu, chi phí vận tải trong các DN vận tải tại Việt
Nam và các kinh nghiệm về kế toán doanh thu, chi phí của một số nền kinh tế trên
thế giới, đặc biệt là các nền kinh tế có đặc điểm tương đồng với nền kinh tế Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Về lý luận:
+ Nghiên cứu, hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận cơ bản về kế toán doanh thu,
chi phí dịch vụ vận tải dưới góc độ KTTC và KTQT, những ảnh hưởng của phương
thức quản lý kinh doanh khoán tới công tác kế toán doanh thu, chi phí dịch vụ vận
tải.
+ Tìm hiểu kế toán doanh thu, chi phí của một số quốc gia trên thế giới, từ đó
rút ra bài học kinh nghiệm và tìm phương hướng, giải pháp vận dụng vào lĩnh vực
kinh doanh dịch vụ vận chuyển cho các DN vận tải tại Việt Nam.
- Về thực tiễn:
+ Luận án khảo sát, đánh giá thực trạng về đặc điểm doanh thu, chi phí, thực
trạng kế toán doanh thu, chi phí tại các DN Việt Nam kinh doanh dịch vụ vận tải
hành khách theo tuyến cố định liên tỉnh bằng ô tô, đánh giá thực tế phương thức
giao khoán doanh thu, chi phí, quy chế giao khoán tại các DN này với những ưu
điểm và tồn tại cần phải khắc phục
+ Trên cơ sở những vấn đề lý luận đã nghiên cứu và thực trạng khảo sát, luận
án đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí
tại các DN kinh doanh dịch vụ vận tải hành khách theo tuyến cố định liên tỉnh bằng
ô tô tại Việt Nam để cung cấp thông tin hữu ích nhất cho các đối tượng sử dụng,
kiến nghị các điều kiện cần thiết để thực hiện các giải pháp được đề xuất.
10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là nội dung kế toán doanh thu, chi
Nội đại diện cho nhóm DN khoán gọn các chi phí vận hành phương tiện theo định
mức đã xây dựng
+ Công ty cổ phần xe khách Thái Bình đại diện cho nhóm các DN khoán gọn
các chi phí vận hành phương tiện theo tỷ lệ với doanh thu kế hoạch (doanh thu định
mức).
Luận án chỉ nghiên cứu kế toán doanh thu, chi phí tại các DN của Việt Nam
kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định liên tỉnh bằng ô tô tại Việt Nam
mà phương tiện vận tải là thuộc sở hữu của DN, DN giao phương tiện cho các lái xe
vận hành. Các trường hợp kinh doanh vận tải tuyến cố định khác mà các DN kinh
doanh là DN có yếu tố nước ngoài hay phương tiện vận tải kinh doanh không thuộc
sở hữu của DN như liên kết ăn chia – phương tiện vận tải của cá nhân, thuê xe kinh
doanh… không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án.
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu, khảo sát thực tế, thu thập
thông tin, số liệu về kế toán doanh thu, chi phí tại các DN Việt Nam kinh doanh
dịch vụ vận tải hành khách theo tuyến cố định liên tỉnh bằng ô tô trên địa bàn miền
Bắc Việt Nam trong 3 năm 2011, 2012 và 2013.
- Phạm vi nội dung nghiên cứu:
+ Phạm vi về doanh thu: Luận án nghiên cứu về doanh thu dịch vụ vận tải hành
khách theo tuyến cố định liên tỉnh bằng ô tô tại các DN vận tải ô tô của Việt Nam
trên địa bàn miền Bắc Việt Nam.
+ Phạm vi về chi phí: Luận án nghiên cứu về chi phí kinh doanh vận tải hành
khách theo tuyến cố định liên tỉnh bằng ô tô tại các DN vận tải ô tô của Việt Nam
trên địa bàn miền Bắc Việt Nam phát sinh trong kỳ kế toán và tham gia vào quá
trình xác định kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán của DN cụ thể là:
CPNVLTT; CPNCTT; CPSXC; chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN. Luận án
không nghiên cứu về chi phí vốn.
+ Phạm vi nghiên cứu chuyên sâu về kế toán: Nội dung nghiên cứu doanh thu
và chi phí kinh doanh vận tải của luận án được đề cập trên góc độ KTTC và một số
12
vấn đề về KTQT doanh thu, chi phí vận tải bao gồm: mô hình tổ chức KTQT doanh
phí nhiên liệu, lương lái, phụ xe , sổ chi tiết, sổ tổng hợp doanh thu, chi phí dịch
vụ vận tải hành khách theo tuyến cố định bằng ô tô, bảng kế hoạch vận tải, bảng
tính giá thành, bảng tổng hợp doanh thu dịch vụ vận tải khách bằng ô tô theo tuyến
cố định.
- Nguồn thu thập dữ liệu thứ cấp:
Niên giám thống kê (2000 – 2012), các báo báo tổng kết của Bộ Giao thông vận
tải, Tổng cục vận tải đường bộ Việt Nam, Bộ Tài chính, các loại sách, báo, tạp chí
như: Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán, tạp chí kế toán, tạp chí kế toán – kiểm
toán, tạp chí nghiên cứu khoa học kiểm toán, tạp chí kinh tế và phát triển, các
nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài. Các trang web như www.mof.gov.vn
(trang thông tin điện tử của Bộ tài chính), www.mt.gov.vn (trang thông tin điện tử
của Bộ giao thông vận tải) www.gso.gov.vn (trang thông tin điện tử của Tổng cục
thống kê), www.gdt.gov.vn (trang thông tin điện tử của Tổng cục Thuế), google
các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động kinh doanh, hoạt động
kế toán dịch vụ vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định như Nghị định,
Quyết đinh, thông tư, thông tư liên tịch của Chính phủ và các cơ quan chức năng
có liên quan.
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Phỏng vấn bán cấu trúc (ghi chép, ghi âm) các chuyên gia, lãnh đạo các DN
vận tải khách bằng ô tô theo tuyến cố định liên tỉnh, các kế toán trưởng, kế toán
viên, nhân viên các phòng ban có liên quan, lái xe, phụ xe, nhân viên giám sát hành
trình tại các DN này.
+ Quan sát, điều tra bằng phiếu khảo sát, tác giả đã khảo sát tại 116 DN Việt
Nam kinh doanh vận tải khách bằng ô tô theo tuyến cố định liên tỉnh tại Việt Nam,
đối tượng nhận phiếu khảo sát là các giám đốc công ty, kế toán trưởng, nhân viên kế
toán. Tổng số phiếu phát ra là 116 phiếu, thu về 106 phiếu đạt tỷ lệ 91,38%.
+ Tìm kiếm, tra cứu bằng từ khóa, kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công
trình khoa học đã công bố.
14
6. Những đóng góp của luận án.
kinh doanh dịch vụ vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định liên tỉnh tại
Việt Nam.
Chương 3: Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí trong các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định liên tỉnh tại
Việt Nam.
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ VẬN TẢI
16
1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI VỀ DOANH THU, CHI PHÍ TRONG
DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ VẬN TẢI
1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh thu trong doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ vận tải
1.1.1.1 Khái niệm doanh thu trong DN kinh doanh dịch vụ vận tải
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm và cách hiểu về doanh thu nói chung,
doanh thu dịch vụ vận tải nói riêng, dưới đây luận án đưa ra một số khái niệm về
doanh thu nói chung:
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS18 – Doanh thu thì “ Doanh thu là tổng
giá trị các lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động
sản xuất kinh doanh thông thường của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu
nhưng không bao gồm khoản góp vốn của các chủ sở hữu vốn.” [15, tr 144]
Theo hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB) định nghĩa
“doanh thu là dòng vào hoặc sự gia tăng khác của tài sản hay là việc thanh toán nợ
phải trả (hoặc phối hợp cả hai) xuất phát từ việc phân phối hay sản xuất hàng hóa,
cung cấp dịch vụ hay các hoạt động khác cấu thành các hoạt động chủ yếu hoặc
trung tâm của DN” [39, tr 226]
Theo học viện đào tạo các kế toán viên công cộng của Mỹ (AICPA) thì “
Doanh thu là tổng số gia tăng tài sản hay là sự giảm gộp các khoản nợ được công
nhận và được định lượng theo đúng các nguyên tắc kế toán được chấp thuận, là kết
quả của các loại hoạt động có lợi nhuận của DN và có thể làm thay đổi vốn chủ sở
được thông qua các hoạt động bán sản phẩm hay hàng hóa mua vào hay thực hiện
cung cấp dịch vụ theo thỏa thuận với khách hàng trong một hoặc nhiều kỳ kế toán.
- Làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không bao gồm khoản góp vốn của cổ
đông hoặc chủ sở hữu.
1.1.1.2 Phân loại doanh thu trong các DN kinh doanh dịch vụ vận tải
Đối với DN vận tải thì hoạt động cung cấp dịch vụ vận tải – thu tiền là hoạt
động mang lại lợi nhuận chính cho DN, là nguồn bổ sung lớn nhất vào nguồn vốn
kinh doanh và các loại quỹ của DN, để từ đó DN có thể tái sản xuất, mở rộng quy
mô. Theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán quốc tế được thừa nhận rộng rãi thì
doanh thu dịch vụ nói chung, doanh thu dịch vụ vận tải nói riêng thì doanh thu vận
tải được ghi nhận khi dịch vụ vận chuyển được hoàn thành, khách hàng đã sử dụng
dịch vụ và thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
18
Tùy theo nhu cầu sử dụng thông tin kế toán về doanh thu dịch vụ vận tải, kế
toán DN vận tải có thể dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại doanh thu,
những tiêu thức cơ bản để phân loại doanh thu dịch vụ vận tải có thể kể đến là:
- Theo phương thức thanh toán khi cung cấp dịch vụ vận chuyển
+ Doanh thu dịch vụ vận tải thu tiền ngay: Là doanh thu dịch vụ vận tải được
thu ngay bằng tiền tại thời điểm DN cung cấp dịch vụ.
+ Doanh thu dịch vụ vận tải chưa thu tiền: Là doanh thu dịch vụ vận tải trong
trường hợp DN thực hiện cung cấp dịch vụ vận tải theo hợp đồng trong nhiều kỳ,
thỏa thuận về thanh toán là khi kết thúc, hoàn thành hợp đồng vận tải hoặc là khoản
doanh thu DN giao khoán cho các phương tiện vận tải theo phương thức giao
khoán.
Theo cách phân loại này kế toán DN vận tải có thể xây dựng được kế hoạch
phân tích doanh thu, xác định được tỷ lệ doanh thu đã thu được trên tổng doanh thu
vận tải đạt được trong kỳ, xác định tỷ lệ DN bị chiếm dụng vốn hợp pháp và thời
điểm, và khả năng cần phải thu hồi được công nợ để đảm bảo khả năng thanh toán
cho DN.
- Theo đặc điểm của khách hàng mua dịch vụ vận chuyển bên trong hay bên
1.1.2.1 Khái niệm chi phí trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm, cách nhìn nhận, tiếp cận khác nhau về chi
phí, theo ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB – International Accounting
Standards Board) thì “Chi phí là sự giảm đi của lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán
dưới hình thức dòng ra (hay sự suy giảm) của tài sản hoặc sự tăng lên của nợ phải
trả dẫn đến sự giảm xuống của vốn chủ sở hữu mà không phải do phân phối vốn
cho chủ sở hữu.” [39, tr 230]
Còn theo hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB – Financial
Accounting Standards Board) thì cho rằng “Chi phí là dòng ra (hoặc tự sử dụng)
của tài sản hay sự phát sinh nợ phải trả (hoặc phối hợp cả hai) từ việc bán hay sản
xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ hay thực hiện các hoạt động khác cấu thành hoạt
động chủ yếu hoặc trung tâm của DN.” [39, tr 230]
Theo tác giả Ray h. Garrison thì “Chi phí được hiểu như là một khoản hao phí
bỏ ra để thu được của cải hoặc một dịch vụ phục vụ nào đó. Khoản hao phí này có
thể được tính bằng tiền chi ra, tài sản chuyển nhượng, dịch vụ hoàn thành…” [61,
tr 21]
Theo các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận rộng rãi (GAAP) thì quan
niệm “Chi phí là giá trị tiền tệ của các loại hàng hóa và dịch vụ mà DN đã sử dụng
20
trong kỳ hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu được lợi ích kinh tế trong hiện
tại và tương lai” [81, tr 34]
Theo tác giả Jeffrey Slater cho rằng “Chi phí là các khoản chi phát sinh trong
quá trình hoạt động kinh doanh của một DN khi tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ
nhằm tạo ra doanh thu cho DN. Khi chi phí hoạt động kinh doanh tăng thì có sự
giảm sút tương ứng của vốn chủ sở hữu” [86, tr 25]
Theo chuẩn mực kế toán Trung Quốc, chuẩn mực số 1 – Chuẩn mực chung,
chương 7, điều 33 có trình bày khái niệm “Chi phí là tổng giá trị các dòng ra về lợi
ích kinh tế phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh
nghiệp mà kết quả là dẫn tới sự giảm xuống của vốn chủ sở hữu, ngoại trừ các
khoản liên quan đến khoản đóng góp của các thành viên góp vốn” [91, tr 5]
tải trong kỳ đó. Ví như các khoản chi tiêu của DN vận tải trong kỳ vào việc mua
sắm phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, mua sắm vật tư, ắc quy …dự trữ trong
kho phục vụ cho nhiều kỳ hoạt động kinh doanh vận tải của DN và đúng là không
đồng nghĩa với các khoản chi phí vận tải ghi nhận trong kỳ đó.
Chi phí vận tải luôn là đối tượng đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý,
điều hành của DN vận tải. Việc hiểu một cách đúng đắn và đầy đủ về chi phí vận tải
luôn là một nội dung quan trọng trong công tác kế toán và hoạch định kế hoạch kinh
doanh, quyết định quá trình tập hợp, xử lý và cung cấp thông tin kế toán về chi phí
kinh doanh vận tải cho các đối tượng sử dụng trong và ngoài DN.
1.1.2.2 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải
Đối với nhà quản lý DN thì, chi phí vận tải là mối quan tâm hàng đầu vì các
khoản chi phí này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận. Chi phí vận tải có thể được
phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, mỗi tiêu thức có mục đích, yêu cầu và tác
dụng riêng giúp nhà quản lý của DN vận tải có thể nhận diện và thấu hiểu cách phân
loại của từng loại chi phí để có thể quản lý, kiểm soát tốt chi phí, từ đó đưa ra
những quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh
của DN.
Trong hoạt động kinh doanh vận tải do các chi phí vận tải phát sinh rất đa dạng
và chịu ảnh hưởng nhiều theo tính đặc thù của ngành vận tải (vận tải đường bộ, vận
tải đường thủy (sông, biển), vận tải hàng không, vận tải đường sắt, vận tải đường
ống), tuy nhiên về cơ bản có thể phân loại toàn bộ chi phí kinh doanh dịch vụ vận
tải theo các tiêu thức sau:
Phân loại chi phí vận tải theo yếu tố chi phí
22
Theo cách phân loại này thì nếu chi phí dịch vụ vận tải phát sinh có cùng nội
dung kinh tế thì được sắp xếp vào một yếu tố bất kể là nó phát sinh ở bộ phận hay
hoạt động nào, dùng để cung cấp dịch vụ vận tải nào.
- Chi phí nhiên liệu: bao gồm giá trị các loại nhiên liệu mua từ bên ngoài dùng
cho hoạt động kinh doanh vận tải của DN.
- Chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ: bao gồm giá trị của tất cả vật liệu, công cụ
chia thành
• Chi phí sản xuất sản phẩm vận tải:
Là toàn bộ các chi phí có liên quan đến việc sản xuất ra sản phẩm - dịch vụ vận
tải phục vụ khách hàng trong kỳ kế toán bao gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí nhiên liệu, vật liệu được sử
dụng trực tiếp để thực hiện hoạt động vận chuyển trong kỳ.
- Chi phí nhân công trực tiếp là các chi phí trả cho nhân viên điều hành trực
tiếp phương tiện vận tải (ô tô, tầu thủy, tàu biển, máy bay hay tàu hỏa ) như tiền
lương, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương
- Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí sử dụng cho hoạt động vận tải
ngoài chi phí nhiên liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp như chi phí quản lý
tổ, đội xe, khấu hao tài sản cố định, lệ phí giao thông, phí bảo hiểm xe, các chi phí
khác bằng tiền
• Chi phí ngoài sản xuất:
Là các chi phí liên quan đến việc quản lý và thực hiện việc cung ứng dịch vụ
vận tải phát sinh ngoài phạm vi sản xuất dịch vụ vận tải bao gồm:
- Chi phí bán hàng: là các chi phí liên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ vận
tải tới các khách hàng bao gồm: chi phí tiền lương, các khoản trích theo lương của
nhân viên bộ phận bán vé, nguyên liệu vật liệu phục vụ bán vé, chi phí khấu hao
TSCĐ phục vụ hoạt động bán vé, đại lý phí, chi phí dịch vụ, chi phí khác
- Chi phí quản lý DN: bao gồm tất cả các chi phí liên quan đến công việc hành
chính, quản trị ở phạm vị toàn DN vận tải bao gồm chi phí tiền lương, các khoản
trích theo lương của nhân viên quản lý DN, nguyên liệu vật liệu phục vụ cho quản
lý DN, chi phí khấu hao TSCĐ, trụ sở, thiết bị văn phòng phục vụ hoạt động quản
lý, quản trị DN, chi phí dịch vụ, chi phí khác
Cách phân loại theo tiêu thức này cho phép kiểm soát chi phí theo địa điểm
24
phát sinh chi phí, là cơ sở để kế toán tài chính tập hợp chi phí, phục vụ cho việc tính
giá thành dịch vụ vận tải, xây dựng kế hoạch giá thành và phân tích tình hình thực
hiện kế hoạch giá thành, phục vụ cho công tác lập báo cáo tài chính.
- Phương pháp hồi quy
+ Phương pháp biểu đồ phân tán
Khi một khoản chi phí được xếp loại là chi phí hỗn hợp hoặc khi nhà phân tích
không có ý kiến rõ ràng về tính chất của khoản chi phí đó thì nhà phân tích có thể
vẽ biểu đồ biểu diễn các mức độ chi phí phát sinh ở các mức độ hoạt động khác
nhau dựa trên cơ sở số liệu thống kê ở các kỳ kinh doanh đã qua. Nhà phân tích sẽ
rút ra một quy luật về mức độ phát sinh chi phí là một đường thẳng phù hợp nhất
với các điểm đã quan sát.
Phương pháp này tương đối đơn giản và rất có ý nghĩa trong việc cung cấp ý
niệm ban đầu về tính biến đổi, cố định hay hỗn hợp của chi phí. Tuy nhiên hạn chế
của phương pháp này là phụ thuộc và sự quyết định chủ quan của nhà phân tích.
+ Phương pháp cực đai – cực tiểu
Phương pháp cực đại – cực tiểu ước tính chi phí hỗn hợp bằng cách sử dụng số
liệu thống kê ở mức độ hoạt động cao nhất và thấp nhất trong một loạt các số liệu
thống kê về mức độ hoạt động và chi phí của DN. Khi đó chi phí biến đổi /1 đơn vị
mức độ hoạt động và chi phí cố định trong một kỳ được xác định theo công thức.
a =
Y
max
-Y
min
X
max
-X
min
b= Y
max
- aX
max
= Y